1. Nhận hối lộ được hiểu là hành vi như nào?
Nhận hối lộ được hiểu là hành vi nhận tiền, quà tặng hoặc lợi ích có giá trị khác từ một bên thứ ba nhằm ảnh hưởng đến quyết định hoặc hành động của người nhận trong vị trí quyền lực hoặc có thẩm quyền. Hành vi này thường được thực hiện với mục đích chiếm đoạt, tham nhũng, ảnh hưởng hoặc mua chuộc người có quyền lực để làm theo ý muốn và lợi ích của bên cung cấp hối lộ.
Nhận hối lộ là một hành vi vi phạm đạo đức và pháp luật, gây ảnh hướng xấu đến sự công bằng, minh bạch và độc lập của quyết định và hành động. Nó có thể xảy ra trong nhiều lĩnh vực, bao gồm chính trị, kinh tế, quản lý, tư pháp, y tế, giáo dục và nhiều ngành nghề khác.
Nhận hối lộ là một vấn đề nghiêm trọng và bị xem là tội phạm. Nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã thiết lập các luật và chính sách để chống lại hối lộ và trừng phạt những người có liên quan. Những biện pháp phòng ngừa và xử lý việc nhận hối lộ bao gồm việc tăng cường kiểm soát, áp dụng quy tắc đạo đức, mở rộng tranh cử và truyền thông công khai, tăng cường giáo dục và tạo ra môi trường công bằng và minh bạch.
2. Nhận hối lộ với tổng số tiền lên tới gần 165 tỷ đồng thì có bị tử hình không?
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội nhận hối lộ thì:
Điều kiện phạm tội:
- Người bị kết án tội nhận hối lộ là người lợi dụng chức vụ, quyền hạn (trực tiếp hoặc qua trung gian) nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích cho bản thân hoặc cho người hoặc tổ chức khác. Người đó thực hiện hành vi này vì lợi ích của mình hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
- Độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự: Người phạm tội nhận hối lộ phải đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.
- Đặc điểm của chủ thể tội nhận hối lộ: Chủ thể của tội này phải là người có chức vụ và quyền hạn trong các cơ quan tổ chức, doanh nghiệp, hoặc các tổ chức ngoài nhà nước. Chủ thể có thể đang đảm nhiệm các chức vụ liên quan đến quản lý nhân sự và người lao động ở mọi cấp bậc. Hoặc chủ thể có thể là người quản lý không có quyền hạn nhưng vẫn có sự can thiệp gây ảnh hưởng đối với người khác, nhằm mục đích nhận hối lộ từ người đi hối lộ. Chủ thể có thể tham gia với tư cách là đồng phạm, người giúp sức hoặc người xúi dục.
- Quyền hạn trách nhiệm của chủ thể: Đối với người có chức vụ và quyền hạn trực tiếp thực hiện hành vi nhận hối lộ và tạo ra quyền lợi cho người đi hối lộ, chắc chắn phải có quyền hạn trách nhiệm liên quan đến vấn đề đó.
Mức án phạt:
- Nếu giá trị của hối lộ là từ 02 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng (hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật trước đó về hành vi này mà vẫn vi phạm hoặc đã bị kết án về các tội khác trong cùng chương này và chưa được xóa án tích), người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.
- Nếu lợi ích nhận được không phải là vật chất (lợi ích phi vật chất), không có giá trị cụ thể được đề cập. Trường hợp nghiêm trọng hơn:
+ Nếu giá trị của hối lộ là từ 01 tỷ đồng trở lên, người phạm tội sẽ bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
+ Nếu việc nhận hối lộ gây thiệt hại về tài sản trị giá từ 05 tỷ đồng trở lên, người phạm tội sẽ bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Hình phạt khác:
Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ trong một khoảng thời gian từ 01 đến 05 năm, bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Quy định đối với người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước: Người nhận hối lộ trong trường hợp này sẽ bị xử lý theo quy định trong Điều này.
Từ phân tích, có thể thấy rằng tội nhận hối lộ có mức án phạt cao nhất là tử hình khi giá trị tài sản nhận hối lộ từ 01 tỷ đồng trở lên. Do đó, với hành vi nhận hối lộ 165 tỷ đồng thì hình phạt hình sự áp dụng sẽ là tử hình.
3. Nộp lại tiền nhận hối lộ thì có được xóa án tử hình không?
Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP, nguyên tắc xử lý đối với tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ được quy điịnh như sau:
Việc xử lý tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ phải tuân thủ nghiêm khắc các nguyên tắc của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự.
Miễn án cao nhất và áp dụng chính sách khoan hồng đặc biệt:
- Trong quá trình tố tụng, nếu người phạm tội nhận hối lộ đã tự nguyện nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản nhận hối lộ và đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn, thì không áp dụng mức cao nhất của khung hình phạt mà người phạm tội bị truy tố, xét xử.
- Đồng thời, xem xét áp dụng chính sách khoan hồng đặc biệt miễn hình phạt theo quy định tại Điều 59 của Bộ luật Hình sự hiện hành đối với các trường hợp người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự hiện hành hoặc người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
Các trường hợp áp dụng chính sách khoan hồng đặc biệt:
- Nếu người phạm tội không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, mà chỉ vì muốn đổi mới, dám đột phá vì sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
- Nếu người phạm tội là người có quan hệ lệ thuộc, không ý thức được đầy đủ hành vi phạm tội của mình, không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, không được hưởng lợi.
- Nếu người phạm tội đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần có hiệu quả vào việc điều tra, xử lý tội phạm.
- Nếu người phạm tội đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra.
- Nếu người phạm tội sau khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra.
Từ Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hình phạt tử hình và các trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình.
Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộc một số nhóm tội, bao gồm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật Hình sự quy định. Trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình: Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.
Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án trong các trường hợp sau:
- Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
- Người đủ 75 tuổi trở lên.
- Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản hoặc tội nhận hối lộ, nhưng sau khi bị kết án đã tự nguyện nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô hoặc nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.
Tổng quan, nếu người nhận hối lộ sau khi bị kết án tử hình đáp ứng các điều kiện như hợp tác tích cực với cơ quan chức năng hoặc lập công lớn, thì có thể được miễn án tử hình.
Xem thêm: Cánh sát giao thông nhận tiền có bị coi là hối lộ
Luật Minh Khuê hỗ trợ giải đáp các thắc mắc nhanh chóng qua các phương thức như: số tổng đài 1900.6162 hoặc qua địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn