Tăng giảm cỡ chữ:

Những đặc trưng của hệ thống pháp luật Civil law

Hệ thống pháp luật lục địa (Continetal Law), hệ thống Luật dân sự (Civil Law), hay gọi đơn giản hơn là hệ thống pháp luật Pháp – Đức là một hệ thống pháp luật trên thế giới có nguồn gốc từ châu Âu và được áp dụng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới

1. Nguồn gốc của hệ thống pháp luật Civil law.

Civil law là một trong những hệ thống có lịch sử hình thành phát triển lâu đời nhất so với các hệ thống pháp luật khác trên thế giới.

Một trong những đặc điểm nổi bật của Civil law là ảnh hưởng của luật La Mã xuyên suốt quá trình hình thành phát triển. Lịch sử hình thành phát triển của Civl law bắt nguồn từ sự hình thành phát triển của luật La Mã.

Sự ra đời của luật La Mã được đánh dấu bằng sự ra đời của luật 12 Bảng (449 TCN). Luật 12 Bảng chủ yếu là các tập quán Latinh và vay mượn luật pháp Hi Lạp cổ đại. Đó là các qui tắc cơ bản chứ chưa phải là các văn bản pháp luật hoàn chỉnh. Tuy nhiên đây được coi là pháp điển sớm nhất của luật La Mã. Năm 528, hoàng đế Justinian I (527-565), với ý đồ kết hợp giá trị pháp lí truyền thống và những thành tựu đương thời, đã ra lệnh tập hợp, củng cố, hệ thống hóa và điển chế hóa luật La Mã và Tập hợp các chế định luật dân sự Coprus Juris Civils ra đời.

 Giai đoạn pháp luật tập quán pháp: Đây là thời kì pháp luật như tên gọi của họ hình thành từ các tập quán địa phương vì vậy còn mang tính biệt lập, phân tán, thiếu thốn nhất. Tồn tại các luật tập quán của Pháp, Đức, của các dân tộc Slavian, luật La Mã. Đặc biệt ở La Mã đã tạo nên một công trình lớn mang tên Corpus Juris Civlis bao gồm bốn phần: Code là phần hế thốngg hoá tất cả các luật của hoàng đế La Mã cổ đại đã ban hành, trong đó các điểm không rõ ràng hoặc chồng chéo bị loại bỏ; Digest là tập hợp các luận thuyết về pháp luật có giá trị nhất của các học giải La Mã cổ đại; Institutes là cuốn sách giáo khoa về pháp luật được viết bởi các cố vấn pháp luật La Mã cổ đại; Novels bao gồm các luật mới ban hành bởi hoàng đế Jusstinan.

Nhìn chung, giai đoạn này pháp luật còn đơn giản, còn lẫn lộn giữa quy phạm đạo đức, tôn giáo và pháp luật. Đặc biệt trong khoảng từ thế kỷ V đến thế kỷ X, ở giai đoạn này pháp luật mặc dù đã tồn tại nhưng chưa phải thực sự là công cụ chủ yếu để đảm bảo công lý trong xã hội. Pháp luật thời kỳ này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng tôn giáo, nhiều quốc gia lấy luật lệ nhà thời làm luật lệ nhà nước.  

Giai đoạn pháp luật thành văn từ TK XIII đến cuối TK XVIII. Cuối thế kỷ XII, các thành phố Châu Âu bắt đầu phát triển và cùng với sự phát triển đó là sự gia tăng các hoạt động thương mại và giao lưu giữa các dân tộc Châu Âu lục địa. Hoạt động buôn bán phát phát triển tạo ra nhu cầu phải phân biệt giữa tôn giáo, đạo đức và pháp luật. Đáng chú ý là giai đoạn văn hóa Phục Hưng bắt đầu từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIV xuất phát từ Italia sau đó kan dần sang các nước lục địa châu Âu

Năm 1080, địa học Bologne ở Italia được thành lập, thế kỷ XII, đại học Paris và sau đó lần lượt là các trường đại học của các nước phương tây ra đời với các quan điểm pháp luật là công cụ, là mô hình tổ chức xã hội. Các quan điểm của trường đại học này có vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ thống pháp luật lục địa Châu Âu. Theo họ, nghiên cứu pháp luật phải gắn liền với đạo đức, tôn giáo và mục đích nghiên cứu không chỉ áp dụng thực tiễn, thực dụng mà còn phục vụ mục đích xã hội và nhân đạo.

Từ TK XIII đến TK XVIII, các trường đạ học Châu Âu đã có những đóng góp lớn cho việc xây dựng một hệ thống pháp luật chung cho lục địa Châu Âu nên các nhà luật học Châu Âu gọi chung đó là Jus comune of university. Trong năm thế kỷ đó đã xuất hiện các trường pháp phái pháp luật như Trường phái Glossator - trường phái pháp luật chú thích (thế kỷ XIII ở Anh). Trường phái này tập trung giải thích các chế định pháp luật La mã, một số văn bản pháp luật La Mã bị bãi bỏ như các chế định về nô lệ, một số lĩnh vực quan hệ xã hội lúc này được điều chỉnh bằng luật giáo hội. Trường phái Post - Glossato (TK XIV) - trường phái các nhà bình luận. Trường phái này tìm cách giải thích các quy định của luật Lã Mã phù hợp với những điều kiện mới, tập trung vào cả Corpus Juris Civils mà còn cả luật giáo hội, không chỉ nghiên cứu lý thuyết mà còn cả phương diện áp dụng pháp luật. Trường phái humanists  (thế kỷ XV ở Italia) - trường phái nhân văn. Trường phái này chú trọng phương pháp nghiên cứu lịch sử nhằm khôi phục lại những khái niệm nguyên thuỷ của luật La Mã cổ đại. Trường phái Usus Modernus Pandectarium (thế kỷ XVI Đức). Trường phái này theo xu hướng cải cách, hiện đại hoá luật La Mã cổ đại nhằm làm cho pháp luật phù hợp với những hoàn cảnh, điều kiện mới. Cuối cùng là Trường phái The Natural Laws School - trường phái pháp luật tự nhiên, xuất hiện vào thế kỷ XVII, XVIII. 5 trường phải này mang lại vai trò mới cho pháp luật trong mối quan hệ giữa người cai trị và người bị trị; đụng chạm tới cùng của khu vực luật luật công và tạo ra một hệ thống pháp lý song song với luật tư truyền thống ngoài ra còn thúc đẩy pháp điển hóa. Kết hợp sự thông thái của các luật gia La Mã và diễn giải pháp luật một cách có hệ thống phù hợp với xã hội đương thời. Theo trường phái pháp luật tự nhiên, bên cạnh pháp luật thực định do Nhà nước ban hành còn có pháp luật cao hơn là pháp luật tự nhiên do đấng tạo ra tạo nên, tồn tại cùng thế giới tự nhiên và con người.

Cuối cùng giai đoạn pháp điển hoá pháp luật và phát triển và ngoài lục địa Châu Âu (cuối TK XVIII đầu TK XIX cho đến này). Đây là giai đoạn được đánh dấu bằng những văn bản pháp luật quan trọng, là cuộc cách mạng lớn cho sự phát triển của tư tưởng pháp luật nhân loại. Trước hết phải kể đến Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Pháp. Những quy định cơ bản của Bản tuyên ngôn nổi tiếng này đã trở thành những nguyên tắc cơ bản của các bản hiến pháp của các quốc gia lục địa Châu Âu và nhiều nước khác trên thế giới.  Bản tuyên ngôn này đã đặt nền móng cho một ngành luật mới ra đời đó là luật hiến pháp. Sang thế kỉ XIX, hệ thống pháp luật châu Âu diễn ra xu hướng pháp điển hóa mạnh mẽ. Nổi bật nhất là sự ra đời của Bộ luật Dân sự Pháp ( Bộ luật Napoleon 1804). Đây là bộ luật dung hòa giữa pháp luật La Mã và pháp luật phong kiến, tập quán và luật thành văn, quan điểm tôn giáo và trào lưu phi tôn giáo. Bộ luật Dân sự Napoleon được coi là kinh điển cho các nước Civil law vì:  Hầu như mọi quan hệ dân sự chủ yếu trong xã hội đều được bộ luật điều chỉnh; Được coi là tạo ra cuộc cách mạng về kĩ thuật lập pháp : các chương, điều,qui phạm pháp luật được sắp xếp theo từng chế định, trình bày rõ ràng và logic ; các khái niệm, nguyên lí, nguyên tắc trong bộ luật được nêu ngắn gọn, chuẩn xác và đầy đủ; Ngày nay, Civil law được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới, có những học tập từ những hệ thống pháp luật khác trên thế giới, đặc biệt là từ hệ thống Common law. Civil law được mở rộng ra thế giới thông qua 2 con đường. Thứ nhất là mở rộng thuộc địa (chủ yếu). Thứ hai là do sự học hỏi văn minh pháp lí phương Tây của các nước.

 

2. Nguồn của hệ thống pháp luật Civil Law

Luật thành văn được coi là nguồn chính của Civil law trong đó quan trọng nhất là các quy phạm pháp luật. Với tư duy pháp lý là chủ nghĩa duy lý hay tư duy theo lối diễn dịch, đi từ cái phổ quát đến trường hợp cá biệt. Phương pháp tư duy này bắt nguồn từ việc coi trọng pháp điền hóa, khái quát các trường hợp của cuộc sống. Nó dẫn tới hệ quả quan trọng là làm thành một hệ thống pháp luật đúng, kém linh động, giới hạn các thẩm phán trong việc áp dụng các văn bản pháp luật có sẵn, từ đó dẫn đến sự ỷ lại, bị động và kém sáng tạo trong hoạt động xét xử. Qui phạm pháp luật có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất: Được pháp điển hóa trong các văn bản pháp luật và thường là do cơ quan lập pháp có thẩm quyền ban hành. Các thẩm phán trong quá trình xét xử có nhiệm vụ áp dụng các qui phạm pháp luật mà không được tự tạo ra qui phạm pháp luật tức là không được tham gia vào hoạt động lập pháp. Phán quyết của tòa không tạo thành tiền lệ pháp.

Thứ hai: Nguyên tắc sự thống trị của luật (règle de droit) : hầu hết các qui phạm pháp luật được xây dựng sao cho mang tính khái quát nhất, toàn diện nhất, chính xác nhất để thẩm phán có thể tìm thấy ngay trong qui phạm pháp luật giải pháp cho mọi tranh chấp nảy sinh có liên quan, không cần phải giải thích.

 

Tuy nhiên các nhà lập pháp thì không thể khái quát toàn bộ cuộc sống. Vì thế mà khi đưa ra giải pháp cho trường hợp cụ thể thì không thể áp dụng ngay một quy phạm pháp luật mà cần phải suy xét nó trong cả một hệ thống. Điều này tạo nên rắc rối rất lớn, có thể xảy ra trường hợp các quy phạm pháp luật mâu thuẫn nhau trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

Ngoài ra còn một số nguồn luật khác như : tập quán pháp ngày này ít quan trọng, các học thuyết pháp luật, các nguyên tắc căn bản như bình đẳng giới, không phân biệt đối xử, ngay tình... đặc biệt là án lệ ngày càng được sử dụng nhiều hơn do tính mềm dẻo và thực tiễn của nó. Có thể thấy vai trò của các thẩm phán ở các nước Civil law là rất quan trọng còn vai trò của các luật sư thì ít nổi trội hơn so với các nước trong hệ thống Common law: Thẩm phán có quyền điều tra xét hỏi, đặc biệt trong các vụ án hình sự và quyết định những nhân chứng, bằng chứng được đưa ra trước tòa. Tức là ở đây các thẩm phán dựa nhiều vào sự thật trên thực tế hơn là sự thật từ các luật sư. Điều này đảm bảo được tính công bằng hơn.

 

Ở các nước Civil law có nghề thẩm phán riêng, có trường đào tạo thẩm phán riêng một cách qui củ chứ không phải là lựa chọn thẩm phán từ các luật sư giàu kinh nghiệm như các nước Common law. Ví dụ như trình tự đào tạo thẩm phán ở Pháp như sau : sau khi học 4 năm đại học luật, phải dự tuyển vào trường Thẩm phán Bordeaux (Ecole national de la magistrature). Nếu được phải học trong 31 tháng, trong khi học được hưởng lương. Sau khi tốt nghiệp, trải qua một giai đoạn thực tập quan trọng sẽ được bổ nhiệm vào vị trí xét xử hoặc công tố. Vai trò của các luật sư tại các nước Civil law ít được coi trọng. Do thủ tục tố tụng là điều tra xét hỏi nên các thẩm phán có toàn quyền quyết định, hoàn toàn làm chủ phiên tòa. Vì thế vai trò của các luật sư bị lu mờ. Họ ít có tiếng nói tại tòa, thậm chí phiên tòa kết thúc trước khi luật sư có mặt. Trong khi thiên chức của luật sư là bào chữa và bảo vệ thân chủ mình tại tòa. Đây là sự vụ lí tồn tai trong hệ thống Common law mà cần phải được điều chỉnh.

3. Cách tư duy pháp lý của hệ thống pháp luật Civil Law

Cách tư duy của hệ thống pháp luật Civil Law là theo lối diễn dịch. Nhấn mạnh chủ nghĩa duy lý (lý tính là nguồn gốc của tri thức hay sự minh giải). Do coi trọng pháp điển hóa, khái quát các trường hợp của đời sống thành các điều luật. Hệ quả của cách tư duy là thành một hệ đóng

4. Cấu trúc nội tại của pháp luật

Hệ thống cấu trúc của pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau được phân định thành các chế định pháp luật và các ngành luật. Theo hệ thống pháp luật Civil Law, pháp luật được chia thành luật công và luật tư tuy nhiên, sự phân biệt giữa luật công và luật tư chỉ mang tính tương đối. Đối với luật công, chúng khác nhau sự khác biệt về lựa chọn chính trị ở mỗi quốc gia và cấu trúc nhà nước (đơn nhất hay liên bang), và mức độ tập trung hóa (Vd: Pháp). Đối với luật tư, ở mỗi ngành luật có các khái niệm khác nhau do tiếp cận ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Tuy nhiên chúng giống nhau về mặt cấu trúc

Công pháp bao gồm các ngành luật điều chỉnh các quan hệ giữa các cơ quan công quyền với nhau, giữa các cơ quan công quyền với tư nhân. Công pháp có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, Mục đích của công pháp là bảo vệ lợi ích chung

Thứ hai, Quy phạm pháp luật công pháp mang tính tổng quát cao

Thứ ba, Phương pháp điều chỉnh đặc trưng của công pháp là phương pháp mệnh lệnh

Thứ tư, Công pháp thể hiện tính bất bình đẳng giữa các chủ thể pháp luật, trong đó cơ quan nhà nước (hoặc người có thẩm quyền) thướng có quyết định mang tính mệnh lệnh khiến các chủ thể khác phải thi hành.

Tư pháp bao gồm các ngành luật điều chỉnh các quan hệ giữa tư nhân với tư nhân. Tư pháp có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, Các quy định của tư pháp hướng tới việc bảo vệ lợi ích của tư nhân

Thứ hai, Các quy phạm của tư pháp rất cụ thể, chi tiết

Thứ ba, Phương pháp điều chỉnh đặc trưng của tư pháp là tự do thỏa thuận ý chí của các bên tham gia quan hệ pháp luật

Thứ tư, Các quan hệ pháp luật tư pháp thể hiện sự bình đẳng của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật.

Một số ngành luật được coi là hỗn hợp giữa luật công và luật tư: Tố tụng hình sự, Tố tụng dân sự, tư pháp quốc tế. Sự phân chia thành công pháp và tư pháp dựa trên tư tưởng lâu đời của các luật gia châu Âu đó là những mối quan hệ giữa người cai trị và người bị cai trị đòi hỏi những chế định hoàn toàn khác với các mối quan hệ giữa cá nhân và cá nhân, lợi ích chung và lợi ích riêng không thể cùng đo trên một bàn cân.

Đối với luật tư, Nhà nước đóng vai trò là người trọng tài. Ở luật tư sự tiếp nhận Luật La Mã có khác nhau ở mỗi nước, nên có sự khác nhau giữa các chế định, ảnh hưởng của Luật La Mã và Luật Giáo hội tương đối giống nhau ở các nước theo Đạo Thiên chúa, ảnh hưởng của luật tập quán có phần khác nhau, luật thương mại xuất hiện như tập quán của các thương nhân và có liên hệ với Luật La Mã thông qua các công trình của post glossator và được chấp nhận trên toàn bộ Châu Âu;

 Đối với luật công, Nhà nước buộc phải tuân thủ pháp luật. Luật công phát triển vào khoảng thế kỷ 19 và 20 gắn liền với các ý tưởng chính trị và các nhà lý luận

VD: Beccaria (1738-1794, người Italia) đã đặt cơ sở hiện đại cho luật hình sự như cá thể hóa hình phạt và chấp nhận ý tưởng cải tạo người phạm pháp

Vào thế kỉ XVII, XVIII khi trường phái pháp luật tự nhiên phát triển quyền tự nhiên của con người được tôn trọng, các quyền công dân, quyền con người được thiết lập và quyền lực tối cao không còn thuộc về hoàng đế mà thuộc về nhân dân là giai đoạn mới để phát triển công pháp: Để hạn chế quyền lực nhà nước, nhiều tư tưởng pháp luật mới được hình thành: phân chia quyền lực và kiềm chế đối trọng giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp; chính quyền hành pháp chịu trách nhiệm trước nghị viện; nguyên thủ quốc gia do dân bầu cử trực tiếp…

5. Tố tụng trong hệ thống Civil Law

Hệ thống pháp luật lục địa phát triển hình thức tố tụng thẩm vấn, tố tụng viết (inquisitorial system/ written argument). Tuy nhiên cũng không hoàn toàn đúng nếu khẳng định rằng hệ thống Civil Law không hề áp dụng việc suy đoán vô tội (presumption of innocence).

Hệ thống Civil Law dựa trên qui trình tố tụng thẩm vấn (inquisitorial system) nên trong các vụ án hình sự, thẩm phán căn cứ chủ yếu vào Luật thành văn, kết quả của cơ quan điều tra, và quá trình xét xử tại Toà để ra phán quyết. Nếu như trong Common Law, thẩm phán tạo ra các qui tắc pháp lý cho các tranh chấp cụ thể, thì trong Civil Law, qui tắc pháp lý tạo ra nền tảng để thẩm phán ra quyết định, hay nói cách khác thẩm phán Civil Law tìm giải pháp trước hết qua các văn bản pháp luật. Về giải thích văn bản pháp luật, các thẩm phán giải thích theo ngữ nghĩa của luật nhưng vẫn tôn trọng ý chí của nhà làm luật. 

Toà án ở các nước theo truyền thống Common Law được coi là cơ quan làm luật lần thứ hai, hay cơ quan sáng tạo ra án lệ (The second Legislation). Ngược lại ở các nước theo truyền thống Civil Law, chỉ có Nghị viện mới có quyền làm luật, còn Toà án chỉ là cơ quan áp dụng pháp luật.

Ở các nước theo truyền thống Common Law đa phần các hiệp định quốc tế không phải là một phần của luật quốc nội/ luật quốc gia (domestic law). Chúng chỉ có thể được toà án áp dụng khi các hiệp định quốc tế đã được nội luật hoá bởi cơ quan lập pháp. Các nước theo truyền thống Civil Law thì khác, ví dụ như ở Thụy Sĩ, các điều ước quốc tế được áp dụng trực tiếp như là một phần của luật quốc nội, vì vậy các Toà án có thể trực tiếp áp dụng các điều ước quốc tế khi xét xử.

Pháp luật lục địa do văn bản qui phạm pháp luật là nguồn chủ yếu, đồng thời do thông lệ "án tại hồ sơ" - quá trình điều tra phụ thuộc phần lớn vào kết quả của cơ quan điều tra do vậy luật sư ban đầu ít được coi trọng như các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ. Thẩm phán ở các nước Civil Law chỉ tiến hành hoạt động xét xử mà không được tham gia hoạt động lập pháp, họ không được tạo ra các chế định, các qui phạm pháp luật. Thẩm phán của Civil law được đào tạo theo một qui trình riêng, họ thường trước đó không phải là các luật sư.

Từ cuối thế kỷ thứ 20, các nước theo hệ thống Civil Law đã có nhiều thay đổi. Ví dụ không còn chỉ dựa đơn thuần vào Bộ Dân luật , mà ở các nước này, các án lệ, các văn bản dưới luật, các nghiên cứu học lý tư pháp cũng đã được xem là những nguồn luật quan trọng. Các bộ dân luật cũng được bổ sung, sửa đổi, nhất là ở Đức (còn gọi tắt là BGB).

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

 

 

5 sao của 1 đánh giá
Liên hệ Luật Minh Khuê

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Cảm ơn bạn đã nhận xét!

Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày

Phân tích mối liên hệ giữa pháp luật và kinh tế, chính trị, nhà nước và cá nhân

Đời sống pháp luật thường xuyên chịu sự chi phối, tác động mạnh mẽ của hàng loạt những nhân tố khách quan và chủ quan thuộc các lĩnh vực khác nhau từ chính trị, kinh tế, xã hội, tự nhiên; văn hoá, tâm ...