- 1. Các nguồn pháp luật của hệ thống pháp luật La Mã – Đức
- 2. Nguyên tắc pháp lý trong họ pháp luật La mã – Đức?
- 3. Cấu trúc của họ pháp luật La Mã – Đức
- 4. Công thức hoá quy tắc pháp lý ở các nước thuộc họ pháp luật La Mã- Đức là gì?
- 5. Chế định nghĩa vụ của họ pháp luật La Mã - Đức.
- 6. Chế định pháp nhân của họ pháp luật La Mã - Đức.
- 7. Các tư tưởng, học thuyết về sự phân chia luật công-luật tư.
1. Các nguồn pháp luật của hệ thống pháp luật La Mã – Đức
- Luật thành văn:
- Được coi trọng và có trình độ hệ thống hóa, pháp điển hóa cao Trường phái pháp luật thực chứng.
- Bao gồm các loại văn bản: Hiến pháp, các công ước quốc tế, bộ luật, luật, sắc lệnh, nghị định, quyết định (của tổng thống/ bộ trưởng, thị trưởng), các chỉ thị, các thông tư.
- Án lệ:
- Là bản án đã tuyên hoặc sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như tiền lệ làm cơ sở để các thẩm phán sau đó có thể áp dụng trong các trường hợp tương tự.
- Không có cùng giá trị như luật thành văn, không được coi là nguồn cơ bản của pháp luật.
- Chỉ được áp dụng khi các thẩm phán thấy phù hợp với vụ án đang xét xử.
- Tuy nhiên Án lệ là một trong những nguồn k thể thiếu của pháp luật: nhiều nước lục địa châu Âu có các tuyển tập án lệ chính thức như Pháp, Đức, Tây Ba Nha, Ý, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ,…
- Tập quán pháp luật:
- Có nhiều quan điểm lý luận khác nhau:
+ Luật gia Pháp: cho rằng tập quán lỗi thời, vai trò bị giảm sút khi có các bộ luật cơ bản ra đời và sự thừa nhận vai trò tối cao của luật.
+ Luật gia Đức, Thụy Sỹ, Hi Lạp: luật và tập quán được coi như 2 nguồn ngang nhau của pháp luật.
- Tập quán không phải là yếu tố chính và đầu tiên của PL, nó chỉ là 1 trong những yếu tố góp phần tìm ra giải pháp công minh để giải quyết các vấn đề pháp luật.
- Tập quán là những nguyên tắc xử sự hình thành 1 cách tự phát, tồn tại từ lâu đời, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành thói quen tự nhiên và mang tính bắt buộc chung như quy phạm pháp luật.
- Dựa trên 2 yếu tố: khách quan (hình thành 1 cách tự nhiên) và chủ quan (được các chủ thể pháp luật thừa nhận có tính bắt buộc như QPPL).
- Chia làm 3 loại:
+ Tập quán áp dụng đương nhiên (được cả nhà nước và xã hội thừa nhận phổ biến)
+ Tập quán áp dụng theo sự dẫn chiếu của pháp luật
+ Tập quán trái pháp luật (dù trái pháp luật nhưng phổ biến trong XH nên NN phải thừa nhận)
- Các học thuyết pháp luật
- Ra đời vào khoảng thế kỷ XIII-XVIII do các trường đại học châu Âu xây dựng nên.
- Ngày nay không còn được coi là nguồn chính của pháp luật, tuy nhiên nếu xem xét pháp luật theo nghĩa rộng là đại lượng của công bằng, công lí thì học thuyết vẫn là nguồn quan trọng.
- Học thuyết tạo ra khái niệm, tư duy pháp luật mà các nhà lập pháp SD, tạo ra các phương pháp để hiểu và giải thích háp luật 1 cách đúng đắn.
- Các nguyên tắc PL:
- Là các nguyên tắc có thể thành văn và không thành văn được chấp nhận trong luật QG của hầu hết các nước.
- Thể hiện trong: Hiến pháp, bộ luật, luật, án lệ,…
- Là đại lượng của công bằng, công lý.
2. Nguyên tắc pháp lý trong họ pháp luật La mã – Đức?
- Là các nguyên tắc có thể thành văn và không thành văn được chấp nhận trong luật Quốc gia của hầu hết các nước. Là một loại nguồn của luật để áp dụng giải quyết vụ việc trong trường hợp không có quy phạm pháp luật áp dụng.
- Tại sao nó lại tồn tại: về nguyên tắc nhiều nước vẫn chưa công nhận nguồn án lệ là nguồn chính nên thay thế nguyên tắc pháp lý để đương đầu với tình trạng lỗ hổng pháp luật.
Thực chất là nguồn áp dụng: luật thành văn,tập quán, án lệ, pháp luật tương tự, lẽ công bằng, nguyên tắc pháp lý,…
- Thể hiện trong: Hiến pháp, bộ luật, luật, án lệ,…
- Là đại lượng của công bằng, công lý.
- 1 số nguyên tắc chung được nhiều Quôc gia châu Âu lục địa thừa nhận (tiếng Việt)
+ Động cơ của anh đặt tên cho hành vi của anh
+ Không ai bị xét xử về một tội phạm đã được kết án bằng 1 bản án đã có hiệu lực
+ Ý định cần phải bị trừng phạt mặc dù không đạt được mục đích
+ Ai khẳng định, người đó phải chứng minh
+ Không ai có thể tự mình làm chứng cho mình
+ Không ai có thể tự mình phán xử mình
+ Không ai có thể trừng phạt vì suy nghĩ của mình
+ Mọi đạo luật chỉ có thể bắt buộc thực hiện khi đã công bố.
3. Cấu trúc của họ pháp luật La Mã – Đức
- Sự phân chia PL thành công pháp và tư pháp:
- Công pháp bao gồm các ngành luật điều chỉnh các quan hệ giữa các cơ quan công quyền với nhau và giữa các cơ quan công quyền với tư nhân.
- Tư pháp bao gồm các ngành luật điều chỉnh các quan hệ giữa tư nhân với tư nhân.
- 1 số ngành luật hỗn hợp giữa luật công và luật tư như TTHS, TTDS, Tư pháp QT,…
Sự phân chia này đã hình thành từ lâu trong các luật gia lục địa châu Âu, là những mối quan hệ giữa người cai trị và người bị cai trị, đòi hỏi chế định hoàn toàn khác với quan hệ giữa cá nhân và cá nhân, lợi ích chung và lợi ích riêng không thể cùng đo trên 1 bàn cân.
- Đặc điểm và nguyên tắc cơ bản của Công pháp và Tư pháp
- Các chế định pháp luật đặc thù:
+ Chế định luật nghĩa vụ
+ Chế định pháp nhân
- Quy phạm pháp luật
- Được hiểu là quy tắc xử sự có tính chất chung và có ý nghĩa rộng hơn áp dụng vào 1 vụ việc cụ thể nào đó.
- Không phải và không thể do thẩm phán tạo ra, nó là sản phẩm của tư duy dựa trên nghiên cứu thực tiễn và những suy nghĩ về công lý, đạo đức, chính trị và sự hài hòa của những quan hệ xã hội.
- Là cơ sở phát triển pháp điển hóa của pháp luật
- Trung gian giữa việc giải quyết tranh chấp: áp dụng cụ thể của quy phạm pháp luật và những nguyên tắc chung của phá luật.
- Quy phạm pháp luật không được chung chung quá nhưng cũng cần có tính khái quát để áp dụng trong nhiều trường hợp khác nhau, do đó cần sự nảy sinh giải thích pháp luật của các thẩm phán.
4. Công thức hoá quy tắc pháp lý ở các nước thuộc họ pháp luật La Mã- Đức là gì?
- Chức năng của các luật gia là chắt lọc ra từ trong các học thuyết và các công trình nghiên cứu các nguyên tắc và các quy tắc, rồi làm sáng tỏ và gọt giũa chúng để cung cấp cho những người công tác thực tiễn và tòa án các giải pháp cho các trường hợp cụ thể trong tương lai. Nói cách khác, quy tắc là bước trung gian giữa nguyên tắc và giải quyết tranh chấp. Nó cũng gần như pháp điển hóa. Tính khái quát hóa các quy tắc pháp luật nó gắn với pháp điển hóa
- Các quy tắc phải đủ khái quát để cung cấp các nguyên tắc cho các quy định và trường hợp cụ thể quy phạm pháp luật không phải và không thể do thẩm phán tạo ra mà là sản phẩm của tư duy dựa trên nghiên cứu thực tiễn và những suy nghĩ về công lý, đạo đức, chính trị và sự hài hòa của các quan hệ xã hội.
5. Chế định nghĩa vụ của họ pháp luật La Mã - Đức.
- Chế định nghĩa vụ là chế định đặc thù của các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ Civil law. Nó tương đương với chế định hợp đồng và trách nhiệm pháp lý ngoài hợp đồng trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
- Phân loại nghĩa vụ: theo nguồn sinh ra
+ Hợp đồng, chuẩn hợp đồng (thực hiện 1 công việc không có ủy quyền), vi phạm hợp đồng (lỗi cố ý), chuẩn vi phạm ợp đồng (lỗi vô ý), nghĩa vụ có nguồn pháp định (giám hộ của bố mẹ với con cái chưa thành niên, chủ với vật nuôi,…)
+ Hoặc phân chia thành hành vi pháp lý, sự kiện pháp lý và những nguồn khác.
- Điều 1101 Bộ luật dân sự Napoleon: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao vật, làm hoặc không làm công việc nào đó.”
- Theo đó, hợp đồng chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn 4 điều kiện:
+ Các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện
+ Các bên giao kết có năng lực giao kết hợp đồng
+ Đối tượng vủa hợp đồng phải xác định
+ Căn cứ của hợp đồng phải hợp pháp
- Có rất nhiều cách phân loại hợp đồng theo BLDS Napoleon hoặc theo quan điểm khoa học: Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ; hợp đồng có đền bù và hợp đồng ko có đền bù; hợp đồng thực tế và hợp đồng ưng thuận; hợp đồng ngang giá và hợp đồng không ngang giá; hợp đồng có tên và hợp đồng ko có tên;….
- Trong luật có quy định rõ những biện pháp để bảo đảm thực hiện hợp đồng như cầm cố, dặt cọc, tiền phạt, bảo lãnh,… Người có nghĩa vụ sẽ phải bồi thường thiệt hại xảy ra do không thực hiện nghĩa vụ hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ trừ trường hợp chứng minh được do nguyên nhân khách quan và hoàn toàn ngay tình.
- Hợp đồng hành chính là loại hợp đồng chỉ có trong dòng họ Civil law.
| Hợp đồng hành chính | Hợp đồng dân sự, thương mại |
| - Hướng tới lợi ích công - Chủ thể luôn có 1 bên là pháp nhân công quyền - Các chủ thể không nhất thiết phải hoàn toàn bình đẳng - Được điều chỉnh bởi luật công - Thường tòa hành chính sẽ giải quyết tranh chấp | - Hướng tới lợi ích tư - Các chủ chể là cá nhân, pháp nhân - Các chủ thể hoàn toàn bình đẳng với nhau - Thuộc lĩnh vực điều chỉnh của luật tư - Tòa tư pháp sẽ giải quyết tranh chấp |
6. Chế định pháp nhân của họ pháp luật La Mã - Đức.
- Chế định pháp nhân là sản phẩm sáng tạo của các luật gia La Mã cổ đại, cội nguồn của HTPL châu Âu lục địa.
- Pháp nhân là thực thể trừu tượng được tạo nên từ sự tập hợp của nhiều thể nhân và được giao NLPL theo ý chí của các thể nhân thành viên. Nó là 1 chủ thể của pháp. luật
+ Độc lập về tài sản với các thể nhân của nó.
+ Độc lập về quyền và nghĩa vụ.
| Pháp nhân công pháp | Pháp nhân tư pháp |
| - Nhà nước - Chính quyền vùng - Chính quyền tỉnh - Chính quyền lãnh thổ hải ngoại - Chính quyền xã - Các đơn vị hành chính sự nghiệp - Các doanh nghiệp công | - Các công ty dân sự và thương mại - Các hiệp hội: hoạt động vì một mục đích khác ngoài mục đích kiếm lời - Các tổ chức nghiệp đoàn: không vì mục đích lợi nhuận, bảo vệ những lợi ích nghề nghiệp của các thành viên. |
7. Các tư tưởng, học thuyết về sự phân chia luật công-luật tư.
- Học thuyết lợi ích
- Tư tưởng, học thuyết phân chia luật công và luật tư đã có rất sớm từ thời La Mã cổ đại. Nhà triết học Cicero từ thế kỷ I TCN đã đưa ra quan điểm rằng pháp luật gồm có hai bộ phận cấu thành gồm: những qui định pháp luật điều chỉnh các quan hệ cá nhân và những qui định pháp luật điều chỉnh các quan hệ công.
- Đến thế kỷ II SCN, nhà luật học La Mã Ulpian (170–228 SCN) đã đưa ra học thuyết phân chia giữa luật tư và luật công (Ius publicum) dựa trên cơ sở lợi ích (hay còn gọi là học thuyết lợi ích). Học thuyết này phân biệt: Luật công liên quan đến lợi ích của nhà nước và lợi ích công cộng, luật tư liên quan đến lợi ích của cá nhân.
- Học thuyết quan hệ giữa các chủ thể
- Đến thế kỷ XIX, những tư tưởng về sự phân chia giữa luật công và luật tư của Luật La Mã được kế thừa và phát triển thông qua học thuyết dựa trên quan hệ giữa các chủ thể (hay còn gọi là học thuyết quan hệ giữa các chủ thể).
- Học thuyết này phân chia: Nếu là quan hệ có tính thứ bậc giữa nhà nước và công dân thì đó là quan hệ pháp luật do luật công điều chỉnh, còn quan hệ mà các bên tham gia là quan hệ bình đẳng thì đó là quan hệ pháp luật của luật tư điều chỉnh.
- Học thuyết hành vi của chủ thể
- Học thuyết đương đại hiện nay ở Đức về phân chia luật công và luật tư là học thuyết dựa trên cơ sở phân loại hành vi của chủ thể.
- Theo học thuyết này, việc phân định luật công hay luật tư cần phải dựa trên tiêu chí hành vi của chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật, theo đó luật công là tổng thể những qui phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể được nhà nước trao quyền nhằm thực thi chức năng, nhiệm vụ công. Luật tư là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể dựa trên các quy phạm của luật dân sự.
Ví dụ: Một trường Đại học công là pháp nhân của luật công. Khi nhà trường ban hành qui chế và áp dụng đối với sinh viên đó là quan hệ luật công. Khi nhà trường mua văn phòng phẩm, bàn ghế với một cá nhân hoặc doanh nghiệp cụ thể, đó là quan hệ luật tư.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập).