Trả lời:

1. Nguyên tắc tự do biển cả

Nguyên tắc tự do biển cả có lịch sử lâu đời gắn liền với việc khai thác, sử dụng biển và đại dương. Bản chất của nguyên tắc này xuất phát từ quan niệm đại dương là của chung nhân loại nhưng lại là con đường nối liền các châu lục, các quốc gia. Vì vậy, tự do biển cả được mở ra để tất cả các quốc gia dù đó là quốc gia ven biển hay quốc gia nằm trọn trong lục địa tham gia khai thác, sử dụng và đều được hưởng các quyền tự do, cụ thể:

- Tự do hàng hải;

- Tự do hàng không;

- Tự do đánh bắt hải sản;

- Tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm;

- Tự do nghiên cứu khoa học biển;

- Tự do xây dựng các đảo nhân tạo, thiết bị công trình.

Tự do biển cả không chấp nhận bất kì quốc gia nào ảp đặt lợi ích, chủ quyền đối với bộ phận nào của biển cả. Nguyên tắc này cũng đòi hỏi mỗi quốc gia khi thực hiện các quyền trên biển cả phải đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của các quốc gia khác và cộng đồng quốc tế. Trong các quyền thuộc về tự do biển cả thì tự do hàng hải có lịch sử lâu đời và cũng là nội dung quan trọng nhất; bên cạnh đó còn có tự do đánh bắt hải sản. Với sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của kĩ thuật hàng không, giao thông hàng không không thể thiếu để kết nối các quốc gia. Do đó, tự do hàng không xuất hiện trong tự do biển cả ở vị trí thứ hai. Bên cạnh đó, xuất phát từ nhu cầu phát triển của khoa học công nghệ nên nghiên cứu khoa học biển, xây dựng các đảo nhân tạo, thiết bị công trình trở thành nội dung của tự do biển cả. Điều đó cho thấy, tính lịch sử của nguyên tắc tự do biển cả nhưng cũng phản ánh sự thay đổi của thực tiễn trong nội dung của nguyên tắc. Tự do biển cả không chỉ áp dụng ở biển cả mà còn áp dụng ở các vùng biển đặc thù, các vùng biển thuộc quyền tài phận quốc gia. Tính chất của tự do biển cả chi phối quy chế pháp lý các vùng biển được quy định trong pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia.

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

2. Nguyên tắc đất thống trị biển

Nguyên tắc đất thống trị biển hướng tới bảo vệ lợi ích của các quốc gia ven biển. Nguyên tắc này thúc đẩy việc mở rộng thẩm quyền quốc gia vào không gian biển. Năm 1945, Tổng thống Mỹ Truman tuyên bố xác lập thềm lục địa của nước Mỹ trên cơ sở coi thềm lục địa là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ ra biển. Trong vụ thềm lục địa Biển Bắc năm 1969 (Liên bang Đức kiện Hà Lan, Đan Mạch về vấn đề phân chia thềm lục địa giữa ba nước), Toà án quốc tế của UN cũng đã thừa nhận nguyên tắc đất thống trị biển.

Theo nguyên tắc đất thống trị biển, lãnh thổ đất liền là cơ sở để xác định các vùng biển của quốc gia và từ đỗ quốc gia xác định, duy trì chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đối với các vùng biển. Trong lý thuyết về lãnh thổ, lãnh thổ vùng đất là cơ sở để xác lập các vùng lãnh thổ khác, trong đó có lãnh thổ biển. Mỗi quốc gia được quyền hưởng phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của mình ra biển. Nguyên tắc đất thống trị biển là cơ sở để giải quyết công bằng và hiệu quả các tranh chấp trên biển giữa các quốc gia, nhất là tranh chấp về phân định biển giữa các quốc gia hữu quan.

Về lý luận, hai nguyên tắc tự do biển cả và đất thống trị biển có xuất phát điểm khác nhau. Hai nguyên tác tồn tại trong Luật biển quốc tế là cơ sở để bảo vệ cho các nhóm lợi ích vừa có sự đối lập, vừa có sự thổng nhất với nhau, đó là lợi ích của các quốc gia ven biển, lợi ích của quốc gia khác và lợi ích của cộng đồng quốc tế trong quá trình sử dụng biển. Nguyên tắc đất thống trị biển cụ thể hóa các quyền của quốc gia ven biển khi xác lập chủ quyền lãnh thổ tại vùng nội thủy, lãnh hải và các quyền chủ quyền trên các vùng tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia. Trong khi đó, nguyên tắc tự do biển cả một mặt là sự giới hạn cần thiết đối với việc vận dụng nguyên tắc đất thống trị biển để mở rộng chủ quyền quốc gia ven biển ra phía ngoài biển cả; mặt khác bảo đảm các quyền tự do trên biển cho mọi quốc gia (bao gồm cả quốc gia ven biển) trên biển cả và vào các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia khác.

Tuy nhiên, giữa hai nguyên tắc luôn có mối quan hệ chặt chẽ. Mối quan hệ giữa hai nguyên tắc đảm bảo để các quy phạm của Luật biển quốc tế hình thành được một trật tự công bằng, bình đẳng và dân chủ trong sử dụng biển. Trật tự này sẽ bị phá vỡ nếu không có sự kết hợp của cả hai nguyên tắc đó trong tổng thể cơ chế điều chỉnh chung của Luật biển quốc tế đối với các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra tại các vùng biển. Sự kết hợp của cả hai nguyên tắc cũng nhằm tạo ra trật tự công bằng trong quá trình phân định biển và giải quyết theo nguyên tắc hòa bình các tranh chấp quốc tế mà luật quốc tế hiện đại đã ghi nhận.

3. Nguyên tắc công bằng

Nguyên tắc công bằng là cơ sở để đảm bảo quyền và lợi ích của cảc quốc gia, đồng thời góp phần duy trì trật tự pháp lý trong sử dụng, khai thác và quản lý biển, đặc biệt là trong phân định các vùng biển có tranh chấp. Nguyên tắc này được ghi nhận trong UNCLOS 1982 và được áp dụng khá phổ biến trong thực tiễn quan hệ quốc tế, cụ thể là trong xác định ranh giới các vùng biển, trong giải quyết tranh chấp biển và thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia.

Nguyên tắc này được thể hiện ở 04 nội dung:

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển của các quốc gia ?

- Công bằng giữa tất cả các quốc gia: UNCLOS 1982 thừa nhận quyền của quốc gia không có biển hoặc bất lợi về mặt địa lý được sử dụng biển cả như các quốc gia có biển ở phạm vi mà Luật biển quốc tế cho phép. Điều 90 UNCLOS 1982 quy định: Mọi quốc gia dù có biển hay không có biển đều có quyền cho tàu thuyền treo cờ của quốc gia mình đi trên biển cả. Hay theo Điều 125 UNCLOS 1982, các quốc gia không có biển có quyền đi ra biển và quyền từ biển vào. Vì mục đích ẩy, các quốc gia đó được hưởng tự do quá cảnh qua lãnh thổ của các quốc gia quá cảnh bằng mọi phương tiện vận chuyển.

- Công bằng trong sử dụng biển quốc tế: UNCLOS 1982 không đặt biển quốc tế dưới chủ quyền riêng biệt của bất kì quốc gia nào. Mọi quốc gia đều được hưởng quyền tự do biển cả với 6 nội dung: tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp, ống dẫn ngầm, tự do xây dựng đảo nhân tạo, tự do nghiên cứu khoa học biển và tự do đánh bắt cá.

- Công bằng trong quản lý, khai thác và phân chia tài nguyên của Vùng di sản chung: Vùng để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù quốc gia có biển hay không có biển, để sử dụng vào những mục đích hoàn toàn hoà bình, không phân biệt đối xử. Mọi hoạt động trong Vùng được tiến hành là vì lợi ích của toàn thể loài người, không phụ thuộc vào vị trí địa lý của các quốc gia, dù là quốc gia có biển hay không có biển.

- Công bằng trong phân định biển: Trong phân định biển, áp dụng công bằng không có nghĩa là sửa chữa lại tự nhiên, mà là đảm bảo cho mỗi quốc gia ven biển được hưởng một vùng biển đúng và công bằng, có tính đến các hoàn cảnh hữu quan. Nguyên tắc công bằng trong phân định đã được đề cập trong Phán quyết về Thềm lục địa Biển Bắc năm 1969 và hàng loạt các phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế. Nó cũng được thể hiện trong thực tiễn quốc tế.

4. Nguyên tắc di sản chung của nhân loại

Nguyên tắc này xuất hiện trong quan hệ quốc tế hiện đại. Ngày 17/8/1967, tại phiên họp thứ 22 của Đại hội đồng UN, đại diện của Malta đề xuất tư tưởng coi vùng đảy biển nằm ngoài vùng tài phán quốc gia là di sản chung của nhân loại. Sau đó, nguyên tắc di sản chung của nhân loại được đề cập trong Nghị quyết 2749 ngày 17/12/1970 của Đại hội đồng UN và được pháp điển hóa trong UNCLOS 1982.

Theo Điều 136 UNCLOS 1982, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán của quốc gia và tài nguyên của nó là di sản chung cùa loài người. Phù hợp với nội hàm của nguyên tắc này thì mọi tài nguyên thiên nhiên hiện hữu ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc Vùng được xác định là di sản chung của loài người. Điều này loại bỏ sự độc quyền chiếm đoạt đối với bất kì nguồn tài nguyên nào trên Vùng. Nguyên tắc này và nguyên tắc tự do biển cả là nền tảng pháp lý quốc tể quan trọng để hình thành và thực thi chế độ pháp lý đối với khai thác tài nguyên thiên nhiên trên Vùng. Theo quy định của UNCLOS 1982, nguyên tắc này có nội dung như sau:

- Không cho phép việc một quốc gia nào đó có quyền đòi thực hiện chủ quyền hay các quyền thuộc chủ quyền của mình trên một phần nào đó của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển cả (nằm ngoài thềm lục địa của các quốc gia ven biển và các quốc gia quần đảo) hoặc đối với tài nguyên cùa Vùng;

- Cộng đồng quốc tế mà thực thể có quyền thay mặt là Cơ quan quyền lực quản lý Vùng được cho phép và kiểm soát việc thực hiện các quyền đối với tài nguyên của Vùng. Các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên trong lòng đất của Vùng chỉ có thể tiến hành dưới sự quản lý của cơ quan đó;

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế

- Hoạt động ở Vùng được tiến hành vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế với các mục đích hoà bình.

Nguyên tắc di sản chung của nhân loại nhằm mục đích thúc đẩy lợi ích chung của nhân loại. Khai thác, sử dụng và quản lý Vùng không chỉ phục vụ cho hiện tại mà còn đảm bảo cho tương lai. Di sản chung của nhân loại xác định khối tài sản không thể phân chia, thuộc quyền sở hữu chung của cộng đồng quốc tế tạo điều kiện cho các quốc gia tham gia vào việc quản lý, sử dụng các nguồn tài nguyên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Quần đảo là gì ? Quốc gia quần đảo là gì ? Vùng nước quần đảo được hiểu thế nào ?