Trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ịvà hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay thì xã hội hoá là cho nên nếu mọi việc về thi hành án dân sự đều do cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước đảm nhiệm thực hiện là không hợp lí. Để huy động được các nguồn lực trong xã hội và đổi mới phương thức quản lí xã hội, Đảng đã chủ trương Nhà nước cần giảm việc can thiệp quá sâu vào quyền điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở và các quan hệ dân sự, tập trung hướng mạnh vào xây dựng thể chế, sử dụng các công cụ điều hành vĩ mô. Vì vậy, việc xã hội hoá thi hành án dân sự ở nước ta là rất cần thiết, phù hợp quan điểm của Đảng về cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và cải cách tư pháp ở nước ta.

1. Xã hội hoá thi hành án dân sự

Xã hội hoá Thi hành án dân sự góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục trong thi hành án dân sự từ đó cũng nâng cao trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc thi hành án dân sự. Xã hội hoá thi hành án dân sự huy động được các nguồn lực trong xã hội tạo ra sức mạnh tổng hợp, khắc phục tình trạng chây ỳ, tri trệ trong thi hành án dân sự. Ngoài ra, xã hội hoá thi hành án dân sự còn có ý nghĩa giảm bớt đáng kể áp lực công việc cho cơ quan thi hành án dân sự, tạo ra một số công việc mới cho xã hội và giảm chi phí của ngân sách nhà nước cho công tác thi hành án dân sự.

Xã hội hoá thi hành án dân sự tạo ra cơ chế thi hành án dân sự hợp lí, trong đó ngoài Nhà nước, các cá nhân, tổ chức khác đều được đóng góp công, của cho việc thi hành án dân sự làm cho việc thi hành các bàn án, quyết định dân sự được nhanh chóng và hiệu quả. Tuy vậy, để xã hội hoá thi hành án dân sự có hiệu quà thì phải bảo đảm được các yêu càu cơ bản sau:

Vậy, trước hết phải xã hội hoá thi hành án dân sự việc tuyên truyền, giáo dục và thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án dân sự. Theo đó, mọi cá nhân, tổ chức đều được tham gia vào việc tuyên truyền, giáo dục và thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án dân sự.

Thi hành án dân sự phức tạp, các công việc thuộc về tổ chức thi hành án dân sự đòi hỏi phải sử dụng quyền lực của Nhà nước mới thực hiện được như việc ra quyết định thi hành án, cưỡng chế thi hành án v.v. thì không xã hội hoá. Tuy vậy, đối với một số công việc mà việc thực hiện không nhất thiết phải sử dụng quyền lực của Nhà nước mới thực hiện được như việc xác minh tài sản, địa chỉ của người phải thi hành án dân sự, bảo quản, định giá và bán tài sản kê biên v.v. thì có thể xã hội hoá. Đối với những công việc đó có thể giao cho các cá nhân, tổ chức tư nhân thực hiện và đương sự phải chi trả các chi phí cho việc thực hiện chúng.

Để tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tham gia tổ chức thi hành án dân sự có thể thiết lập mô hình tổ chức thi hành án bán công (như Nhật Bản) hoặc mô hình tổ chức thi hành án tư nhân (như Pháp, Bi, Hà Lan, Lucxembourg và Hungary). Nếu theo mô hình tổ chức thi hành án bán công, việc tổ chức thi hành án dân sự sẽ do cả công chức và viên chức đàm nhiệm, thù lao của họ trước hết lấy từ phí thi hành án do đương sự nộp, trường hợp phí thi hành án đương sự nộp không đủ để chi trả thì Nhà nước hỗ trợ. Nếu theo mô hình tổ chức thi hành án tư nhân thì việc tổ chức thi hành án do các văn phòng, tổ chức thi hành án dân sự tư nhân đảm nhiệm. Các văn phòng, tổ chức Thi hành án dân sự tư nhân được giao thực hiện một sổ công việc thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh ” và ngày 24/7/2009 Chính phủ đã ra Nghị định số 61/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo các quy định này thi việc thực hiện thí điểm chế đinh thừa phát lại trong khoảng thời gian từ ngày 01/7/2009 đến ngày 31/12/2012. Tuy vậy, sau một thời gian thực hiện, ngày 23/11/2012, Quốc hội khoá XIII đã ra Nghị quyết số 36/2012/QH13 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại; ngày 18/10/2013, Chính phủ ra Nghị định số 135/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 đến hết ngày 31/12/2015. Theo Nghị quyết của Quốc hội khoá XIII số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 về thực hiện chế định thừa phát lại thì chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016. Việc tổ chức thi hành án dân sự của thừa phát lại hiện nay được thực hiện theo quy định Nghị định của Chính phủ số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại.

