1. Nguyên nhân và điều kiện khách quan 

Việt Nam là nước đang phát triển, trình độ quản lý còn lạc hậu, mức sống thấp, pháp luật chưa hoàn thiện

Thực tế cho thấy, tham nhũng thƣờng xuất hiện ở những nƣớc chậm phát triển hoặc đang phát triển. Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nƣớc đại diện cho xã hội quản lý mọi mặt của đời sống. Nếu Nhà nƣớc quản lý xã hội lỏng lẻo sẽ tạo ra các kẽ hở cho tệ tham nhũng nảy sinh và phát triển. Qua gần 20 năm đổi mới, mặc dù chúng ta đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể nhƣng trình độ quản lý còn lạc hậu, mức sống thấp. Vì vậy, nạn tham nhũng có điều kiện xảy ra phổ biến trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp.

 

2. Quá trình chuyển đổi cơ chế, tồn tại và đan xen giữa cái mới và cái cũ

 Quá trình chuyển đổi đòi hỏi phải có thời gian, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện. Cơ chế cũ bị thay thế nhƣng nếp nghĩ, thói quen thì vẫn còn. Trong khi đó, cơ chế mới hình thành còn sơ khai ngay trong nhận thực nên quá trình thực hiện không tránh khỏi lúng túng. Các chuẩn mực đánh giá không rõ ràng; vì thế không ít đối tƣợng lợi dụng danh nghĩa đổi mới, năng động, sáng tạo để chiếm đoạt tài sản của Nhà nƣớc, lợi dụng chủ trƣơng xã hội hoá một số lĩnh vực để "thƣơng mại hoá", thu lợi ích tối đa cho cá nhân hoặc một nhóm ngƣời, hoặc có thể là một cơ quan, đơn vị hay một địa phƣơng. Tình trạng không rõ ràng trong cơ chế quản lý trên một số lĩnh vực là điều kiện cho nạn tham nhũng phát triển. Không ít cá nhân, tập thể có lúc đƣợc biểu dương nhƣ điển hình của sự năng động, dám nghĩ dám làm, thậm chí đƣợc tôn vinh, nhƣng sau một thời gian lại bị phát hiện và xử lý vì có hành vi tiêu cực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, lợi dụng sơ hở của cơ chế quản lý để tham nhũng, vụ lợi cá nhân.

Ảnh hưởng của mặt trái của cơ chế thị trường

 Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đã áp dụng việc quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và đã đạt đƣợc những thành tích cơ bản, đáng tự hào. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, cơ chế thị trƣờng đã bộc lộ nhiều nhƣợc điểm. Đó là sự cạnh tranh khốc liệt, sự chi phối của lợi ích vật chất làm cho ngƣời sản xuất, kinh doanh có xu hƣớng tối đa hoá lợi nhuận bằng mọi giá, tìm cách hối lộ công chức nhà nƣớc để tạo lợi thế trong kinh doanh. Trong xã hội, sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt, có những giá trị xã hội bị đảo lộn, việc kiếm thật nhiều tiền đôi lúc đã trở thành sức ép, làm xuất hiện tâm lý mọi việc đều có thể mua bán. Những nghiên cứu gần đây cho thấy tác hại to lớn của những yếu tố tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trƣờng đã đến mức báo động. Chính điều này đã góp phần làm gia tăng tệ tham nhũng thông qua việc thúc đẩy các hành vi phạm pháp của cán bộ, công chức, ganh đua làm giàu phi pháp, đục khoét tiền của Nhà nƣớc và nhân dân.

Do ảnh hưởng của tập quán văn hoá

Tập quán văn hoá của ngƣời á Đông nói chung và ngƣời Việt Nam nói riêng có rất nhiều điều kiện khiến cho tệ tham nhũng, mà biểu hiện tập trung nhất là nạn quà cáp hối lộ, có cơ sở tồn tại và phát triển. Chuyện biếu quà đƣợc coi là một nét văn hoá của ngƣời Việt Nam nhƣng hiện nay nhiều nét văn hoá của ngƣời Việt nhƣ “miếng trầu là đầu câu chuyện”, “ăn quả nhớ ngƣời trồng cây”... đã và đang bị lợi dụng để thực hiện hành vi tham nhũng.

 

3. Nguyên nhân và điều kiện chủ quan

Hệ thống chính trị chậm được đổi mới, hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu quả

Đây là một trong những nguyên nhân gây nên sự yếu kém và bất cập của quá trình đổi mới đất nƣớc, trong đó có tham nhũng. Một quốc gia quản lý tốt phải có bộ máy nhà nƣớc tốt. Ở nƣớc ta, sự quản lý, lãnh đạo, điều hành đất nƣớc là sự thống nhất và phối hợp giữa vai trò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm quản lý của Nhà nƣớc và sự tham gia tích cực, có hiệu quả của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng. Các yếu tố trong hệ thống chính trị phải thực hiện đúng vai trò của mình. Tuy nhiên, sự chƣa rõ ràng trong phân cấp, phân công vai trò, chức năng, hoạt động giữa các yếu tố trong hệ thống chính trị vẫn đã phần nào làm giảm hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội. Một số nơi, tổ chức đảng đã ít nhiều can thiệp vào hoạt động quản lý, cơ quan nhà nƣớc còn ỷ lại, thụ động chƣa làm hết trách nhiệm của mình. Một số tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể quần chúng lúng túng, không xác định đƣợc vai trò của mình cũng nhƣ chƣơng trình hoạt động cho phù hợp. Về nguyên tắc, Đảng lãnh đạo thông qua chủ trương, đường lối và công tác cán bộ, Nhà nƣớc quản lý bằng chính sách, pháp luật, còn các tổ chức, đoàn thể phải động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội thông qua tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục động viên. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn còn tồn tại hiện tƣợng chồng chéo lẫn lộn về tổ chức và hoạt động của các yếu tố trong hệ thống chính trị nƣớc ta.

Phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên bị suy thoái; công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên còn yếu kém

Trước tác động của mặt trái của cơ chế thị trƣờng, nhiều cán bộ, đảng viên do không tự giác rèn luyện, tu dưỡng đã có những hành vi phạm pháp, không giữ được đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính”. Có thể thấy rõ sự đi xuống về đạo đức, phẩm chất chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên qua đánh giá trong các văn kiện của Đảng. Tháng 6-1996, Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ:

“Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đọa về đạo đức lối sống”.

Tháng 6-1997, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII nhận định:

“Một bộ phận cán bộ thoái hoá, biến chất về đạo đức, lối sống, lợi dụng chức quyền để tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính, lãng phí của công, quan liêu, ức hiếp dân, gia trƣởng, độc đoán”, “đáng chú ý là những biểu hiện tiêu cực này có chiều hƣớng phát triển làm xói mòn bản chất cách mạng của đội ngũ cán bộ, công chức, làm suy giảm uy tín của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ”.

Tháng 1-1999, Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII nhận định:

“Sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hƣớng phát triển nghiêm trọng hơn”…

Ngày 21-8-2006, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X nhận định:

“Công tác cán bộ nói chung và việc quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức nói riêng còn nhiều yếu kém. Một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán bộ, công chức suy thoái về tƣ tƣởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống. Không ít cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp, còn thiếu gƣơng mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức; chƣa đi đầu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm”.

 

4. Chính sách pháp luật chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán

 Sự nghiệp đổi mới mà trọng tâm là đổi mới quản lý kinh tế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra yêu cầu hết sức quan trọng là phải xây dựng một hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật đầy đủ, từng bƣớc hoàn thiện. Trong khi đó, mặc dù chúng ta đã có rất nhiều cố gắng nhƣng việc xây dựng thể chế pháp luật vẫn không đáp ứng đƣợc nhu cầu, chưa phản ánh và điều chỉnh kịp thời những vấn đề đang đặt ra trong quá trình phát triển. Cơ chế, chính sách, pháp luật trong thời kỳ đổi mới chƣa hoàn thiện, thiếu cụ thể, có nhiều sơ hở và thậm chí có những vấn đề thiếu nhất quán. Việc phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phƣơng, phân biệt quản lý nhà nƣớc và quản lý sản xuất, kinh doanh có phần chƣa rõ. Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc diễn ra chậm chạp và thiếu sự kiểm soát chặt chẽ. Cơ chế quản lý tài sản công, quản lý vốn và tài sản trong doanh nghiệp nhà nƣớc còn lỏng lẻo.

Cải cách hành chính vẫn còn chậm và lúng túng, cơ chế “xin - cho” trong hoạt động công vụ còn phổ biến; thủ tục hành chính phiền hà, nặng nề, bất hợp lý

 Cơ chế “xin - cho” đƣợc nhìn nhận là một trong những nguy cơ của tệ tham nhũng, hối lộ mà cho đến nay vẫn chƣa có cách khắc phục. Chế độ công vụ của cán bộ, công chức mới bắt đầu đƣợc quan tâm xây dựng, hiện tại còn thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát có hiệu quả. Chế độ, trách nhiệm của cán bộ, công chức chƣa rõ ràng, cụ thể, đặc biệt là trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo đối với những sai phạm, tiêu cực xảy ra trong cơ quan, đơn vị mình. Chế độ tiền lƣơng đối với đội ngũ cán bộ, công chức còn bất hợp lý, chậm đƣợc cải cách. Lƣơng không đủ đảm bảo nhu cầu của cuộc sống cho cán bộ, công chức dẫn đến tình trạng vì cuộc sống của bản thân và gia đình, cán bộ, công chức thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực khi có điều kiện, cơ hội. Công tác quản lý đất đai còn nhiều yếu kém, việc đăng ký quyền sử dụng đất, cấp đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển giao quyền sử dụng đất, v.v., còn nhiều kẽ hở, tạo điều kiện cho tiêu cực, sai phạm nảy sinh. Cơ chế quản lý tài chính công, mua sắm công, quản lý đầu tƣ xây dựng cơ bản phải trải qua nhiều khâu, nhiều “cửa”. Trình tự, thủ tục này tƣởng nhƣ chặt chẽ nhƣng trên thực tế, cơ chế kiểm soát lại rất lỏng lẻo, tạo điều kiện cho tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, thất thoát. Việc đổi mới phƣơng thức thanh toán còn chậm làm cho việc kiểm soát và phát hiện đƣợc các giao dịch phi pháp gặp nhiều khó khăn. Việc kiểm soát và minh bạch hoá thu nhập và tài sản của cán bộ, công chức còn gặp nhiều khó khăn và chƣa đạt kết quả mong muốn. Chế định kê khai tài sản đối với cán bộ, công chức đã đƣợc áp dụng nhƣng chỉ mang tính hình thức, một phần là do chế độ quản lý tiền tệ và thanh toán qua ngân hàng còn chƣa hiệu quả; mặt khác, việc quản lý tài sản, đặc biệt là nhà đất ở nƣớc ta, vì nhiều lý do, hầu nhƣ không thực hiện đƣợc. Bên cạnh đó, việc không có cơ quan chủ trì, tổng hợp, kiểm tra, xử lý, và không có các quy định về trách nhiệm của cán bộ, công chức trong vấn đề kê khai tài sản đã dẫn đến sự thực thi không triệt để các quy định về kê khai tài sản, mặc dù đây là một chủ trƣơng đúng đắn, tích cực đƣợc xã hội đồng tình, ủng hộ.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong một số trường hợp chưa chặt chẽ, sâu sát, thường xuyên; xử lý chưa nghiêm đối với hành vi tham nhũng

Những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật về đấu tranh chống tham nhũng tuy nhiên việc tổ chức thực hiện trên thực tế còn nhiều hạn chế. Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng và cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp chƣa đề cao trách nhiệm của ngƣời đứng đầu, chƣa có kế hoạch, giải pháp để tích cực phòng, chống tham nhũng trong cơ quan, ngành mình. Công tác ngăn ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng tuy đã đạt đƣợc một số kết quả nhất định nhƣng chƣa đáp ứng yêu cầu. Một số vụ án tham nhũng lớn đã đƣợc phát hiện và đƣa ra xét xử nghiêm minh, tạo nên sự tin tƣởng của nhân dân. Tuy nhiên, dƣ luận vẫn băn khoăn đối với việc xử lý một số vụ án. Đây là những vấn đề làm ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả, hiệu lực của cuộc đấu tranh chống tham nhũng những năm qua.

Chức năng, nhiệm vụ của nhiều cơ quan nhà nước trong đấu tranh chống tham nhũng chưa rõ ràng, thậm chí chồng chéo, thiếu một cơ chế phối hợp cụ thể, hữu hiệu

Trƣớc đây, việc thành lập các ban công tác chống tham nhũng tại các tỉnh, thành, và các bộ, ngành sau khi có Quyết định 240 năm 1990 của Hội đồng Bộ trƣởng và Ban Công tác chống tham nhũng, chống buôn lậu của Chính phủ (thành lập theo Quyết định số 35/TTg ngày 19-1-1996 của Thủ tƣớng Chính phủ) đã mang lại đƣợc những kết quả nhất định. Tuy nhiên, hoạt động của các đơn vị này chƣa đạt đƣợc kết quả nhƣ mong muốn. Các quy định về phòng, chống tham nhũng khi đó chƣa đầy đủ và chƣa đƣợc thực hiện nghiêm túc, thiếu một cơ quan có trách nhiệm làm đầu mối theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện. Để khắc phục tình trạng trên, sau khi Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đƣợc ban hành, Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội đã ra Nghị quyết số 1039/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 28-8-2006 về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Nghị quyết số 294A/2007/NQ-UBTVQH12 ngày 27-9-2007 về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của ban chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 13/2007/QĐ-TTg ngày 24-01-2007 về việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và quy chế hoạt động của Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Các cơ quan bảo vệ pháp luật nhƣ Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã thành lập những đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng.

 

5. Thiếu các công cụ phát hiện và xử lý tham nhũng hữu hiệu

 Những năm qua, hoạt động điều tra, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát đã thu đƣợc một số kết quả tích cực nhƣng trên thực tế vẫn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Cơ chế phối hợp của các cơ quan nói trên còn có những hạn chế; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan trong cuộc đấu tranh chung còn chƣa rõ ràng, cụ thể dẫn đến tình trạng lẫn lộn, chồng chéo, thiếu hiệu quả trong hoạt động phát hiện và xử lý tham nhũng. Về pháp luật, chúng ta chƣa có những quy định cho phép các cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp đặc biệt để có thể phát hiện các hành vi tham nhũng nên hiệu quả phát hiện tham nhũng chƣa cao. Tham nhũng là một loại tội phạm đặc biệt, chủ thể của nó là những ngƣời có chức vụ, quyền hạn, có trình độ, thực hiện hành vi tham nhũng rất tinh vi, khó phát hiện và trong nhiều trƣờng hợp kẻ vi phạm dùng nhiều thủ đoạn, kể cả dƣới danh nghĩa nhà nƣớc để cản trở việc điều tra và truy cứu trách nhiệm. Đặc biệt, việc thu thập chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội tham nhũng là cực kỳ khó khăn, nhất là đối với hành vi nhận hối lộ. Các cơ quan tiến hành tố tụng khó khăn trong việc quy trách nhiệm hoặc buộc phải kết luận hành vi sai phạm của họ là “cố ý làm trái…” hoặc “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Đó là những hành vi không bị coi là tham nhũng và có mức xử lý nhẹ hơn hành vi tham nhũng.

Việc huy động lực lượng đông đảo của nhân dân cũng như sự tham gia của lực lượng báo chí vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng còn chưa được quan tâm đúng mức

 Báo chí và các phƣơng tiện thông tin đại chúng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện và đấu tranh chống những hành vi vi phạm trong hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, nhất là tệ tham nhũng. Báo chí vừa có tác dụng cảnh báo những nơi có nguy cơ tham nhũng, vừa tham gia phát hiện và đặc biệt là tạo nên dƣ luận mạnh mẽ đòi xử lý tham nhũng. Đây là kinh nghiệm chung của các nƣớc trên thế giới. Mấy năm qua, báo chí ở nƣớc ta đã phát huy vai trò nhất định của mình trong đấu tranh chống tham nhũng nhƣng nhìn chung sự đóng góp của báo chí đối với công tác đấu tranh chống tham nhũng vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân bắt nguồn từ phía các cơ quan quản lý nhà nƣớc và từ bản thân cơ quan báo chí, nhất là sự phối hợp giữa hai cơ quan này. Vì những lý do khác nhau mà một số cơ quan nhà nƣớc còn e ngại trƣớc sự tham gia của báo chí, hoặc là vì bản thân sự thông tin đôi khi không chính xác hoặc không đúng thời điểm đã gây khó khăn cho việc phát hiện và xử lý triệt để các vụ việc tham nhũng. Thêm nữa, báo chí mới chỉ đấu tranh chống tham nhũng bằng việc phê phán những hành vi tiêu cực mà chƣa coi trọng việc truyền đạt kịp thời những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, những gƣơng ngƣời tốt, việc tốt, sáng kiến hay, những hoạt động lành mạnh, những thông tin tích cực, biểu dương và cổ vũ, động viên đến toàn xã hội để tạo môi trƣờng tốt cho sự phát triển, để cái tốt lấn át cái xấu, để tham nhũng dần dần không có chỗ trong các tiêu chí chuẩn mực và trong các quan hệ xã hội. Đây có thể coi là một hạn chế không nhỏ trong hoạt động báo chí hiện nay với tƣ cách là công cụ của Đảng và nhân dân trong đấu tranh chống tham nhũng. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của xã hội về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng mặc dù đã nhận đƣợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc nhƣng chƣa tạo ra một sự chuyển biến tích cực trong ý thức xã hội trong việc phản ứng với tệ nạn tham nhũng cũng nhƣ đề cao ý thức trách nhiệm của ngƣời dân trong việc tham gia vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng.

 

6. Câu hỏi, nhận định về vấn đề tham ô, tham nhũng

6.1 Công cụ nhận dạng tham nhũng?

Các tác giả trong cuốn sách Tools to support transparency in local governance (Công cụ hỗ trợ cho tính minh bạch trong công tác cai trị ở địa phương) đã xác định ra quy luật hoạt động của tham nhũng trong thực tế công quyền dưới dạng công thức tạm dịch như sau:

Tham nhũng (Corruption) = Độc quyền (Monopoly) + Bưng bít thông tin (Discretion) - Trách nhiệm giải trình (Accountability).

Theo công thức trên, có thể dễ dàng nhận dạng tham nhũng trong các biểu hiện của nó: thừa độc quyền, thừa bưng bít thông tin, thiếu (phi) trách nhiệm giải trình.

Một công cụ nhận dạng khác dựa theo công thức của C. Stephan[1] tạm dịch như sau:

Tham nhũng (Corruption) = Độc quyền (Monopoly) + Bưng bít thông tin (Discretion) - Tính minh bạch (Transparency) - Đạo đức luân lý (Morality)

Theo đó, tham nhũng dựa trên 4 yếu tố, là độc quyền cùng với bưng bít thông tin và thiếu đi sự minh bạch, thiếu đạo đức.

Độc quyền: Một hệ thống (thường là chính quyền) sở hữu phần lớn hoặc toàn bộ tài sản, và chi phối thị trường mà không thông qua quy luật thị trường.

Bưng bít thông tin: Nắm quyền chi phối thông tin, thậm chí định hướng và lừa dối dư luận.

Tính minh bạch: Minh bạch trong chính sách hành chính công, các chi phí công, và minh bạch trong đấu thầu dự án công.

Đạo đức luân lý: Năng lực đạo đức luân lý của người tham gia vào hệ thống, năng lực này để nhận biết điều đúng sai, và có khả năng làm điều đúng tránh điều sai.

Công cụ nhận dạng tham nhũng cho thấy được bản chất của tham nhũng, mà con người là yếu tố quan trọng tham gia vào.

 

6.2 Tham nhũng chính sách (Lobby) là gì?

Tham nhũng chính sách không nhắm đến việc chiếm đoạt tài sản công như tham nhũng thông thường, mà nhằm tác động lên quá trình ra quyết sách về một vấn đề nào đó để chính sách đó có lợi cho đối tượng.

Ở một khía cạnh nào đó, những kiểu "chạy" giấy phép, "chạy" dự án của các doanh nghiệp Việt Nam có thể xem là một phần của tham nhũng chính sách. Nhưng trong khi ở Việt Nam hoạt động này bị xem là bất hợp pháp, tại các nước như Hoa Kỳ, Anh... nó được gọi là vận động hành lang (Lobby) và được coi là hợp pháp.

Tham nhũng ở nhiều nước phát triển được thực hiện một cách tinh vi dưới những vỏ bọc hợp pháp với danh nghĩa lobby. Đó là việc gián tiếp đưa hối lộ bằng nhiều hình thức hợp pháp như thông qua việc quyên góp, ủng hộ quỹ cho các chiến dịch của các chính trị gia, các nghị sĩ… Tổ chức Minh bạch đã lên tiếng cảnh báo về thực trạng vận động hành lang thao túng các quyết sách của giới lãnh đạo châu Âu, nhưng khó có thể trừng phạt các hình thức tham nhũng chính sách nếu châu Âu không cải cách luật vận động hành lang, do đây là hoạt động được coi là hợp pháp.

Những vụ lobby nổi tiếng:

Hãng Pepsi đã dùng nhiều ưu đãi để tạo dựng quan hệ tốt với nghị sỹ Richard Nixon. Khi lên làm tổng thống Mỹ, Nixon đã chỉ thị gỡ bỏ hết máy tự động bán Coca trong dinh tổng thống và thay vào đó là Pepsi. Đến lượt hãng Coca-Cola cũng làm chiêu tương tự với Jimmy Carter. Sau khi Carter lên làm tổng thống, ông cũng chỉ thị gỡ bỏ hết máy bán Pepsi trong dinh tổng thống và thay bằng Coca.

Trong thảm họa dầu loang trên Vịnh México vào tháng 4-2010, các nhà làm luật đảng Dân chủ bắt đầu bàn bạc về số tiền hợp lý mà công ty làm tràn dầu phải đóng phạt. Hãng BP chi 8,43 triệu USD trong năm 2011 để vận động các nhà làm luật "thấy rằng" thảm họa tràn dầu không phải xuất phát từ nguyên do chủ quan của công ty. Năm 2011, họ trả The Duberstein Group 400.000 USD để lobby các nhà điều tra vụ tràn dầu, và chi 90.000 USD cho Stuntz, Davis & Staffier để giúp vận động Quốc hội điều chỉnh Đạo luật "Offshore Moratorium", chi 320.000 USD cho The Podesta Group để vận động các nhà làm luật cho phép công ty khai thác trở lại ở Vịnh México. Không chỉ giúp giảm nhẹ các hình phạt, tờ The New York Times hồi tháng 3 cho rằng những đồng tiền lobby còn giúp BP giành được lợi lớn trong việc đấu thầu những giếng dầu và khí đốt ở Vịnh Mexico khi Chính quyền tổng thống Barrack Obama đấu giá mời thầu các giếng dầu/khí đốt ở đó vào tháng 12-2011.

 

6.3 Nguồn gốc tham nhũng và tham ô?

Tham nhũng xuất hiện từ rất sớm từ khi có sự phân chia quyền lực và hình thành nhà nước. Có ý kiến cho rằng tham nhũng, tham ô bắt nguồn từ nền văn hóa độc tài đề cao cá nhân, coi trọng biếu xén. Ý kiến khác cho rằng xã hội thay đổi các chuẩn mực về đạo đức, xã hội biến đổi liên tục, nền kinh tế biến đổi mạnh sinh ra tham nhũng tham ô.

Tham nhũng và tham ô thường xuất hiện nhiều hơn từ các nước có nền kinh tế kém phát triển hoặc có mức thu nhập bình quân đầu người thấp. Tại các nước này con người thường có ý đồ nắm các cương vị cao trong hàng ngũ lãnh đạo để tham nhũng. Đối với một số nước kinh tế phát triển, có mức thu nhập bình quân đầu người cao, các cá nhân có sở hữu tài sản lớn mới bắt đầu tham gia chính trường để làm lãnh đạo.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)