- 1. Nhân học là gì?
- 2. Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
- 3. Quan niệm về con người trong triết học phương Tây trước Mác
- 4. Quan điểm của triết học Mác Lênin về bản chất con người
- 4.1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội
- 4.2. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội
- 4.3. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
- 5. Phân ngành nghiên cứu nhân học
1. Nhân học là gì?
Nhân học (anthropology) là ngành nghiên cứu nhiều khía cạnh của loài người trong các xã hội quá khứ và hiện tại. Nhân loại học xã hội và nhân học văn hóa nghiên cứu các chuẩn mực và giá trị xã hội. Nhân học ngôn ngữ nghiên cứu về cách mà ngôn ngữ tác động tới đời sống xã hội. Nhân học sinh học hay nhân học hình thể nghiên cứu về sự phát triển sinh học của con người.
Khảo cổ học, lĩnh vực nghiên cứu văn hóa nhân loại trong quá khứ thông qua khảo cứu các chứng tích thể lý, được coi là một nhánh của nhân học tại Hoa Kỳ, trong khi tại châu Âu, nó được coi là một ngành riêng biệt hoặc được nhóm vào ngành khác như lịch sử.
Trong các tiếng châu Âu, thuật ngữ "nhân học" bắt nguồn từ các từ trong tiếng Hy Lạp là anthropos có nghĩa là "con người" và logos có nghĩa là "nghiên cứu". Tại Việt Nam, nhân học còn được gọi là nhân chủng học nhưng cần lưu ý đây còn là một tên gọi khác của phân ngành nhân học hình thể.
2. Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
Trước triết học Mác Lênin, vấn đề bản chất con người vẫn chưa được lý giải một cách khoa học. Không những chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo mà cả chủ nghĩa duy vật siêu hình cũng không nhận thức đúng bản chất con người.
Từ thời cổ đại, con người bắt đầu tìm hiểu nguồn gốc của mình và có những ý thức ban đầu về sức mạnh chính bản thân mình. Các nước chịu ảnh hưởng của Khổng giáo, phật giáo và lão giáo triết học cũng giải thích con người từ một đấng thần linh tối cao hoặc từ một lực lượng siêu nhiên. Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật chất và tinh thần). Đời sống của con người trên trần thế chỉ là hư ảo, ảo giác. Do vậy, cuộc sống con người khi sống chỉ là sống nhờ, sống gửi. Cuộc sống vĩnh cửu khi đạt tới cõi Niết Bàn, nơi linh hồn con người được siêu thoát để trở thành bất diệt. Do sự chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc duy vật chất phác mà quan niệm về bản chất con người trong Nho giáo, lão giáo cũng hết sức phong phú. Khổng tử cho rằng “Thiên mệnh” là đấng tối cao chi phối quyết định bản chất con người, ở con người (bậc quân tử) đức “Nhân” chính là giá trị cao nhất. Khổng Tử bàn về con người có nhiều tiến bộ: đó là con người thực tế và khá toàn diện ở nhiều mối quan hệ và mối quan hệ nào cũng yêu cầu “chính danh”. Tuy nhiên, ông có hạn chế là không thấy được con người trong quan hệ kinh tế. Mạnh tử lại qui tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnh hưởng của tập quán, phong tục xấu nên con người bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt. Vì vậy, muốn giữ được đạo đức của mình thì phải qua tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên. Khổng Tử và Mạnh Tử đều thống nhất cho rằng phải lấy lòng nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt con người hướng tới có giá trị cao đẹp. Ngược lại với quan niệm của Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử lại cho rằng, con người sinh ra đã có bản chất là ác, nhưng cái ác đó có thể bị loại bỏ, thay vào đó là cái tốt, biện pháp để đạt đến cái tốt là chống lại cái ác.
Trong triết học phương Đông cũng tồn tại quan điểm cho rằng, con người và trời có thể hoà hợp được với nhau (thiên nhân hợp nhất) đó là quan điểm duy tâm. Kế thừa nho giáo theo khuynh hướng duy tâm cực đoan, Đổng Trọng Thư cho rằng con người và trời có thể thông hiểu lẫn nhau (thiên nhiên cảm ứng) với mục đích ứng dụng những quan điểm Nho gia vào đời sống xã hội. Đổng Trọng Thư đã làm nghèo nàn đi nhiều giá trị nhân bản, qui cuộc đời con người vào vai trò quyết định của “thiên mệnh”.
Phái Đạo gia với đại diện tiêu biểu là Lão Tử, quan niệm rằng con người sinh ra từ “Đạo”. Do vậy con người phải “vô vi” trong cuộc sống. Đó không phải là cái thụ động, bất động mà là hành động theo bản tính tự nhiên của Đạo. Quan điểm này thể hiện tư tưởng duy tâm chủ quan của triết học Đạo gia…
Như vậy, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phương Đông thể hiện sự đa dạng, phong phú khi bàn về bản chất con người. Các quan niệm đó thiên về vấn đề con người trong mối quan hệ chính trị, đạo đức. Đó là quan niệm về con người với biểu hiện của sự pha trộn giữa yếu tố duy tâm với tính duy vật chất phác ngây thơ trong quan hệ với tự nhiên và xã hội.
3. Quan niệm về con người trong triết học phương Tây trước Mác
Trước Mác, ở phương Tây cũng có rất nhiều quan điểm về con người. Nói chung các tôn giáo đều cho rằng con người do thượng đế, thần thánh sinh ra, cuộc sống con người do đấng cao sắp đặt, an bài. Đặc biệt giáo lý Ki Tô giáo quan niệm cho rằng về bản chất con người là kẻ có tội. Con người không chỉ có thể xác mà còn có linh hồn. Thể xác tồn tại tạm thời, nó sẽ mất đi nhưng linh hồn thì còn lại. Do vậy, con người phải cứu lầy linh hồn của mình.
Linh hồn hay tinh thần là phần cao quý trong con người, thể xác là phần thấp hèn, phần gần gũi với súc vật, là phần đáng kinh nhất trong cuộc sống con người. Do đó, phải thường xuyên chăm sóc phần linh hồn.
Với triết học Hy lạp cổ đại, con người được xem là khởi đầu của tư duy triết học. Con người và thế giới xung quanh phản chiếu lẫn nhau. Con người là một tiểu vũ trụ trong vũ trụ bao la. Prôtago, một nhà triết học nguỵ biện cho rằng “con người là thước đo của vũ trụ”.
Arixtốt cho rằng, chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý chí, năng khiếu nghệ thuật là làm cho con người nổi bật lên, con người là bậc thang cao nhất của vũ trụ.
Rõ ràng, triết học Hi Lạp cổ đại khi nghiên cứu về con người, bước đầu đã có sự tách biệt con người với tự nhiên, nhưng chỉ là hiểu biết bên ngoài về con người.
Bước vào thời trung cổ, với sự thống trị của thần học đối với triết học mà xuất hiện quan niệm con người là sản phẩm của thượng đế sáng tạo nên. Mọi mặt cuộc sống con người, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều do thượng đế sắp đặt. Lý trí anh minh của sáng suốt của thượng đế cao hơn trí tuệ nhỏ nhoi của con người. Con người trở nên nhỏ bé trước cuộc sống, nhưng đành bằng lòng, can phận với cuộc sống tạm bợ trên trần thế, vì hạnh phúc vĩnh cửu là ở thiên đường. Đây là quan niệm duy tâm về bản chất con người.
Thời phục hưng - cận đại, triết học đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của nước, xem con người như một thực thể có trí tuệ. Đó là yếu tố quan trọng nhằm giải thoát con người khỏi thế lực thần học thời Trung Cổ áp đặt cho con người, tiến tới giải phóng con người khỏi sự thống trị của cường quyền và thần quyền. Tuy nhiên, chưa có một trường phái nào nhận thức đầy đủ cả về mặt sinh học và mặt xã hội, thống nhất trong con người. Họ chỉ nhấn mạnh mặt cá thể mà xem nhẹ mặt xã hội của con người.
Thời cận đại, nhận thức về nguồn gốc và bản chất con người đã có một bước tiến đáng kể, triết học duy vật và duy tâm đều phản ánh những vấn đề mới mẻ do thực tiễn đặt ra.
Trong triết học cổ điển Đức, Cantơ và Hêghen đã quan niệm con người theo quan điểm duy tâm. Hêghen, đại biểu vĩ đại của chủ nghĩa duy tâm khách quan, cho rằng chính sự vận động theo những qui luật khách quan của “ý niệm tuyệt đối” đến mức độ nhất định nó sẽ tha hoá thành giới tự nhiên và con người. Vì vậy, con người chính là hiện thân của ý niệm tuyệt đối. Bước “diễu hành” của “ý niệm tuyệt đối” thông qua trình tự ý thức của con người đã đưa con người trở về với giá trị tinh thần, giá trị bản thân và cao nhất trong đời sống của con người. Hêghen cũng là người trình bày một cách có hệ thống về các qui luật của quá trình tư duy của con người, chỉ rõ cơ chế của đời sống tinh thần cá nhân trong mọi hoạt động của con người. Dù nhìn nhận con người từ góc độ duy tâm khách quan nhưng Hêghen đã khẳng định vai trò chủ thể của con người đối với lịch sử, đồng thời là kết quả của sự phát triển lịch sử.
Tiếp tục phát triển quan điểm duy vật của các nhà triết học Pháp thế kỷ XVIII, Phơ Bách, nhà triết học duy vật vĩ đại nhất trong triết học cổ điển Đức đã phê phán mạnh mẽ quan điểm duy tâm và tìm cách giải thích nguồn gốc, bản chất con người theo quan điểm duy vật. Phơ Bách đã từng khẳng định: không phải chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của chúa, mà chính con người đã tạo ra chúa theo hình ảnh của con người.
Phơ Bách đã đạt đến chủ nghĩa duy vật khi khẳng định rằng con người do sự vận động của thế giới vật chất tạo nên. Con người là kết quả của sự phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên. Con người và tự nhiên thống nhất với nhau. Đặc biệt, Phơ Bách khẳng định bản thân ý thức, tư duy của con người chỉ là sản phẩm của khí quan vật chất nhục thể, tức là bộ óc, rằng vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần mà chính tinh thần là sản phẩm tối cao của vật chất.
Tuy nhiên, Phơ Bách không còn giữ quan điểm duy vật của mình khi đi vào phân tích bản chất con người, về lịch sử của xã hội loài người. Ông chống lại sự tha hoá vào thần thánh của con người. Song con người trong quan niệm của ông là con người trừu tượng. Phơ Bách không xem xét con người trong các mối quan hệ nhất định, trong điều kiện sinh hoạt nhất định của họ, những điều kiện làm cho họ trở thành những con người đúng như đang tồn tại. Phơ Bách không thấy quan hệ giữa người với người nào khác ngoài tình yêu, tình bạn đã được lý tưởng hoá.
Tóm lại, triết học trước Mác, khi quan niệm về con người dù đứng trên nền tảng thế giới quan nào cũng không phản ánh đúng bản chất của con người. Họ đều xem xét con người một cách trừu tượng: tuyệt đối hoá tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hoá mặt tự nhiên sinh học mà không thấy được mặt xã hội trong đời sống con người. Tuy nhiên, một số trường phái triết học, một số nhà triết học cũng đạt được những thành tựu nhất định trong việc phân tích, quan sát con người, đề cao lý tính, xác lập các giá trị về nhân bản học để hướng con người tới tự do. Đó là những vấn đề có ý nghĩa tiền đề để Mác, Ăngghen và Lênin hình thành tư tưởng về con người trong triết học Mác xít.
4. Quan điểm của triết học Mác Lênin về bản chất con người
Khi phê phán quan điểm của Phơ Bách, Mác đã khái quát bản chất con người, điều đó được Mác khẳng định: “Phơ Bách hoà tan bản chất tôn giáo và bản chất con người. Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hợp những quan hệ xã hội.”
Bản chất con người được thể hiện trên những nội dung sau:
4.1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội
Kế thừa quan niệm đúng đắn về con người trong lịch sử triết học, Mác với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng đã phân biệt rõ hai mặt sinh vật và xã hội thống nhất trong con người hiện thực.
Khi tiếp cận bản chất con người ở góc độ này cần theo hướng:
Thứ nhất, con người là một thực thể tự nhiên, là sản phẩm của tự nhiên, nhưng là sản phẩm cao nhất của tự nhiên. Vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của tự nhiên.
Như vậy, tiền đề vật chất đầu tiên qui định sự tồn tại của con người là giới tự nhiên. Con người là động vật cao cấp, là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới sinh vật, như thuyết tiến hoá của Đác uyn đã chứng minh. Vì vậy, con người là bộ phận của giới tự nhiên, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người. Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ xuất hiện một số giả thuyết cố chứng minh học thuyết của Đác uyn là không có cơ sở như: con người hiện tại là sự lai tạp giữa người ngoài hành tinh với con người ở trên trái đất, y học đã tạo ra được con người trong ống nghiệm và thực tế đã thành công như trước kia chúa tạo ra con người bằng cách đó… Trên thực tế, con người hiện đại có cấu trúc cơ thể không khác gì con người cách đây 50 vạn năm. Nhưng về mặt xã hội thì con người hiện đại có bước tiến xa hơn về năng lực, sự sáng tạo, lối sống.
Thứ hai, là một thực thể tự nhiên, con người cũng có như động vật khác như nhu cầu về sinh lý và cũng có các hoạt động bản năng: đói phải ăn, khát phải uống, sinh hoạt tình dục… Nhưng giải quyết những nhu cầu đó ở con người có bước tiến xa hơn so với động vật, kể cả so với khi con người mới thoát thai khỏi động vật. Chính quá trình sinh thành, phát triển và mất đi của con người qui định bản tính sinh học trong đời sống con người. Như vậy, con người là một sinh vật có đầy đủ bản tính sinh vật.
Thứ ba, mặt tự nhiên và mặt xã hội thống nhất trong con người, mặt tự nhiên là “nền” cho con người, mặt xã hội nâng mặt tự nhiên của con người lên trên động vật.
Con người khác động vật ở chỗ có tư duy và hoạt động có mục đích. Mác không thừa nhận quan điểm cho rằng: cái duy nhất tạo nên bản chất con người là đặc tính sinh vật. Con người là một sinh vật nhưng có nhiều điểm khác với sinh vật. Vậy con người khác con vật ở chỗ nào? Trong lịch sử đã có nhiều nhà tư tưởng lớn đưa ra tiêu chí về sự khác nhau giữa con người và con vật có sức thuyết phục như:
Phranklin cho rằng con người khác con vật ở chỗ biết sử dụng công cụ lao động, Arixtốt đã gọi con người “là động vật có tính xã hội”. Pascal nhấn mạnh đặc điểm và sức mạnh của con người là ở chỗ biết suy nghĩ: con người là “một cây sậy nhưng là cây sâỵ biết suy nghĩ”. Các nhận định trên đều đúng khi nêu lên một khía cạnh về bản chất con người, nhưng đều phiến diện, không nói lên được nguồn gốc của những đặc điểm ấy và mối quan hệ biện chứng giữa chúng với nhau.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhìn vấn đề bản chất con người một cách toàn diện, cụ thể, xem xét không phải một cách chung chung trừu tượng, phiến diện như các nhà tư tưởng khác.
Theo Mác mặt xã hội của con người, có điểm nổi bật, hơn hẳn và phân biệt với động vật là con người có hoạt động lao động sản xuất vật chất. Qua quá trình lao động sản xuất: con người sản xuất ra của cải vật chất phục vụ cho cuộc sống cho mình và cho đồng loại. Sản xuất ra các giá trị tinh thần làm phong phú thêm đời sống của mình. Lao động là yếu tố hình thành bản chất xã hội của con người, hình thành nhân cách ở con người.
Thứ tư, là sự thống nhất giữa tự nhiên và xã hội nên ở con người luôn chịu sự chi phối của ba hệ thống qui luật:
Hệ thống qui luật tự nhiên: qui định sự phù hợp của cơ thể sống với môi trường, qui luật trao đổi chất, qui luật biến dị, di truyền.
Hệ thống qui luật tâm lý ý thức: như sự hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí…
Hệ thống qui luật xã hội: qui định mối quan hệ giữa người với người, đó là qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, qui luật với cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng…
Tóm lại, con người khác con vật ở cả ba mặt: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với bản than. Cả ba mối quan hệ đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chất nhất, bao quát mọi hoạt động của con người, cả trong lao động sinh con đẻ cái và trong tư duy.
4.2. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội
Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, Mác đã viết:..”Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội".
Luận điểm trên chỉ rõ: không có con người trừu tượng thoát ly khỏi điều kiện cụ thể, con người luôn tồn tại trong điều kiện lịch sử nhất định. Nghĩa là con người cùng với xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển ý thức.
Luận điểm đó được biểu hiện trên các góc độ sau:
Bản chất con người được qui định bởi tất cả các mối quan hệ xã hội, tức là bị qui định bởi mối quan hệ giữa người với người. Đó là các quan hệ giữa người với người ở một hình thái kinh tế xã hội đã bỏ qua, ở hình thái kinh tế - xã hội đương đại, ở một ý nghĩa nào đó là quan hệ giữa người với người theo định tính, theo mục tiêu lý tưởng. Đó là các mối quan hệ về vật chất, quan hệ về tinh thần giữa người với người. Quan hệ giữa người với người trong xã hội đương đại qui định bản chất của con người thì suy đến cùng quan hệ vật chất, quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất là yếu tố quyết định nhất. Bởi vì đời sống vật chất quyết định đời sống tinh thần, động cơ chi phối hoạt động của con người là lợi ích, trong đó lợi ích kinh tế là quyết định nhất.
Bản chất con người phải đặt trong quan hệ đồng loại (cộng đồng) với cá nhân trong đó mặt cộng đồng có xu hướng xích lại gần hơn. Con người hoà nhập vào cộng đồng, mang bản chất của nó vào và thể hiện bản sắc của nó. Hoà nhập vào cộng đồng không có nghĩa là đánh mất bản sắc cá nhân mà ngược lại củng cố thêm bản sắc cá nhân. Khi đề cập tới yếu tố cộng đồng thì cộng đồng dân tộc, cộng đồng giai cấp là những cộng đồng cơ bản nhất chi phối con người. Nhấn mạnh vấn đề trên không có nghĩa là bỏ qua cộng đồng nhân loại, cộng đồng người.
Bản chất con người vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính thời đại. Con người luôn bị chi phối bởi điều kiện sinh hoạt vật chất, điều kiện sinh hoạt tinh thần của thời đại. Thời đại nào có con người ấy. Tuy nhiên không được quá nhấn mạnh, đi đến chỗ tuyệt đối hoá thực tế của con người trong những điều kiện nhất định sẽ dẫn tới sai lầm vì không thể giải thích nổi những hiện tượng phức tạp của đời sống xã hội.
Luận đề khẳng định bản chất con người của Mác không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên của con người. Trái lại luận đề trên muốn nhấn mạnh sự khác biệt giữa con người và loài vật trước hết là ở bản chất xã hội của con người. Mặt khác cũng chỉ rõ sự biểu hiện phong phú ở mỗi cá nhân về phong cách, nhu cầu, lợi ích trong cộng đồng xã hội.
4.3. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh. Song điều quan trọng hơn cả là con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội. Các Mác đã từng viết “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của hoàn cảnh và của giáo dục…cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân các nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục.”
Điều đó cũng được Ăng ghen khẳng định trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”: thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu.”
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới động vật dựa vào những điều kiện sẵn có của tự nhiên, với xã hội loài người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn họ sáng tạo ra thiên nhiên thứ hai của mình.
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người. Trên cơ sở nắm bắt qui luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu thực tiễn do con người đặt ra.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử. Do vậy, bản chất con người trong mối quan hệ đối với điều kiện lịch sử xã hội, luôn vận động biến đổi cũng phải thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà trái lại, là một hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Có thể nói rằng sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ qui định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với sự vận động và biến đổi của bản chất con người.
Do đó, để phát triển bản chất người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau.
Đó là mối quan hệ biện chứng giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người.
5. Phân ngành nghiên cứu nhân học
Nhân học thường được phân ra thành 4 phân ngành cơ bản là
- Nhân học hình thể (physical anthropology, anthropologie physique)
- Nhân học văn hoá-xã hội (socio-cultural anthropology, anthropologie socio-culturelle) tổng hợp từ hai nhánh nghiên cứu từ Mỹ và Anh là Nhân học văn hoá (cultural anthropology, anthropologie culturelle) và Nhân học xã hội (social anthropology, anthropologie sociale). Ngành Dân tộc học, đặc biệt là ở Việt Nam, thường được coi như tương đương với phân ngành nhân học văn hoá-xã hội. Tuy nhiên, lưu ý rằng mục tiêu của hai ngành học về cơ bản là khác nhau.
- Khảo cổ học (archeology, archéologie) và
- Nhân học ngôn ngữ (Linguistic anthropology, Anthropologie linguistique).
Khoảng từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây, nhiều phân ngành mới đã hình thành như nhân học ứng dụng. Nhân học ứng dụng tập hợp các nhà nhân học làm việc trong các lĩnh vực khác nhau. Họ tìm cách ứng dụng các lý thuyết nhân học vào giải thích và giải quyết các vấn đề cụ thể: lĩnh vực phát triển, nông nghiệp và phát triển nông thôn, y tế và sức khỏe... Điều này tạo ra các phân ngành của nhân học ứng dụng như
- Nhân học y tế
- Nhân học sinh thái và môi trường
- Nhân học kinh tế
- Nhân học đô thị
- Nhân học phát triển
- Nhân học giáo dục
Tuy có những khác biệt về đối tượng, mục đích và cách tiếp cận nghiên cứu cụ thể nhưng tất cả các phân ngành của nhân học đều có mối quan hệ với nhau, đều cố gắng hiểu bản chất sinh học và văn hoá của con người, đều nhấn mạnh tới vai trò của văn hoá và các phương pháp tiếp cận được áp dụng đều mang tính so sánh. Một trong số các phương pháp thường dùng trong nghiên cứu là Dân tộc ký.