1. Khái nhiệm nhà chung cư được hiểu như thế nào?

Theo khoản 3 Điều 3 của Luật Nhà ở 2014, định nghĩa về nhà chung cư được quy định như sau: Nhà chung cư là loại nhà có từ 2 tầng trở lên, mỗi căn hộ trong nhà chung cư thường có phần sở hữu riêng của chủ sở hữu, nhưng cũng có các khu vực hoặc tiện ích được sử dụng chung bởi tất cả các cư dân, chẳng hạn như sảnh, thang máy, khu vui chơi, hồ bơi, phòng gym, và các tiện ích khác. Các tòa nhà chung cư thường có các khu vực chung như lối đi, cầu thang, hành lang để cư dân đi lại giữa các căn hộ và các tiện ích chung. Các dịch vụ như điện, nước, viễn thông, vệ sinh, v.v., thường được chia sẻ hoặc sử dụng chung giữa các căn hộ trong cùng một tòa nhà chung cư. Nhà chung cư có thể được xây dựng với mục đích ở hoặc kết hợp giữa việc ở và kinh doanh, ví dụ như khu căn hộ dịch vụ hoặc căn hộ kết hợp với các cửa hàng, văn phòng, nhà hàng,... Những yếu tố này cùng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một cộng đồng cư dân hoặc một môi trường sống thuận tiện và tiện nghi cho người dùng.

Căn cứ theo tiết tiểu mục 2.5.5 Mục 2.5 QCVN 06:2022/BXD ban hành kèm theo Thông tư 06/2022/TT-BXD thì phân nhóm nguy hiểm cháy theo công năng đối với nhà, công trình, khoang cháy và gian phòng như sau: Trong các nhà chứa các nhóm nguy hiểm cháy theo mục đích sử dụng cụ thể, nếu cho phép sắp xếp các khu vực và phòng có nguy cơ cháy khác nhau chung một không gian, ngoài việc tuân theo các yêu cầu chung của tiêu chuẩn này, cần đảm bảo thêm các điều kiện phù hợp với các tiêu chuẩn thiết kế cụ thể của nhà và các thiết bị kỹ thuật tương ứng. Do đó, các căn nhà chung cư được phân loại vào nhóm F1 là nhà ở thường xuyên hoặc tạm thời (bao gồm cả những nơi ở suốt ngày đêm) thuộc nhóm F1.3.

2. Yêu cầu về phòng cháy chữa cháy đối với lối thoát nạn của nhà chung cư

Theo quy định của Mục 8 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6160:1996 về yêu cầu thiết kế lối thoát nạn trong nhà cao tầng:

- Trong nhà cao tầng phải có ít nhất 2 lối thoát nạn để đảm bảo an toàn cho người dân khi có cháy, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác cứu hỏa. Khi có cháy, việc có nhiều lối thoát nạn giúp cư dân có nhiều lựa chọn hơn để sơ tán ra khỏi tòa nhà một cách an toàn và nhanh chóng. Điều này giảm nguy cơ xảy ra tình trạng tắc nghẽn và tăng cơ hội cho mọi người thoát ra ngoài. Khi có nhiều lối thoát nạn, các đội cứu hỏa sẽ có thể tiếp cận và di chuyển trong tòa nhà một cách dễ dàng hơn để tiến hành cứu hỏa, kiểm tra và đảm bảo an toàn cho mọi người.

- Trong trường hợp diện tích mỗi tầng của nhà cao tầng lớn hơn 300 m2, hành lang chung hoặc lối đi phải có ít nhất hai lối thoát dẫn ra hai cầu thang thoát nạn. Được phép thiết kế một cầu thang thoát nạn ở một bên, trong khi phía kia phải có ban công nối với thang thoát nạn bên ngoài nếu diện tích mỗi tầng nhỏ hơn 300 m2. Lưu ý rằng ban công này phải đủ sức chứa số lượng người tính toán trong các phòng trên tầng đó.

- Lối thoát nạn được xem là an toàn khi đáp ứng một trong các điều kiện sau: Ra ngoài trực tiếp từ các phòng ở tầng 1 hoặc qua tiền sảnh. Ra khỏi các phòng ở bất kỳ tầng nào (trừ tầng 1) ra hành lang có lối ra hoặc qua cầu thang an toàn hoặc hành lang an toàn, đều dẫn ra ngoài. Từ các phòng ở tầng bất kỳ, vào phòng kế bên ở cùng tầng (trừ tầng 1) và từ đó có lối thoát như mô tả ở phần a và b.

- Cầu thang an toàn và hành lang an toàn phải đáp ứng các yêu cầu sau: Kết cấu chịu lực và kết cấu bao che phải có khả năng chịu lửa không dưới 60 phút. Cửa ngăn cháy phải tự động đóng và được làm từ vật liệu không cháy, có khả năng chịu lửa không dưới 45 phút. Phải có hệ thống thông gió và không gian không bị nghẹt khói trong buồng thang. Phải có đèn chiếu sáng sự cố. Thang phải thông thoáng từ mặt đất lên các tầng và phải có lối thoát lên mái.

- Khoảng cách tối đa cho phép từ cửa ra của phòng xa nhất đến lối thoát gần nhất (trừ phòng vệ sinh, nhà tắm) không được vượt quá: 50 mét cho phòng ở giữa hai thang hoặc hai lối ra ngoài, 25 mét cho phòng chỉ có một thang hoặc một lối ra ngoài của nhà phụ trợ; 40 mét cho phòng ở giữa hai thang hoặc hai lối ra ngoài, 25 mét cho phòng chỉ có một thang hoặc một lối ra ngoài của nhà công cộng, nhà ở tập thể hoặc căn hộ.

- Tổng chiều rộng của cửa, lối thoát nạn, hành lang hoặc bậc thang được tính: 1 mét cho mỗi 100 người. Tuy nhiên, không được nhỏ hơn: 0,8 mét cho cửa ra vào; 1 mét cho lối đi; 1,4 mét cho hành lang; 1,05 mét cho bậc thang.

- Chiều cao của cửa ra vào, lối đi trên đường thoát nạn phải đảm bảo không thấp hơn 2 mét; đối với tầng hầm, tầng chân tường không thấp hơn 1,9 mét; đối với tầng hầm mái không thấp hơn 1,5 mét.

- Thang chữa cháy được sử dụng như là lối thoát nạn thứ hai phải đáp ứng các yêu cầu sau: Chiều rộng tối thiểu 0,7 mét; Góc nghiêng lớn nhất so với mặt phẳng ngang không vượt quá 60 độ; Phải có tay vịn cao 0,8 mét;

- Số bậc thang của mỗi bậc thang không được ít hơn 3 và không quá 18 bậc. Không được sử dụng thang xoắn ốc hoặc thang hình dẻo quạt làm lối thoát nạn. Góc nghiêng lớn nhất của thang là 1:1,75. Do đó, trong trường hợp của nhà chung cư, cũng cần tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật như trên. Đồng thời, phải có ít nhất 2 lối thoát nạn để đảm bảo an toàn cho người dân trong trường hợp cháy và để hỗ trợ hoạt động cứu hỏa. Lưu ý: Những yêu cầu này áp dụng cho nhà chung cư có chiều cao từ 25 mét đến 100 mét (tương đương từ 10 tầng đến 30 tầng) và không áp dụng cho các công trình cao hơn 100 mét.

3. Số lối thoát nạn tối thiểu mà nhà chung cư cần phải có

Căn cứ tiết 3.2.6 tiểu mục 3.2 Mục 3 QCVN 06:2022/BXD ban hành kèm theo Thông tư 06/2022/TT-BXD quy định về số lượng các thoát nạn tại một tòa nhà cung cư như sau: Các tầng nhà dưới đây phải được trang bị không ít hơn hai lối ra thoát nạn:

- Các tầng thuộc các nhóm F1.1; F1.2; F2.1; F2.2; F3; F4;

- Các tầng nhà có số lượng người từ 50 trở lên;

- Các tầng thuộc nhóm F1.3 khi tổng diện tích các căn hộ trên một tầng lớn hơn 500 m2 (đối với các nhà đơn nguyên thì tính diện tích trên một tầng của đơn nguyên). Trong trường hợp tổng diện tích các căn hộ trên một tầng nhỏ hơn hoặc bằng 500 m2 và chỉ có một lối ra thoát nạn từ một tầng, thì từ mỗi căn hộ ở độ cao lớn hơn 15 m, ngoài lối ra thoát nạn, cần có một lối ra khẩn cấp theo quy định tại 3.2.13;

- Các tầng của nhà thuộc nhóm F5, hạng A hoặc B khi số người làm việc trong ca đông nhất lớn hơn 5 người, hạng C khi số người làm việc trong ca đông nhất lớn hơn 25 người;

- Các tầng hầm và nửa hầm có diện tích lớn hơn 300 m2 hoặc được sử dụng cho hơn 15 người cùng mặt đồng thời.

Như vậy, theo quy định, một tòa nhà chung cư không được phép có ít hơn hai lối thoát nạn khi tổng diện tích các căn hộ trên một tầng lớn hơn 500 m2 (đối với các nhà đơn nguyên thì tính diện tích trên một tầng của đơn nguyên). Trong trường hợp tổng diện tích nhỏ hơn hoặc bằng 500 m2 và chỉ có một lối thoát nạn từ một tầng, thì từ mỗi căn hộ ở độ cao lớn hơn 15 m, ngoài lối thoát nạn phải có, một tòa nhà chung cư phải bổ sung thêm một lối ra khẩn cấp.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Cửa thoát nạn trong chung cư phải đảm bảo kích thước tối thiểu bao nhiêu? 

Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!