NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật thi hành án hình sự số 41/2019/QH14 ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2019;

Nghị định số 133/2020/NĐ-CP ban hành ngày 09 tháng 11 năm 2020 hướng dẫn Luật Thi hành án hình sự;

2. Khái niệm chung về các nguyên tắc của pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam:

Nguyên tắc được hiểu là tư tưởng, quan điểm cơ bản, đóng vai trò chỉ đạo các hành động cụ thể. Nguyên tắc thường được thể hiện dưới hình thức các luận điểm, các nguyên lý có tính chất xuất phát điểm, định hướng và nhất thiết phải được tôn trọng, quán triệt trong một loạt việc làm. Nguyên tắc phản ánh bản chất, những tính chất đặc thù của sự vật, hiện tượng, do vậy, nguyên tắc không phải là một phạm trù bất biến mà nó có cả một quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện cùng với các giai đoạn phát triển của chính sự vật, hiện tượng đó. Nguyên tắc vừa mang tính khách quan lại vừa mang tính chủ quan.

Nguyên tắc, trước hết là sự phản ánh khách quan, tức là phản ánh thực tế vận động và tồn tại của xã hội, phản ánh bản chất của chế độ, của cơ sở kinh tế - xã hội, của trình độ, điều kiện phát triển lịch sử của đất nước, của xã hội. Đồng thời, nguyên tắc mang đậm dấu ấn chủ quan, vì thực tế khách quan phản ánh qua nhận thức của con người mà được nâng lên thành quan điểm, thông qua các hoạt động tư duy, thông qua khả năng, trình độ, năng lực nhận thức nhu cầu khách quan của đời sống xã hội. Vì vậy, nói đến nguyên tắc vừa phải nói đến cái phổ biến, vừa phải nói đến cái đặc thù của sự ra đời, hình thành một thời đại giữa nước này và nước khác, giữa chế độ xã hội này với chế độ xã hội khác. Trong từng lĩnh vực cụ thể, các nguyên tắc có thể có sự tiếp thu, kế thừa và vì vậy hình thành những nét giống nhau giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội - kinh tế khác nhau hoặc giữa các giai đoạn lịch sử khác nhau, nhưng các nguyên tắc lại cũng có thể có những nét rất khác nhau ở các nước và các giai đoạn khác nhau.

Nhận thức chung nói trên có thể được vận dụng để nhận thức, lý giải về các nguyên tắc của các hoạt động xã hội ở nước ta hiện nay - một nước đang trong quá

Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật THAHS Việt Nam trình chuyển từ cơ chế tập trung hành chính, bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội.

Về cơ bản, có thể xác định nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự chính là những tư tưởng, quan điểm thể hiện bản chất nhân dân, dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được vận dụng vào tổ chức, hoạt động thi hành án hình sự và được nâng lên thành những luận điểm, nguyên lý có tính chỉ đạo việc định hình tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự.

Từ đó, có thể thấy rằng hệ thống các nguyên tắc tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự ở nước ta hiện nay vừa phải thể hiện bản chất của hoạt động thi hành án hình sự ở nước ta, vừa phải tính đến hướng phát triển xã hội ta trong những năm tới dưới tác động của cải cách tư pháp và cải cách hành chính, vừa phải phản ánh tính đặc thù của thi hành án hình sự trong những điểu kiện kinh tế - chính trị - xã hội ở giai đoạn hiện nay. Theo đó, trên bình diện tổng thể, hệ thống các nguyên tắc tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự phải bao gồm các nguyên tắc dưới đây:

  • Nguyên tắc pháp chế;
  • Nguyên tắc dân chủ;
  • Nguyên tắc nhân đạo;
  • Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và trước Cơ quan thi hành án;
  • Nguyên tắc kết hợp giáo dục, cải tạo với cưỡng chế;
  • Nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa người phải thi hành án, động viên, khích lệ chấp hành quyết định, bản án của Tòa án;
  • Nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của công dân, con người;
  • Nguyên tắc bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan thi hành án với các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội và mọi công dân trong hoạt động thi hành án.

3. Nguyên tắc nhân đạo:

Trong thi hành án hình sự, nguyên tắc nhân đạo thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội cũng như truyền thống nhân đạo của dân tộc ta. Tư tưởng nhân đạo thể hiện ngay trong mục đích của hoạt động thi hành án hình sự là nhằm thực thi công lý, bảo đảm sự công bằng cần thiết cho mọi thành viên trong xã hội trước pháp luật, bảo vệ có hiệu quả các loại lợi ích trong xã hội. Do vậy, nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi trước hết, hoạt động thi hành án hình sự phải bảo đảm bảo vệ có hiệu quả, hài hòa các loại lợi ích khác nhau, tôn trọng nhân phẩm và danh dự của cá nhân. Trong biểu hiện cụ thể, nguyên tắc nhân đạo thể hiện ở việc pháp luật nghiêm cấm các hành vi đày đoạ, hành hạ về thân thể, các hành vi xâm phạm nhân phẩm, danh dự đối với những người chấp hành án phạt tù. Nguyên tắc nhân đạo cũng thể hiện ở quy chế giảm, miễn, hoặc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, ở việc quy định rõ chế độ sinh hoạt, ăn, ở, học tập, lao động nghề nghiệp trong thời gian thi hành án phạt tù, một mặt, hình thành thói quen sinh hoạt cộng đồng, ý thức tôn trọng cộng đồng, ý thức tuân thủ, phục tùng pháp luật của người phải chấp hành hình phạt, mặt khác, tránh tâm lý mặc cảm, tự ti, hằn học, ác cảm, đố kỵ, thù địch, xa lánh cộng đồng... của họ sau khi hết thời hạn chấp hành hình phạt để giúp họ dễ dàng tái hoà nhập cộng đồng.

Tuy nhiên, nguyên tắc nhân đạo trong tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự không đồng nghĩa với nương nhẹ, bỏ qua một cách vô căn cứ đối với những người không chấp hành các bản án, qụyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Việc quán triệt nguyên tắc nhân đạo không được làm mất tính nghiêm minh của pháp luật cũng như không được phép vi phạm các nguyên tắc khác về tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự. Đồng thời quá trình vận dụng nguyên tắc nhân đạo cũng cần tính đến đặc thù của việc thi hành từng loại án cụ thể.

4. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và trước Cơ quan thi hành án:

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và trước Cơ quan thi hành án có nghĩa là mọi cá nhân và đơn vị có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đều bình đẳng trưóc pháp luật và trước cơ quan thi hành án trong nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án. Nói cách khác, đó là yêu cầu mang tính nguyên tắc về thực hiện sự bình đẳng trong chấp hành án. Yêu cầu này xuất phát từ nguyên tắc hiến định về quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.

Trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự, nguyên tắc bình đẳng phải được quán triệt đầy đủ: không phải chỉ bình đẳng trước pháp luật nói chung mà bình đẳng cả trong các quan hệ xã hội được pháp luật về thi hành án điều chỉnh, không phân biệt giói tính, địa vị xã hội, thành phần giai cấp, dân tộc, trình độ văn hóa. Mọi sự thiên vị, dễ dãi với người này, khó khăn, quyết liệt với người kia đều là trái với nguyên tắc bình đẳng trưóc pháp luật, trước nghĩa vụ chấp hành bản án theo tinh thần pháp quyền, dân chủ của xã hội ta. Trong thực tế thi hành án hình sự, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và trước cơ quan thi hành án là nguyên tắc rất dễ bị vi phạm và ảnh hưởng tiêu cực của sự vi phạm cũng rất dễ phát sinh, kéo theo không chỉ bản thân những người có liên quan trong việc chấp hành nghĩa vụ thi hành án không được hưởng sự công bằng bình đẳng mà còn làm cho tính nhân đạo, tính dân chủ của hoạt động thi hành án bị sai lệch.

5. Nguyên tắc kết hợp giáo dục, cải tạo với cưỡng chế:

Nguyên tắc kết hợp giáo dục, cải tạo với cưỡng chế trong tổ chức và thi hành án hình sự xuất phát từ mục đích thi hành án hình sự và từ yêu cầu đảm bảo hiệu quả của hoạt động thi hành án hình sự.

Sự tự nguyện thi hành án là một trong những yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho hoạt động thi hành án được diễn ra thuận lợi, có hiệu quả, tránh được những chi phí không cần thiết. Do vậy, pháp luật thi hành án phải có các quy định khuyến khích người có nghĩa vụ thi hành án tự nguyện thực hiện những nghĩa vụ mà bản án, quyết định của Tòa án yêu cầu và tạo ra thủ tục cần thiết để họ thực hiện sự tự nguyện đó. Trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với họ là cần thiết để hoạt động thi hành án đạt được mục đích đề ra. Biện pháp cưỡng chế, bắt buộc phải thi hành được xem như là biện pháp cuối cùng để bảo đảm hiệu lực, tính nghiêm minh của pháp luật và của bản án được tuyên nhân danh Nhà nước, đồng thời để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người được thi hành án và những người liên quan.

Việc vận dụng nguyên tắc kết hợp giáo dục, cải tạo với cưỡng chế trong tổ chức và thi hành án hình sự đòi hỏi phải tìm ra sự kết hợp đúng đắn, hợp lý giữa các biện pháp giáo dục, cải tạo, cương chế và thể hiện mô hình kết hợp đó trong khi định ra các quy phạm pháp luật, các chê định pháp luật và toàn bộ pháp luật thi hành án. Mối quan hệ kết hợp đó cần phải được xây dựng trên cơ sở nhận thức về mức độ, liều lượng khác nhau của sự kết hợp các biện pháp giáo dục, cải tạo, thuyết phục và các biện pháp cưỡng chế đối với việc thi hành từng loại án khác nhau cũng như đối với từng loại người bị kết án khác nhau. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, tinh thần của nguyên tắc nói trên đòi hỏi phải bảo đảm để sao cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế chỉ ở mức và liều lượng tối thiểu còn các biện pháp giáo dục, cải tạo, thuyết phục được áp dụng đến mức và liều lượng tối đa.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê