1. Suy nghĩ về một thông điệp có ý nghĩa được rút ra từ truyện Vợ nhặt

Truyện ngắn "Vợ Nhặt" của nhà văn Kim Lân thật sự là một bài học về lòng yêu thương, về cái đẹp của tình người trong cuộc sống hàng ngày. Tình yêu thương, không hình thức nào có thể diễn tả hết, như một viên ngọc quý lấp lánh, không thể nắm bắt nhưng lại tồn tại một cách rõ ràng trong cuộc sống của chúng ta.

Tình yêu thương không giới hạn, nó trải rộng từ trái tim của mỗi người ra đến mọi ngóc ngách cuộc sống. Nhìn thấy những cảnh đau lòng như đứa trẻ mồ côi bơ vơ, cụ già mong manh tìm ẩn náu hay những người dân đang chịu đựng nỗi đau từ cơn bão, lòng ta rưng rức xót xa. Tình yêu thương là sự quan tâm đến người khác, một cảm giác từ bi mà mỗi con người đều có.

Nó không phân biệt thời gian hay không gian, không cần sự gặp gỡ trực tiếp. Tình yêu thương tồn tại trong trái tim, vô vàn, không ràng buộc. Và vì yêu thương, chúng ta sẵn sàng đóng góp, chăm sóc, xây dựng những mái ấm tình thương, để bảo vệ, che chở những người bất hạnh.

Có khi, những người làm việc này không mong được công nhận hay khen ngợi. Họ chỉ cần nơi nào có tình yêu thương, nơi ấy là nơi ấm áp, hạnh phúc. Bởi vì tình yêu thương chính là sức mạnh vô biên, là nguồn động viên tinh thần, là động lực giúp cho cuộc sống trở nên đẹp đẽ hơn.

 

2. Bài văn nghị luận về tác phẩm truyện Chí Phèo

Tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao không chỉ đánh dấu sự thành công của ông trong văn học hiện thực trước cách mạng tháng Tám mà còn cho thấy khả năng tài nghệ đặc biệt của ông trong việc khám phá nghệ thuật xây dựng cảnh tượng và nhân vật.

"Chí Phèo" không chỉ đơn thuần là một tác phẩm văn học về xã hội, mà còn là một bức tranh sâu sắc về tâm lý con người. Nam Cao đã tạo nên một loạt nhân vật đa dạng, từ những nhân vật chính đến những nhân vật phản diện. Trong số đó, nhân vật Bá Kiến được tác giả khắc họa một cách rất chân thực, với sự ác độc và mưu mô như con hổ biết cười, đặc trưng cho bản chất cường hào ác bá của thời kỳ nông thôn trước cách mạng.

Nam Cao cũng tập trung khai quật đặc trưng tâm lí của nhân vật chính, Chí Phèo và Thị Nở. Hai nhân vật này có số phận khác nhau nhưng lại phản ánh lẫn nhau. Thị Nở thực chất là một nhân vật để làm nổi bật con người Chí Phèo, bi kịch Chí Phèo. Dưới bàn tay tài tình của Nam Cao, Chí Phèo hiện lên với một cuộc sống đầy biến động, từ ngày sinh ra đến đời sống, nhưng ông là biểu hiện điển hình của một dòng người trong xã hội cũ. Có Năm Thọ, Binh Chức, những hình đồng dạng với Chí Phèo, làm tăng thêm sự đa dạng và phong phú của tác phẩm.

Kết cấu của "Chí Phèo" cũng là điểm đặc biệt nổi bật. Nam Cao đã sáng tạo với cách đảo ngược thời gian từ hiện tại về quá khứ, rồi trở lại hiện tại, tạo ra một kết cấu linh hoạt và độc đáo. Sự khép kín của cốt truyện cũng là một điểm mạnh, với việc mở đầu và kết thúc tại cùng một lò gạch, tạo ra một vòng luẩn quẩn, một vòng luân hồi đầy ý nghĩa trong cuộc sống của Chí Phèo.

Vào từng chi tiết nhỏ, từng đoạn văn, Nam Cao đã sử dụng ngôn ngữ phù hợp với từng nhân vật, từ ngôn ngữ tinh tế của bọn bề trên đến ngôn ngữ thô lỗ của các nhân vật bản xứ, làm tăng sự chân thật và sinh động của tác phẩm.

Truyện ngắn "Chí Phèo" không chỉ là một tác phẩm văn học hiện thực xuất sắc mà còn là một bức tranh tâm lý sâu sắc về con người và cuộc sống xã hội vào thời điểm đó. Sự thành công của Nam Cao không chỉ là việc phát hiện ra nghệ thuật xây dựng kết cấu tác phẩm một cách sáng tạo mà còn là khả năng tài nghệ trong việc khắc họa và diễn đạt tâm lí con người một cách chân thật và sâu sắc.

 

3. Bài văn nghị luận về tác phẩm truyện Chữ người tử tù

Nguyễn Tuân (1910 - 1987) không chỉ là một nhà văn mà còn là người "suốt đời tìm kiếm cái đẹp", tạo ra những tác phẩm độc đáo, tài hoa và uyên bác. Trong số các tác phẩm nổi tiếng của ông, "Chữ người tử tù" trong tập truyện "Vang bóng một thời" được đánh giá cao như một "văn phẩm hoàn mỹ, toàn diện".

Tác phẩm kể về cuộc gặp gỡ đầy éo le giữa Huấn Cao - một người bị kết án tử hình vì chống lại triều đình và có tài viết chữ rất đẹp, và viên quản ngục - một người say mê "chơi chữ" và muốn treo chữ của Huấn Cao trong nhà. Dù được viên quản ngục biệt đãi, Huấn Cao vẫn dửng dưng. Nhưng khi nhận ra tấm lòng của viên quản ngục, ông quyết định cho chữ và khuyên viên quản ngục nên về quê sống để giữ "thiên lương cho lành vững".

Tác phẩm thể hiện quan niệm về cái đẹp và cái thiện của Nguyễn Tuân. Đối với ông, "cái tài" và "cái tâm" không thể tách rời, cái đẹp không thể sống chung với cái xấu. Đây được thể hiện qua cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao và viên quản ngục - hai người có quan điểm xã hội đối lập nhưng đều yêu cái đẹp. Mặc dù đối nghịch trong xã hội, Huấn Cao và viên quản ngục đều là những người đam mê cái đẹp. Huấn Cao là nghệ sĩ tài năng, còn viên quản ngục là người yêu thích cái đẹp. Tác giả đã tạo nên bản chất rõ nét của hai nhân vật này.

Huấn Cao được miêu tả với vẻ đẹp tài năng vượt trội, với khả năng viết chữ vô cùng xuất sắc. Mỗi nét bút của ông không chỉ là sự kết tinh của tinh hoa và tâm huyết mà còn là sự thể hiện của những khát vọng sâu sắc trong tâm hồn. Việc viết chữ đẹp của Huấn Cao đã khiến người đại diện cho trật tự xã hội phải ngưỡng mộ, thậm chí khi ông bị kết án tử. Ngòi bút của nhà văn Nguyễn Tuân không chỉ hướng về Huấn Cao, viên quản ngục cũng được nhà văn khắc họa một cách rõ nét. Viên quản ngục là người coi trọng cái đẹp, cái tài. Tuy ông ở trong "đề lao", nơi mà con người sống bằng sự tàn nhẫn, lừa lọc nhưng viên quản ngục này vẫn là "một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ". Nghe danh Huấn Cao là người có tài viết chữ đẹp nên khi "nhận được phiến trát của Sơn Hưng Tuyên đốc bộ đường", ông đã biệt đãi Huấn Cao. Sau khi được Huấn Cao cho chữ và khuyên răn, viên quản ngục đã cảm động "vái người tử tù một cái". Điều này cho thấy mong ước được thoát khỏi chốn ngục tù của viên quản ngục.            

Bên cạnh cách xây dựng tình huống truyện và nhân vật độc đáo, tác phẩm "Chữ người tử tù còn sử dụng thủ pháp đối lập, tương phản ở cảnh cho chữ - cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Nơi cho chữ là "Buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián", thời gian cho chữ là canh ba nửa đêm gợi cảm giác bí mật, thiêng liêng. Nhà văn đã đặt nhân vật vào trong một tình huống đối lập, tương phản gay gắt giữa ánh sáng và bóng tối. Đó là sự đối lập giữa bóng tối của ngục tù với ánh sáng của bó đuốc, tấm lụa và những con chữ. Người tử tù thì uy nghi, viên cai ngục lại khúm núm "Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng". Tác phẩm không chỉ tập trung vào Huấn Cao mà còn tạo nên nhân vật viên quản ngục sắc nét. Ông coi trọng cái đẹp và cái tài, mặc dù đang làm việc trong một môi trường khắc nghiệt. Viên quản ngục đã biệt đãi và cảm động trước tấm lòng của Huấn Cao.                            

Tác phẩm còn sử dụng thủ pháp đối lập, tương phản ở cảnh cho chữ - cảnh tượng chưa từng có trước đây. Việc đặt nhân vật vào trong một tình huống đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, giữa ngục tù và bóng đèn, tạo ra

>>> Tải về: Những bài văn hay lớp 11 chọn lọc hay nhất

Trên đây là bài viết Luật Minh Khuê, hy vọng bài viết đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn đọc. Xin trân trọng cảm ơn.