Theo các văn bản quy định về thực hiện chế định thừa phát lại nêu trên, để trang trải cho hoạt động thi hành án dân sự thừa phát lại được thu phỉ thừa phát lại theo nguyên tắc đối với những loại công việc mà Nhà nước đã quy định về phí đang được áp dụng thì khi thực hiện các công việc này thừa phát lại thu phí theo các quy định đó; đối với những loại công việc mà Nhà nước chưa quy định về phí và một số công việc khó khăn, quan của hoạt động thi hành án dân sự. Qua các nguyên tắc của luật thi hành án dân sự có thể nhận thấy được các đặc trưng của hoạt động thi hành án dân sự. Tuy vậy, việc quản lí xã hội thuộc chức năng của Nhà nước. Nhà nước quản lí xã hội thông qua việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều tiết các quan hệ xã hội. Các nguyên tắc của luật thi hành án dân sự là những quy phạm pháp luật - quy phạm pháp luật chung về thi hành án dân sự do Nhà nước đặt ra. Căn cứ vào quy phạm pháp luật chung này Nhà nước xây dựng và ban hành những quy phạm cụ thể về thi hành án dân sự. Do đó, các nguyên tắc của luật thi hành án dân sự xuyên suốt các quy phạm pháp luật thi hành án dân sự, quyết định kết cấu của quy trình thi hành án và phản ánh quan điểm, tư tưởng cơ bản của Nhà nước về công tác thi hành án dân sự.

Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật thi hành án dân sự hiện tại được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật thi hành án dân sự. Theo các quy định này, hệ thống các nguyên tắc thi hành án dân sự gồm có: nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của toà án; nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự; nguyên tắc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong thi hành án dân sự; nguyên tắc kết hợp biện pháp tự nguyện thi hành án và cưỡng chế thi hành án; nguyên tắc ừách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự; nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan; nguyên tắc tiếng nói, chữ viết dùng trong thi hành án dân sự; nguyên tắc giám sát việc thi hành án dân sự và nguyên tắc kiểm sát việc thi hành án dân sự.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án dân sự, đại diện tranh tụng tại Toà án

Thi hành án dân sự phức tạp một phần là do nguyên nhân nội tại của nó. Trong thi hành án dân sự, người phải thi hành án thể hiện quyền lực nhà nước. Trên thực tế, việc xét xử chỉ có ý nghĩa khi bản án, quyết định được thi hành. Vì vậy, về nguyên tắc phải đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định.

2. Phân tích các nguyên tắc của luật thi hành án dân sự hiện nay

Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định biểu hiện tính pháp chế xã hội chủ nghĩa trong thi hành án dân sự. Thực hiện nguyên tắc này không những làm cho cho bản án, quyết định có hiệu lực trên thực tế mà còn bảo đảm cho nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện.

a) Nội dung của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định yêu cầu:

- Khi giải quyết vụ việc dân sự toà án phải quyết định áp dụng biện pháp cần thiết bảo đảm cho việc thi hành án, phải tuyên bản án, quyết định đầy đủ, rõ ràng, chính xác tạo thuận lợi cho việc thi hành án.

- Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật phải được đưa ra thi hành. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định phải chấp hành đúng và đầy đủ các phán quyết ghi trong các bản án quyết định được đưa ra thi hành. Trong trường hợp người có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định mà không tự nguyện thi hành thì phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết buộc họ thực hiện.

- Toà án, cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện hiệm vụ đó.

- Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân phải tôn trọng bản án, [uyết định đã có hiệu lực pháp luật. Các cơ quan, tổ chức và á nhân không được can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi

b) Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự xác định:

>> Xem thêm:  Thủ tục thi hành quyết định về phá sản ? Thi hành án khi doanh nghiệp pháp sản ?

- Người được thi hành án, người phải thi hành án được căn cứ vào bản án, quyết định dân sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền Thi hành án; việc yêu cầu Thi hành án được thực hiện qua việc làm đơn yêu cầu thi hành án gửi cơ quan thi hành án hoặc trực tiếp đến cơ quan thi hành án yêu cầu Thi hành án.

- Để bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự toà án, cơ quan và tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phải cấp cho các đương sự bản án, quyết định trong thời hạn thi hành án dân sự. Trong trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án có đơn hoặc trực tiếp đến cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét. Nếu việc yêu cầu thi hành án của đương sự đúng pháp luật thì cơ quan Thi hành án dân sự phải thụ lí, ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.

Pháp luật quy định. Khi cấp cho các đương sự bản án, quyết định các cơ quan, tổ chức này phải giải thích cho các đương sự quyền yêu cầu thi hành án dân sự của họ và thời hiệu yêu cầu

Nguyên tắc bảo đảm quyền yêu câu thi hành án của các đương sự trước đây được quy định tại Điều 5 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Hiện nay, nguyên tắc này được quy định tại Điều 7 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a LSDBSLTHADS.

c. Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người có quyền, nghĩa vụ liên quan

Quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được Nhà nước

Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và người liên quan trước đây được quy định tại Điều 7 Pháp lệnh thi hành án dân sự S năm 1989, Điều 9 Pháp lệnh thi hành án dân sự nam 1993 và Điều 9 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Hiện nay, nguyên tắc này được quy định tại Điều 5 Luật thi hành án dân sự.

d. Nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự

Kết quả thi hành án dân sự phụ thuộc rất lởn vào việc cơ quan thi hành án dân sự, các cá nhân, cơ quan và tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân sự có thực hiện đúng, đầy đủ các quyền hạn và nhiệm vụ của họ hay không. Vì vậy, việc đề cao trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự, các cá nhân, cơ quan và tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân sự là cần thiết. Từ đó, vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự được quy định là nguyên tắc cơ bản của luật thi hành án dân sự.

Nội dung của nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự yêu cầu:

>> Xem thêm:  Thủ tục xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài

- Cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên, các đương sự và các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác liên quan đến việc thi hành án dân sự phải đề cao trách nhiệm trong việc thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, không được thực hiện các hành vi trái với quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

- Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật thi hành án dân sự thi phải chịu trách nhiệm về vi phạm đó. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật thi hành án dân sự gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị hại theo quy định của pháp luật. Thuyết phục mà các đương sự tự nguyện thi hành án thì chấp hành viên hướng dẫn để cho các đương sự tự thi hành các quyền, nghĩa vụ của họ theo bản án, quyết định của toà án.

- Trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án sau khi đã được giáo dục, thuyết phục mà không tự nguyện thi hành các nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ thì chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án càn thiết được quy định trong Luật thi hành án dân sự để bảo đảm việc thi hành án.

Nguyên tắc kết hợp biện pháp tự nguyện và cưỡng chế thi hành án trước đây được quy định tại Điều 5 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, Điều 6 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 và Điều 6, Điều 7 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Hiện nay, nguyên tắc này được quy định tại Điều 9 Luật thi hành án dân sự.

g. Nguyên tắc trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cả nhân với cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên

Thi hành án dân sự là hoạt động phức tạp, hiệu quả cùa nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Tuy cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên được thực hiện quyền lực của Nhà nước để tổ chức thi hành án, giữ vai trò chủ đạo tổ chức thi hành án nhưng trong những trường hợp đương sự chây ỳ, chống đối nếu không có sự phối hợp, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác thì việc thi hành án vẫn khó có thể thực hiện có hiệu quả. Trong các mối quan hệ phối hợp thi hành án thì mối quan hệ Igiữa cơ quan thi hành án dân sự với toà án đã ra bản án, quyết định, với lực lượng cảnh sát nhân dân, với chính quyền địa phương nơi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành án và mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án làm

h. Nguyên tắc thoả thuận thi hành án dân sự

Trong giao lưu dân sự, các đương sự có quyền tự do cam kết, thoả thuận xác lập các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với pháp luật. Vì vậy, trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự thì đương sự vẫn có quyền tự định đoạt. Thi hành án dân sự là một giai đoạn của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên trong giai đoạn này các đương sự cũng vẫn có quyền tự định đoạt, trong đó có quyền thoả thuận thi hành án. Thoả thuận thi hành án là nội dung cơ bản của quyền tự định đoạt trong thi hành án của đương sự nên được quy định là nguyên tắc của luật thi hành án dân sự. Nội dung của nguyên tắc này xác định:

- Các đương sự có quyền thoà thuận về việc thi hành án, nếu thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội thì việc thi hành án được thực hiện theo sự thoả thuận của các đương sự được công nhận.

- Việc thoả thuận có thể được thực hiện trước hoặc sau khi yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành án; nếu thoà thuận sau khi có quyết định thi hành án đương sự có quyền yêu cầu chấp hành viên chứng kiến việc thoà thuận. Xem thêm khoản 3 Điều 1 Nghị định của Chính phủ số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự.

>> Xem thêm:  Cản trở hoạt động tố tụng dân sự là gì ? Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng như thế nào ?

- Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thoả thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.

Nguyên tắc thoả thuận thi hành án lần đầu tiên.

j. Nguyên tắc giảm sát hoạt động Thi hành án dân sự

Hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan nhà nước khác trong tổ chức thi hành án dân sự là hoạt động thực hiện quyền lực của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Hoạt động này chỉ phát huy được tác dụng của nó khi được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, để bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan này trong thi hành án dân sự tiến hành đúng pháp luật thì phải kiểm tra, kiểm sát và giám sát chúng. Theo quy định tại Điều 8 Hiến pháp năm 2013 thì các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân. Từ đó, bảo đảm quyền giám sát của nhân dân đối với các hoạt động thi hành án dân sự cùa cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan nhà nước khác là vấn đề tất yếu và mang tính nguyên tắc.

Nguyên tắc giám sát hoạt động thi hành án dân sự yêu cầu mọi hoạt động thi hành án dân sự phải được đật dưới sự giám sát của nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với các hoạt động thi hành án dân sự thông qua các cơ quan, tổ chức đại diện cho mình như Quốc hội, hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Do đó, để bảo đảm quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động thi hành án phải bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức này thực hiện được quyền theo dõi, kiểm tra các hoạt động thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan nhà nước khác. Ngoài ra, cũng phải bảo đảm quyền của họ trong việc kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lí các hành vi, quyết định trái pháp luật trong thi hành án dân sự.

- Kiểm sát hoạt động tổ chức thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên như việc ra quyết định thi hành án, quyết định uỷ thác thi hành án, quyết định hoãn thi hành án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án, quyết định đình chỉ thi hành án, quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án; tiến hành tổ chức thi hành án; việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự.

- Kiểm sát các hoạt động thi hành bản án, quyết định của đương sự, người đại diện cùa đương sự và các cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân sự.

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của lực lượng cảnh sát nhân dân trong việc bảo vệ cưỡng chế thi hành án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thực hiện yêu cầu, quyết định cưỡng chế thi hành án của chấp hành viên.

- Kiểm sát việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo các hành vi trái pháp luật phát sinh trong thi hành án dân sự của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nguyên tắc kiểm sát hoạt động thi hành án dân sự được quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và khoản 2 Điều 12 Luật thi hành án dân sự. Theo các quy định này, viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tổ chức thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên, hoạt động thi hành án dân sự của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật. Khi tiến hành kiểm sát hoạt động thi hành án dân sự, viện kiểm sát được thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật thi hành án dân sự và Điều 28 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)

>> Xem thêm:  Thủ tục xét xử phúc thẩm là gì ? Quy định về hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự ?

>> Xem thêm:  Thủ tục rút gọn giải quyết vụ án dân sự là gì ? Ý nghĩa, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn ?