1. Thế nào là nguyên lý hay nguyên tắc (principle) 

Nguyên lý hay nguyên tắc (principle) là những ý tưởng hoặc lý thuyết ban đầu, quan trọng, được coi là xuất phát điểm cho việc xây dựng những lý thuyết khác. Ví dụ, nguyên lý: thương mại làm cho mọi người đều có lợi được dùng làm xuất phát điểm cho việc xây dựng lý thuyết về lợi thế so sánh và thương mại quốc tế.

Trong triết học nguyên lý hay nguyên tắc (principle) được hiểu như sau: nguyên lý là những vấn đề xuất phát, những tư tưởng chủ yếu của một học thuyết hay lý luận mà tính chân lý của chúng là hiển nhiên, không hề hay không cần phải chứng tỏ nhưng không xích mích với thực tiễn và nhận thức về ngành mà học thuyết hay lý luận đó phản ánh .

Chủ nghĩa duy vật cho rằng, nguyên lý được kiến thiết xây dựng trong tư duy nhờ vào quy trình khái quát những hiệu quả hoạt động giải trí thực tiễn - nhận thức vĩnh viễn của con người. Nguyên lý là cơ sở lý luận của mọi học thuyết hay lý luận. Nó triển khai công dụng lý giải và đồng thời cũng là công cụ ý thức để nhận thức và tái tạo hiệu suất cao quốc tế.

 

2. Phân loại nguyên lý 

Nếu dựa vào mức độ phổ quát nguyên lý được chia thành nguyên lý khoa học và nguyên lý triết học.

- Nguyên lý khoa học: còn được gọi là công lý, tiên đề, định đề, quy luật nền tảng, là cơ sở của những kim chỉ nan khoa học, và được coi là đúng trong khoanh vùng phạm vi mà kim chỉ nan khoa học đó phản ánh.

- Nguyên lý triết học: là cơ sở của những học thuyết triết học. Với tính cách là một học thuyết triết học, phép biện chứng duy vật được kiến thiết xây dựng dựa trên những nguyên lý cơ bản như: nguyên lý về sự thống nhất quốc tế trong tính vật chất (chủ nghĩa duy vật), nguyên lý về mối liên hệ phổ cập và nguyên lý về sự tăng trưởng (phép biện chứng).

 

3. Một số nguyên lý cơ bản

Nguyên lý của phép biện chứng duy vật: 

- Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật là hai nguyên lý cơ bản và đóng vai trò vô cùng quan trong phép biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin khi xem xét, lý giải sự vật, hiện tượng.

- Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh hiện thực khách quan. Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất. Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật bao gồm:

+ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới. Nguyên lý này biểu hiện thông qua 06 cặp phạm trù cơ bản.

+ Nguyên lý về sự phát triển: là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật).

Nguyên lý bất định: 

Một nguyên lý quan trọng của cơ học lượng tử đó là nguyên lý bất định, nguyên lý này được nhà vật lý lý thuyết người Đức Werner Heisenberg phát triển. Nguyên lý này nêu rõ: "Ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác.”

Nguyên lý chuồng bồ câu:

Nguyên lý chuồng bồ câu, hay có tên gọi khác nguyên lý ngẫu nhiên, nguyên lý hộp hay nguyên lý ngăn kéo được Peter Dirichlet, nhà toán học người Đức đưa ra vào năm 1834. Nguyên lý chuồng bồ câu chỉ ra rằng: Nếu có 4 con chim bồ câu cùng bay vào 3 chiếc chuồng thì sẽ có ít nhất 1 chiếc chuồng có 2 con chim bồ câu.

 Nguyên lý tảng băng trôi: 

Nguyên lý tảng băng trôi, lý thuyết tảng băng hoặc lý thuyết thiếu sót là một kỹ thuật viết văn được nhà văn người Mỹ Ernest Hemingway đặt ra.

Nguyên lý này chỉ ra rằng chỉ phần nổi của tảng băng được thể hiện trong tiểu thuyết - người đọc sẽ chỉ thấy những gì ở trên mặt nước - nhưng kiến thức mà bạn có về nhân vật của mình, những thứ không bao giờ lọt vào câu chuyện, đóng vai trò là phần lớn của tảng băng.

Ví dụ: Hemingway tin rằng một nhà văn có thể mô tả một hành động, chẳng hạn như hành động câu cá của Nick Adams trong truyện “Big Two-Hearted River”, trong khi truyền tải một thông điệp khác với hành động đó: Nick Adams tập trung vào câu cá để không phải nghĩ về sự khủng hoảng mà trải nghiệm chiến tranh của mình đem lại.

 

4. Mối quan hệ giữa nguyên lý và nguyên tắc

Nguyên tắc là hệ thống các quan điểm, tư tưởng xuyên suốt toàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các tổ chức và cá nhân phải tuân theo. Nguyên tắc là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo.

Nguyên lý là những luận điểm xuất phát tư tưởng chủ đạo của một học thuyết lý luận mà tính chân lý của nó là hiển nhiên, tức không thể hay không cần phải chứng minh nhưng không mâu thuẫn với thực tiễn và nhận thức về lĩnh vực mà học thuyết đó phản ánh. Nguyên lý được khái quát từ kết quả hoạt động thực tiễn - nhận thức lâu dài của con người. Nó vừa là cơ sở lý luận của học thuyết, vừa là công cụ tinh thần để nhận thức lý giải - tiên đoán và cải tạo thế giới.

Giữa nguyên lý và nguyên tắc có mối quan hệ như sau:

- Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý thể hiện qua các nguyên tắc tương ứng. Nghĩa là cơ sở lý luận của các nguyên tắc là các nguyên lý: cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện và nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung nguyên lý về sự phát triển.

- Nguyên tắc là hệ thống những tư tưởng, quan điểm tồn tại xuyên suốt trong một hoặc toàn bộ giai đoạn nhất định và bằng cách thức, sự ràng buộc nào đó sẽ khiến mỗi cá nhân hay tổ chức phải tuân theo.

Ví dụ: nguyên tắc không được đi học muộn, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tập trung dân chủ...

Nguyên tắc thì có thể do nhiều chủ thể đặt ra, áp dụng thực hiện đối với từng đối tượng trong phạm vi khác nhau và được thiết lập ở mọi lúc mọi nơi.

Ví dụ: Nguyên tắc có thể do giáo viên chủ nhiệm đặt ra và áp dụng cho các học sinh trong lớp học, trong thời gian giáo viên này làm chủ nhiệm; Nguyên tắc có thể do bản thân chúng ta đặt ra và cũng áp dụng thực hiện cho chính bản thân mình; Ngoài ra, đối với một công ty thì nguyên tắc có thể do ban lãnh đạo (cụ thể là Giám đốc công ty) đưa ra và nhân viên trong công ty là những người có nghĩa vụ phải tuân theo.

Như vậy: Nguyên tắc là hệ thống tư tưởng xuyên suốt toàn bộ quá trình hoặc hệ thống nhất định, giúp cho việc định hướng và giải quyết được hiệu quả, đúng đắn. Việc xây dựng nguyên tắc tốt và chuẩn sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý và định hướng giải quyết công việc.

Từ nguyên lý người ta xây dựng các nguyên tắc, những yêu cầu nền tảng đòi hỏi chủ thể phải tuân thủ đúng trình tự nhằm đạt mục đích đề ra một cách tối ưu. Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý thể hiện qua các nguyên tắc tương ứng. Nghĩa là cơ sở lý luận của các nguyên tắc là các nguyên lý: cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện và nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung nguyên lý về sự phát triển.

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Nguyên lý hay nguyên tắc (principle) là gì? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!