1.Hộ gia đình

Theo BLDS Ðiều 106, hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này. Sự thành lập hộ gia đình. Hộ gia đình luôn bắt đầu bằng hai người kết hợp với nhau do quan hệ hôn nhân và khối tài sản chung của hộ gia đình luôn có các yếu tố thứ nhất là các tài sản chung của vợ và chồng. Các thành viên khác của hộ gia đình xuất xứ từ ba nguồn: 1 - Tự nhiên, tức là do được cha và mẹ - hai thành viên đầu tiên - sinh ra, sau đó tham gia vào hoạt động kinh tế chung của hộ, khi có đủ khả năng lao động; trong các hộ gia đình tồn tại lâu năm còn có các thành viên có xuất xứ tự nhiên do được một thành viên không phải là người sáng lập ra hộ gia đình sinh ra, sau đó tham gia vào hoạt động kinh tế chung của hộ; 2 - Nuôi con nuôi, tức là được thành viên của hộ nhận làm con nuôi, sau đó tham gia vào hoạt động kinh tế của hộ; 3 - Hôn nhân, một người ngoài hộ kết hôn với một thành viên trong hộ và sau đó, cùng với cả hộ thực hiện hoạt động kinh tế chung. Ta thấy rằng thành viên của hộ gia đình trước hết phải là thành viên của gia đình; nhưng không phải thành viên nào của gia đình cũng là thành viên của hộ gia đình: chỉ gọi là thành viên của hộ gia đình, những thành viên nào của gia đình tham gia vào hoạt động kinh tế chung của hộ. Hộ gia đình đương nhiên có tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật mà không cần xúc tiến một thủ tục pháp lý nào. Chế độ pháp lý của hộ gia đình. Hộ gia đình được đại diện bởi chủ hộ. Thông thường chủ hộ gia đình là người đứng đầu gia đình theo tập quán - cha, mẹ, ông, bà. Có trường hợp cha, mẹ, ông, bà đều mất hoặc không còn tham gia vào hoạt động kinh tế chung của hộ, thì chủ hộ có thể là con trưởng hoặc con thứ đã thành niên, tuỳ theo kết quả dàn xếp trong nội bộ gia đình. Nếu cha, mẹ, ông, bà không còn đứng đầu hộ gia đình mà giữa những người có liên quan không có được sự dàn xếp cần thiết, thì hộ gia đình sẽ được chia nhỏ thành các hộ gia đình mới. Chủ hộ gia đình được giao các quyền hạn rộng rãi trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch dưới danh nghĩa của hộ, kể cả các giao dịch có tác dụng định đoạt tài sản. Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện cho hộ trong quan hệ dân sự (BLDS Ðiều 107 khoản 1). Hộ gia đình có năng lực pháp luật phù hợp với mục đích tồn tại của nó: để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, ... Nói chung, theo tập quán, hộ gia đình có năng lực có quyền và nghĩa vụ gần giống như cá nhân, trừ các quyền và nghĩa vụ gắn liền với con người - quyền kết hôn, quyền nhận cha, mẹ cho con, quyền lập di chúc,... Hộ gia đình có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trước Toà án. Hộ gia đình có một khối tài sản, gọi là khối tài sản chung của hộ. Thông thường, khối tài sản có của hộ gồm các tài sản chuyên dùng để hoạt động kinh tế chung. BLDS Điều 108 quy định : Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ. Song, khác với khối tài sản của pháp nhân hoặc của cá nhân, các tài sản nợ của hộ gia đình được bảo đảm không chỉ bằng các tài sản có chung của hộ mà còn cả bằng các tài sản có thuộc khối tài sản riêng của thành viên của hộ (Ðiều 110 khoản 2). Các chủ nợ riêng của thành viên không có quyền yêu cầu kê biên tài sản chung của hộ; nhưng nếu mỗi thành viên đều có nghĩa vụ đối với một chủ nợ, thì chủ nợ này lại có quyền đó.

2. Tổ hợp tác

Tổ hợp tác là sự kết nhóm của từ 3 cá nhân trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi ích và cùng chịu trách nhiệm (BLDS Ðiều 111 khoản 1 và Ðiều 112). Trên thực tế, tổ hợp tác hình thành từ sự thoả thuận giữa những người có cùng nghề nghiệp nông nghiệp hoặc thủ công nghiệp, nhằm tập họp các nỗ lực của cá nhân, tạo thành nỗ lực chung để thực hiện các hoạt động nghề nghiệp đó với hiệu quả cao hơn so với trường hợp cá nhân hoạt động riêng lẻ. Có thể coi tổ hợp tác như là một nhân vật pháp lý nằm giữa pháp nhân và nhóm thực tế trong lĩnh vực kinh tế. Thành lập tổ hợp tác. Hợp đồng thành lập tổ hợp tác phải lập thành văn bản có chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn (Ðiều 111 khoản 1). Luật không nói rõ tại UBND địa phương nào mà tổ hợp tác phải yêu cầu chứng thực hợp đồng. Có lẽ, thẩm quyền chứng thực thuộc về UBND địa phương nơi cư trú của tổ trưởng, ngay nếu như tổ trưởng cư trú ở một nơi, trong khi tổ tiến hành các hoạt động hoặc phần lớn hoạt động ở một nơi khác: nơi cư trú của tổ trưởng và của các tổ viên phải được ghi nhận trong hợp đồng thành lập tổ hợp tác, như là một trong những nội dung chủ yếu của hợp đồng; còn nơi hoạt động của tổ hợp tác không nhất thiết được ghi nhận trong hợp đồng đó. Ngoài nơi cư trú của các thành viên, hợp đồng thành lập tổ hợp tác còn phải có các chi tiết về mục đích, thời hạn của hợp đồng hợp tác; họ tên của các thành viên; mức đóng góp tài sản (nếu có); phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức giữa các tổ viên; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ trưởng, của các tổ viên; điều kiện nhận tổ viên mới và ra khỏi tổ hợp tác; điều kiện chấm dứt tổ hợp tác và các thoả thuận khác (Ðiều 111 khoản 2). Số lượng tổ viên tối thiểu mà tổ hợp tác phải có là 3 người. Tổ viên thường là những người có cùng nghề nghiệp, nhưng không nhất thiết có quan hệ thân thuộc. Chế độ pháp lý của tổ hợp tác. Tổ hợp tác được đại diện bởi tổ trưởng, do các tổ viên cử ra (Ðiều 113). Thể thức cử tổ trưởng hẳn phải được quy định trong hợp đồng thành lập tổ. Tổ trưởng có thể uỷ quyền cho tổ viên thực hiện một số công việc nhất định cần thiết cho tổ (cùng điều luật). Tổ trưởng tổ hợp tác không có những quyền hạn rộng rãi trong việc đại diện như chủ hộ gia đình: các giao dịch do tổ trưởng xác lập nhân danh tổ phải đượüc sự đồng ý của đa số tổ viên (cùng điều luật), nhắc lại rằng “đa số tổ viên” chứ không phải “đa số tổ viên dự họp”; riêng việc định đoạt các tài sản là tư liệu sản xuất của tổ phải được sự đồng ý của tất cả tổ viên (Ðiều 114 khoản 3). Tổ hợp tác có năng lực pháp luật giới hạn trong phạm vi mục đích hoạt động của tổ, như năng lực pháp luật giới hạn của pháp nhân.Tổ hợp tác có một khối tài sản. Cũng như tài sản của hộ gia đình, tài sản của tổ hợp tác là tài sản chuyên dùng. Và cũng như khối tài sản nợ của hộ gia đình, tài sản nợ của tổ hợp tác được bảo đảm không chỉ bằng tài sản có của tổ hợp tác mà còn cả bằng tài sản có của các tổ viên (Ðiều 117 khoản 2). Chấm dứt tổ hợp tác và thanh toán tài sản - Tổ hợp tác chấm dứt trong những trường hợp được dự liệu tại BLDS Ðiều 120 khoản 1, bao gồm: a) Hết thời hạn ghi trong hợp đồng hợp tác; b) Mục đích của việc hợp tác đã đạt được; c) Các tổ viên thoả thuận chấm dứt tổ hợp tác. Việc chấm dứt tổ hợp tác phải được báo cáo với UBND xã, phường, thị trấn nơi đã chứng thực hợp đồng hợp tác (cùng điều luật). Tổ hợp tác cũng có thể chấm dứt theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong những trường hợp do pháp luật quy định (Ðiều 120 khoản 2). Tài sản còn lại của tổ hợp tác, sau khi thanh toán các khoản nợ, được phân chia cho các tổ viên theo tỷ lệ tương ứng với phần đóng góp của mỗi người, trừ trường hợp có thoả thuận khác (Ðiều 120 khoản 3).

3.Khái niệm tài sản - Thuật ngữ “tài sản” (biens - property) 

- Thứ nhất: về phương diện pháp lý, tài sản là của cải được con người sử dụng. “Của cải” là một khái niệm luôn luôn biến đổi và hoàn thiện cùng với sự phát triển của quan niệm về giá trị vật chất. Ở xã hội La Mã cổ xưa, nhắc đến tài sản người ta liên tưởng ngay đến những của cải trong gia đình như ruộng đất, nhà cửa, gia súc...Còn trong xã hội hiện đại ngày nay, ngoài của cải trong gia đình, chúng ta còn có một số loại tài sản đặc biệt, như năng lượng mặt trời, thủy năng, sóng vô tuyến, phần mềm máy tính...

 - Thứ hai: trong ngôn ngữ thông dụng hằng ngày, tài sản là một vật cụ thể mà có thể nhận biết bằng các giác quan và được con người sử dụng trong đời sống hằng ngày. Dù được hiểu theo các nào, tài sản cũng có hai loại, tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình. Hay nói khác đi, các tài sản đều hữu hình hoặc đều có thể hữu hình hóa. Bởi lẽ, một quyền gắn với tài sản - gọi là tài sản vô hình - có thể trở thành tài sản hữu hình khi quyền đó được thực hiện bằng việc sử dụng nó làm một vật thay thế trong một giao dịch, hoặc khi quyền đó được định giá bằng tiền hay được chuyển nhượng có đền bù... Và dù vô hình hay hữu hình, của cải hay vật chỉ có thể là tài sản nếu chúng được sở hữu, nghĩa là thuộc về một người nào đó hay chính xác hơn là thuộc về một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Khái niệm sản nghiệp Sản nghiệp (theo tiếng Latinh là patrimonium), với tư cách là phạm trù kỹ thuật của khoa học luật được hiểu là một tổng thể các quan hệ pháp luật về tài sản, là tập hợp các tài sản có và tài sản nợ của một chủ thể chứ không chỉ đơn thuần là một bộ sưu tập đồ vật. Bất kỳ yếu tố nào của tài sản nợ cũng được bảo đảm bằng toàn bộ tài sản có và ngược lại bất kỳ yếu tố nào của tài sản có cũng có thể được dùng để thanh toán toàn bộ tài sản nợ.

4.Tài sản có thuộc sản nghiệp

Tài sản có thuộc sản nghiệp là tập hợp tất cả những tài sản thuộc về chủ sở hữu, hay đúng hơn đó là tập hợp tất cả những quyền tài sản có cùng một chủ thể. Tuy nhiên, các quyền tài sản chỉ được xem là các yếu tố của một sản nghiệp khi các quyền đó có thể được định giá bằng tiền. Do đó, các quyền không định giá được bằng tiền được gọi là các quyền không có tính chất tài sản hay là quyền nhân thân ( Ví dụ như quyền đối với tên họ; quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm; quyền bầu cử; quyền khiếu nại, tố cáo...). Các quyền tài sản tạo thành một tập hợp - sản nghiệp - và tập hợp này tồn tại độc lập với các quyền tài sản đó. Tài sản có thể được mua bán, sử dụng, hao mòn, thậm chí biến mất nhưng sản nghiệp vẫn được duy trì. Do đó, một chủ nợ không có bảo đảm chỉ có quyền yêu cầu kê biên và bán đấu giá bất kỳ tài sản nào của người mắc nợ ở thời điểm kê biên mà sẽ không có quyền này đối với những tài sản đã chuyển nhượng trước khi nợ đến hạn đòi. Mặt khác, cần chú ý rằng sản nghiệp không chỉ là tài sản hiện có mà còn bao gồm cả những tài sản sẽ có của chủ sở hữu.

5.Tài sản nợ thuộc về sản nghiệp

Tài sản nợ thuộc về sản nghiệp là tất cả những nghĩa vụ tài sản của một người. Hay nói một cách đơn giản hơn đó là những gì còn lại của khối tài sản sau khi đã trừ đi các giá trị của các nghĩa vụ tài sản. Trong kinh tế học, có khái niệm tài sản có ròng (actif net) của sản nghiệp. Khi tài sản có ròng có giá trị dương, ta nói sản nghiệp có khả năng thanh toán; và ngược lại, nếu đó là một giá trị âm, đồng nghĩa với việc sản nghiệp không có khả năng thanh toán những nghĩa vụ có liên quan. Mặc dù vậy, dù có khả năng thanh toán hay không, sản nghiệp luôn luôn tồn tại.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)