Mục lục bài viết
- 1. Khái quát chung về những căn cứ trả hồ sơ điều tra bổ sung trong vụ án hình sự
- 2. Thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát hoặc Tòa án không tự mình bổ sung được
- 2.1 Chứng cứ
- 2.2 Đối tượng chứng minh
- 2.3 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không
- 3. Căn cứ để khởi tố bị can hoặc xét xử bị cáo về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác
- 4. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
1. Khái quát chung về những căn cứ trả hồ sơ điều tra bổ sung trong vụ án hình sự
Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản hướng dẫn thi hành thì sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải nghiên cứu hồ sơ. Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ thì theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản hướng dẫn thi hành, nếu thấy hồ sơ thiếu những chứng cứ quan trọng mà Viện kiểm sát hoặc Tòa án không tự mình bổ sung được; có căn cứ để khởi tố bị can, bị cáo về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác; hoặc phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung. Để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời, không bỏ lọt tội phạm. Pháp luật tố tụng hình sự quy định những trường hợp cụ thể để Viện kiểm sát và Tòa án trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung. Ngoài những trường hợp đó, Viện kiểm sát và Tòa án không được trả hồ sơ mà phải tự mình hoàn chỉnh hồ sơ và quyết định truy tố theo quy định chung. Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy Viện kiểm sát và Tòa án trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung thuộc trong các căn cứ sau:
2. Thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát hoặc Tòa án không tự mình bổ sung được
2.1 Chứng cứ
Trong pháp luật tố tụng hình sự, chế định chứng cứ có vai trò, vị trí quan trọng. Việc áp dụng chế định chứng cứ sẽ đảm bảo cho hoạt động các cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử được khách quan chính xác, không để lọt tội phạm, không làm oan, sai đối với người vô tội. Đồng thời chế định chứng cứ, là yếu tố đảm bảo công tác điều tra, truy tố và xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật góp phần quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Theo quy định tại Điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự thì chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ xác định có hay không hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Qua tìm hiểu chế định chứng cứ nói chung và khái niệm chứng cứ nói riêng thấy rằng chứng cứ không chỉ đóng vai trò quan trọng xác định sự thật khách quan của vụ án, mà còn phản ánh bản thân quá trình xác định sự thật khách quan đó. Chứng cứ được xác định với tầm quan trọng như vậy thì việc xác định chứng cứ lại càng quan trọng, theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự thì chứng cứ được xác định bằng:
+ Vật chứng;
+ Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
+ Kết luận giám định;
+ Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.
2.2 Đối tượng chứng minh
Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự bao gồm nhiều tình tiết và sự kiện khác nhau, những tình tiết sự kiện đó phải được nghiên cứu, làm sáng tỏ một cách khách quan và đầy đủ, toàn diện và chính xác. Chính vì vậy mà tại Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về những sự kiện, tình tiết phải chứng minh trong vụ án hình sự gồm:
+ Có sự kiện phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
+ Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;
+Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
+ Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Với tầm quan trọng như vậy, chứng cứ được xem là chế định quan trọng nhất để giải quyết vụ án. Khi chứng cứ được xem là chế định quan trọng để giải quyết vụ án, thì việc thu thập chứng cứ cũng như việc tìm kiếm chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng lại gặp nhiều khó khăn. Nên để có một chế định chứng cứ phản ánh đúng sự thật của vụ án cơ quan tiến hành tố tụng phải dùng các biện pháp nghiệp vụ của mình để thu thập chứng cứ. Tuy nhiên việc tìm kiếm chứng cứ đó phải tuân theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và đặc biệt chứng cứ đó phải phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án mới được xem là chứng cứ quan trọng để giải quyết chính xác vụ án. Nếu trong quá trình tố tụng mà thiếu chứng cứ thì việc tiến hành các giai đoạn sau trong quá trình tố tụng không thể thực hiện vì không có căn cứ để buộc tội. Nếu đã qua được giai đoạn truy tố của Viện kiểm sát hoặc giai đoạn xét xử của Tòa án thì hậu quả nghiêm trọng hơn. Việc truy tố của Viện kiểm sát căn cứ vào những gì thu thập được trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát tiến hành truy tố tội của bị can trước pháp luật và Tòa án tiến hành xét xử căn cứ vào bản truy tố của Viện kiểm sát mà xét xử. Khi Viện kiểm sát đã truy tố sai thì quá trình xét xử của Tòa án có thể sẽ sai theo, vì theo quy định của pháp luật Tòa án chỉ định tội dựa theo những gì mà Viện kiểm sát truy tố. Khi đó Tòa án sẽ định tội sai cho mọi người và làm oan cho người vô tội vì không thể định tội đúng khi thiếu chứng cứ giải quyết vụ án. Vì vậy mà chứng cứ được Bộ luật Tố tụng hình sự xác định là chế định quan trọng để tiến hành xác định sự thật cho vụ án.
Chính vì vậy mà chứng cứ được xác định là căn cứ đầu tiên được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để trả hồ sơ điều tra bổ sung. Chứng cứ giúp Viện kiểm sát, Tòa án xác định nhiều sự kiện, tình tiết phải chứng minh trong vụ án mà Viện kiểm sát và Tòa án không tự mình bổ sung được. Để xác định việc điều tra của Cơ quan điều tra đầy đủ hay chưa, Viện kiểm sát hoặc Tòa án cần căn cứ vào Bộ luật Tố tụng hình sự về những vấn đề cần chứng minh như:
2.3 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không
Có hành vi phạm tội xảy ra hay không là chứng cứ để xác định hành vi xảy ra đó có đủ yếu tố của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự hay thuộc các trường hợp không phải là hành vi phạm tội: phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ. Hành vi phạm tội là một hiện tượng phức tạp, hình thức thể hiện của hành vi phạm tội được thực hiện dưới dạng hành động và không hành động, làm một việc hoặc không làm một việc. Hành động là làm một việc mà pháp luật cấm, còn không hành động là không làm hoặc không làm đầy đủ một việc mà pháp luật buộc phải làm. Việc đánh giá hành vi ở dạng không hành động có phải là hành vi phạm tội hay không là một vấn đề phức tạp, cần đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể và trong mối quan hệ giữa người không hành động với những người khác và những quy định của pháp luật. Ví dụ: Một người không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng dẫn đến người không cứu bị chết. Muốn xác định hành vi không cứu giúp có phải là hành vi phạm tội không, phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể lúc đó và khả năng của người không cứu giúp. Vì vậy việc xác định hành vi phạm tội của tội phạm rất quan trọng được quy định trong Bộ luật hình sự, có thể người thực hiện hành vi phạm tội nhưng hình vi đó có thể rơi vào trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ, cũng có thể đó là hành vi phạm tội của tội phạm. Nên việc xác định có hành vi phạm tội hay không là căn cứ để giải quyết vụ án cho chính xác, trong quá trình giải quyết đó nếu không xác định được phải tiến hành trả hồ sơ để điều tra xem lại hành vi đó có phải là tội phạm hay thuộc các trường hợp khác. Nếu xác định hành vi phạm tội không đúng sẽ ảnh hưởng rất lớn cho quá trình giải quyết vụ án, lúc đó nếu không được trả hồ sơ để điều tra bổ sung lại những hành vi đó có phải là tội phạm hay không, thì vụ án không đúng với sự thật.
3. Căn cứ để khởi tố bị can hoặc xét xử bị cáo về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác
Căn cứ để khởi tố bị can hoặc xét xử bị cáo về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác là việc cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện bị can, bị cáo mà đã được truy tố hoặc chưa được xét xử mà lại có hành vi cấu thành thêm một tội mới hoặc phát hiện có đồng phạm khác thì Viện kiểm sát, Toà án ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung thêm những hành vi cũng như người đồng phạm đó.
Có căn cứ để khởi tố bị can hoặc xét xử bị cáo về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự khi thuộc một trong các trường hợp sau:
Khởi tố và điều tra hoặc Viện kiểm sát truy tố về một hay nhiều tội nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can, bị cáo đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác. Sau khi xem xét hồ sơ thông qua quá trình điều tra, khởi tố, truy tố nếu trong hồ sơ vụ án Viện kiểm sát hoặc Tòa án phát hiện thấy hành vi của bị can, bị cáo đã thực hiện lại cấu thành một tội khác hay nhiều tội khác thì Viện kiểm sát, Tòa án căn cứ vào những tình tiết đó quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung làm rõ. Lúc đầu đôi khi trong quá trình khởi tố, điều tra các cơ quan tiến hành tố tụng không phát hiện ra những hành vi đó nên bị can, bị cáo chỉ bị Viện kiểm sát truy tố về một tội nào đó, nhưng khi xem xét tất cả các tình tiết vụ án thì Viện kiểm sát, Tòa án lại phát hiện có hành vi cấu thành thêm tội khác. Cấu thành tội phạm là hệ thống các dấu hiệu cần và đủ đặc trưng cho từng tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự, Khi nghiên cứu cấu thành tội phạm, nhà làm luật chia làm bốn yếu tố, gọi là bốn yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Các yếu tố này hợp thành thể thống nhất, thiếu một yếu tố thì chưa cấu thành tội phạm. Xác định hành vi thuộc yếu tố khách quan của tội phạm. Khi nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa là một yếu tố cấu thành tội phạm, không nghiên cứu tính chất nguy hiểm của hành vi, mà nghiên cứu biểu hiện của hành vi. Biểu hiện của hành vi phạm tội là những biểu hiện ra bên ngoài ý thức chủ quan của người phạm tội. Những biểu hiện này có thể bằng hành động hoặc không hành động. Hành vi tội phạm là một hiện tượng phức tạp, có thể nghiên cứu từ nhiều khía cạnh khác nhau, nên trong quá trình điều tra, truy tố của các cơ quan tiến hành tố tụng muốn xác định hành vi của bị can, bị cáo có cấu thành tội phạm hay không là một việc khó khăn. Chính vì vậy, khi nghiên cứu hồ sơ Viện kiểm sát hoặc Tòa án phát hiện được hành vi của bị can, bị cáo có cấu thành một hay nhiều tội khác thì lập tức ra quyết định trả hồ sơ để Cơ quan điều tra tiến hành điều tra bổ sung, Viện kiểm sát truy tố thêm tội mà hành vi của bị can, bị cáo thực hiện đã cấu thành một hay nhiều tội khác. Việc trả hồ sơ lần này giúp cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể là Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát truy tố đúng tội mà bị can, bị cáo thực hiện. Nếu Viện kiểm sát không truy tố đúng tội thì việc xét xử của Tòa án cũng sai theo vì Tòa án chỉ tiến hành xét xử theo tội mà Viện kiểm sát đã truy tố. Để hiểu rõ có thể điển hình một vụ án sau.
Ngoài tội phạm đã khởi tố và điều tra hoặc tội phạm đã bị truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can, bị cáo về một hoặc nhiều tội khác. Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự thì chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu phạm tội. Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu tố tụng hình sự có nhiệm vụ xác định có hay không dấu hiệu của tội phạm. Giai đoạn này mở đầu bằng việc phát hiện hoặc tiếp nhận những thông tin về tội phạm và kết thúc bằng quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự khác với nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vì trong giai đoạn điều tra khởi tố vụ án hình sự mới xác định đối tượng của tội phạm, còn nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là xác định đầy đủ những tình tiết của tội phạm và xác định kẻ phạm tội. Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, mới có những tài liệu, thông tin về tội phạm, có thể xác định ai là người thực hiện tội phạm và cũng có khi chưa xác định được là ai. Người có hành vi có dấu hiệu của tội phạm chưa phải là bị can mà chỉ trong giai đoạn điều tra, khi có chứng cứ rõ ràng hơn thì họ mới bị khởi tố là bị can. Với tầm quan trọng như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nếu ngoài tội phạm đã khởi tố và điều tra hoặc tội phạm đã bị truy tố. Chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can, bị cáo về một hoặc nhiều tội khác, thì luật quy định Viện kiểm sát hoặc Toà án nếu phát hiện ra trong hồ sơ vụ án có căn cứ để khởi tố bị can, bị cáo về một hay nhiều tội khác phải tiến hành trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Quyết định trả hồ sơ lần này có thể do nhiều chứng cứ mà Viện kiểm sát hoặc Tòa án phát hiện hay do một tin thông tin nào đó khi đó hai cơ quan Tòa án hoặc Viện kiểm sát trả hồ sơ để khởi tố hoặc truy tố bị can, bị cáo. Nếu trong trường hợp Viện kiểm sát hoặc Toà án phát hiện ra chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can, bị cáo về một hoặc nhiều tội khác, nhưng luật lại không quy định trả hồ sơ để điều tra bổ sung chứng cứ này thì việc bỏ lọt tội phạm sẽ xảy ra, cũng như không định tội đúng mức độ mà hành vi của bị can, bị cáo đã phạm.
4. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong hoạt động điều tra là căn cứ để Viện kiểm sát và Tòa án trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự là trong quá trình điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án.
Qua thực tiễn và văn bản hướng dẫn thi hành cũng như hoạt động điều tra ta có thể thấy, những trường hợp sau đây được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự:
Khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong trường hợp phải có yêu cầu của người bị hại theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng người bị hại không yêu cầu khởi tố. Quy định khởi tố này là trường hợp đặc biệt mà do tính chất của vụ án và lợi ích của người bị hại, cơ quan có thẩm quyền không tự mình quyết định việc khởi tố mà việc khởi tố vụ án hình sự được thực hiện theo yêu cầu của người bị hại. Ý nghĩa của việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu người bị hại là ở chổ một trong những mục tiêu quan trọng của cuộc đấu tranh với tội phạm, mà Nhà nước và xã hội, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, cá nhân của nhà nước. Vì tội phạm gây ra không những thiệt hại về thể chất mà còn thiệt hại về tinh thần, tuy nhiên nếu có tội phạm cơ quan tiến hành tố tụng không thể dựa vào ý chí chủ quan của mình mà xét xử, phải dựa và ý chí của người bị hại mà tiến hành, nếu làm được như vậy xem như người bị hại thể hiện đúng ý chí của mình trong việc chừng trị tội phạm. Điều này thể hiện một nguyên tắc công bằng trong pháp luật tố tụng hình sự. Chính vì vậy mà nếu có vi phạm tố tố tụng trong trường hợp này thì luật quy định thuộc trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung xem người bị hại có yêu cầu không. Nếu người bị hại không yêu cầu thì phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, để đảm bảo quyền lợi của người bị hại theo quy định của pháp luật.
Trong đời sống xã hội việc xác định đối tượng nhận thức có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì nó xác định được nhận thức của con người phải đạt đến. Đối với vụ án hình sự, việc xác định đối tượng nhận thức lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn, vì nếu không xác định được mức độ nhận thức của con người thì việc điều tra, truy tố, xét xử sẽ bị lệch hướng. Trong khoa học luật hình sự, cấu thành tội phạm được coi là một chế định của tội phạm, là tổng hợp những dấu hiệu đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự. Những dấu hiệu được miêu tả trong cấu thành tội phạm là những dấu hiệu phản ánh nội dung bốn yếu tố cấu thành tội phạm. Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ quan của tội phạm. Vậy muốn tiến hành xét xử một vụ án phải xem vụ án đó hội đủ các mặt của cấu thành tội phạm hay không, vì vậy mà một vụ án xảy ra việc đầu tiên là phải điều tra, lập lý lịch của bị can, xác định được những đặc điểm quan trọng về nhân thân của người có hành vi phạm tội như: tuổi, tiền án, tiền sự của bị can, bị cáo. Việc xác định nhận thức phụ thuộc vào độ tuổi của con người, mỗi người phụ thuộc vào độ tuổi có cách nhận thức khác nhau nên phải xác định lúc họ gây ra những hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức của họ có đầy đủ hay chưa. Chính vì vậy mà việc định độ tuổi cho bị can, bị cáo sẽ giúp cơ quan tiến hành tố tụng xem tội phạm có thuộc mặt chủ quan của cấu thành tội phạm hay không, nếu thuộc mới tiến hành xét xử. Bên cạnh đó cũng phải xác định tiền án, tiền sự của bị can, bị cáo để áp dụng hình phạt tăng nặng hoặc giảm nhẹ cho phù hợp. Nên việc lập lý lịch của bị can, xác định được những đặc điểm quan trọng về nhân thân của người có hành vi phạm tội như: tuổi, tiền án, tiền sự của bị can, bị cáo được xem là một chế định quan trọng trong quá trình tiến hành vụ án hình sự, nếu vi phạm chế định này xem như vụ án không còn chính xác, khách quan. Để khắc phục những vi phạm đó, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nếu trong hồ sơ vụ án cho thấy chưa lập lý lịch của bị can, xác định được những đặc điểm quan trọng về nhân thân của người có hành vi phạm tội như: tuổi, tiền án, tiền sự của bị can, bị cáo thì phải tiến hành trả hồ sơ để điều tra bổ sung xác định lại những vấn đề chưa rõ đó. Khi xác định được như vậy thì việc giải quyết vụ được tiến hành chính xác theo những quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, nếu rơi vào các trường hợp sau đây thì Toà án và Viện kiểm sát cũng phải ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, nhưng đã không có phê chuẩn của Viện kiểm sát hoặc việc ký lệnh, quyết định tố tụng không đúng thẩm quyền; không yêu cầu cử người bào chữa cho bị can, bị cáo theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự; xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ; nhập vụ án hoặc tách vụ án không có căn cứ và trái với quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự; không giao các lệnh, quyết định tố tụng cho bị can, bị cáo theo đúng quy định của pháp luật xâm phạm đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo; việc điều tra, truy tố không đúng thẩm quyền, trừ trường hợp cơ quan có thẩm quyền phân công điều tra vụ án cụ thể; khiếu nại, tố cáo của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của họ. Khi rơi vào các vi phạm đó thì Toà án và Viện kiểm sát cũng phải ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung để làm cho vụ án được khách quan và toàn diện.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê