1. Lịch sử của Indonesia

Lịch sử của Indonesia là lịch sử của các vương quốc cổ đại, quá trình xâm chiếm và thuộc địa hóa, quá trình các mạng nền độc lập. Trước năm 1511, thời điểm khi người châu Âu lần đầu tiên đặt chân đến vùng đất này, Indonesia đã chịu ảnh hưởng rất mạnh từ đạo Phật và đạo Hindu, sau đó là những đức tin truyền thống gắn với người Malay. Đến thế kỷ XII, đạo Hồi được các nhà buôn từ bờ biển phía Tây của Ấn Độ đưa vào Indonesia và nhanh chóng ảnh hưởng rộng khắp đất nước này, trở thành tôn giáo phổ biến nhất ở Indonesia. Đầu thế kỷ XVI, đạo Cơ đốc được du nhập vào đất nước “vạn đảo” này. Quốc gia này cũng có thời gian dài trải qua quá trình thuộc địa hóa, chịu sự cai trị của người Hà Lan trong hơn 300 năm, người Pháp cai trị 10 năm và 4 năm cai trị của người Anh, sau đó là người Nhật Bản 03 năm. Nền tảng lịch sử này đã tạo ra đất nước Indonesia đa dạng về văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ và dân tộc.

Sự đa dạng này đã tác động và mang lại những nét riêng biệt trong hệ thống pháp luật Indonesia. Các giá trị tồn tại một cách hòa hợp trong một chỉnh thể pháp luật và cùng điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong đời sống ở Indonesia. Ba thành tố của pháp luật Indonesia bao gồm: (i) Luật adat (luật tục); (ii) Pháp luật được xây dựng trên nền tảng Luật của Hà Lan; (iii) Pháp luật Indonesia thời hiện đại. Các luật gia nhận định rằng: “Pháp luật Indonesia là hệ thống pháp luật hỗn hợp của tập quán, luật tôn giáo mà đặc biệt là luật Hồi giáo và đặc trưng của hệ thống pháp luật Civil Law của châu Âu lục địa”.

2. Yếu tố Tập quán ở Indonesia

Trước khi người châu Âu thuộc địa hóa Indonesia, pháp luật được áp dụng ở đất nước này là tập quán bản địa. Luật tập quán (Adat) hay tập quán pháp là một hiện tượng xã hội phổ biến của nhân loại ở thời kỳ phát triển tiền công nghiệp và còn tồn tại đến ngày nay trên thế giới, nhất là ở các quốc gia châu Á và châu Phi.

Trong quá trình thuộc địa hóa, các cường quốc thực dân luôn nỗ lực nhằm giành quyền kiểm soát bằng việc xác định, xem xét đến những tác động của hệ thống pháp luật và chính trị hiện hành tại nước bị xâm lược. Từ đó, chính sách của các cường quốc xâm lược sẽ có những điều chỉnh thích hợp cho việc cai trị và khai thác thuộc địa. Nếu như thực dân Pháp là một điển hình cho thái cực nỗ lực trong việc giảm bớt quyền lực của hệ thống luật hành của Nhà nước thuộc địa; Vương quốc Anh chú trọng đến việc thống trị một cách gián tiếp, đồng thời công nhận luật tục một cách rộng rãi thì Hà Lan lại có một quan điểm dung hòa. Cụ thể, đã có nhiều cuộc tranh luật về thể chế và phạm vi ảnh hưởng của luật tập quán (Adat) của những người Anh Điêng ở Đông Hà Lan.

Năm 1945, Indonesia tuyên bố giành độc lập, bắt đầu xem xét lại hình thức và tình trạng trật tự pháp luật của họ. Thay vì phát triển một hệ thống pháp luật mới, nước này chọn cách tiếp tục duy trì và sửa đổi luật hiện hành cho phù hợp với bối cảnh, tình hình xã hội. Mặc dù Indonesia tuyên bố đã bản địa hóa hệ thống pháp luật của mình nhưng trên thực tế, nước này vẫn tiếp tục phát triển theo hướng thống nhất phát luật đã được khởi dướng bởi Chính phủ những người Anh Điêng ở Đông Hà Lan. Tập quán bản địa (Adat) đóng vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật tại Indonesia khi nó điều chỉnh phạm vi lớn các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đất đai, hôn nhân - gia đình, thừa kế và cả trong một số giao dịch thương mại. Xuất phát từ việc văn hóa Indonesia không thuần nhất mà là sự hòa hợp đa dạng giữa các nền văn hóa và phong tục của nhiều tôn giáo. Điển hình cho tập quán bản địa ở Indonesia có thể đến những quy tắc xử sự, phong tục, tập quán của người Minangkabau - một nhóm dân tộc Hồi giáo ở quốc gia này. Mặc dù Hồi giáo được biết đến là tôn giáo có xu hướng chú trọng nam giới hơn là nữ giới nhưng ở Minangkabau thì hoàn toàn ngược lại. Nơi đây có cộng đồng mẫu hệ lớn nhất thế giới, phụ nữ được tôn kính và được coi là vô giá. Ngày nay, việc giảng dạy các tập tục của nhóm dân tộc này được đưa và chương trình giảng dạy trung học và tiểu học. Một phòng ban về chữ viết Minangkabau được thành lập ở khoa Chữ viết của Đại học Andalas (Indonesia).

Vốn là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, tập quán bản địa đóng một thiết chế quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội, là một trong những nguồn pháp luật quan trọng của Indonesia. Có thể thấy, tập quán bản địa có mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, con người và pháp luật. Nó đã, đang và sẽ tồn tại, giữ vị trí quang trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, là bản sắc văn hóa của từng tộc người, đảm bảo sự cân bằng trong cộng đồng, nhất là ở quốc gia đa sắc tộc, đa tôn giáo như Indonesia.

3. Yếu tố của Họ pháp luật Hồi giáo

Mặc dù có đến 86,1% dân số theo đạo Hồi và là quốc gia có số lượng tín đồ Hồi giáo đông nhất trên thế giới nhưng Indonesia vẫn không tuyên bố là quốc gia Hồi giáo. Từ thế kỷ XVI, Luật Hồi giáo được đưa vào Indonesia và áp dụng đối với các tín đồ Hồi giáo. Về bản chất, Luật Hồi giáo không phải là hệ thống pháp luật gắn với nhà nước mà chỉ là một phần của Shariah (con đường của thượng đế), bao gồm hệ thống các quy định mang tính tôn giáo của những người theo đạo. Luật Hồi giáo thể hiện ý chí của thượng đế chứ không phải của Nhà nước nên nó hướng tới điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực của đời sống chứ không chỉ đề cập vấn đề mà Nhà nước quan tâm.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng những đặc trưng của Họ pháp luật Hồi giáo và Luật Hồi giáo có tác động lớn đến quốc gia này, nhất là đối với hệ thống pháp luật Indonesia. Khó có thể phân biệt giữa các quy định của pháp luật và các quy định tôn giáo bởi người Hồi giáo cho rằng pháp luật và tôn giáo là một. Luật Hồi giáo can thiệp cả vào những vấn đề mà hệ thống pháp luật Indonesia xét thấy không cần điều chỉnh bằng pháp luật, có thể kể đến quy định chi tiết việc tẩy uế trước khi cầu nguyện.

Hệ thống pháp luật Indonesia ghi nhận nguồn luật là Luật Hồi giáo. Đây là nguồn rất quan trọng và áp dụng chủ yếu riêng cho người theo đạo Hồi bởi Tòa án tôn giáo. Tòa án Tôn giáo (Pengadilan Agama) hiện hành được thành lập theo Luật về Tòa án tôn giáo (Luật số 07/1989) để giải quyết tranh chấp giữa các tín đồ Hồi giáo trong các lĩnh vực: Hôn nhân gia đình, thừa kế, kế vị, quà tặng, hiến tặng tiền vì mục đích tôn giáo và bố thí tài sản cho người nghèo.

Về cơ bản, thủ tục tố tụng tại Tòa án Tôn giáo sẽ được áp dụng theo thủ tục tố tụng tại các tòa án thường với các ngoại lệ theo quy định của luật Hồi giáo. Đối với Thẩm phán của Tòa án tôn giáo, ngoài những điều kiện chung được quy định giống như hệ thống Tòa án thường, các ứng cử viên phải đáp ứng các điều kiện: là tín đồ Hồi giáo, có lòng mộ đạo, có bằng cử nhân Luật Hồi giáo và độ tuổi tối thiểu là 25 tuổi.

4. Yếu tố đặc trưng của dòng Họ pháp luật Civil Law

4.1. Triết lý pháp luật, tư duy pháp luật

Phương châm và triết lý pháp luật của Indonesia là “thống nhất trong đa dạng”. Các nhà sáng lập quốc gia luôn tìm cách duy trì nguyên tắc này trong đời sống xã hội Indonesia nói chung và trong hệ thống pháp luật của mình nói riêng. Sự hiện diện của Hà Lan và sự chiếm đóng Indonesia trong hơn 300 năm đã đề lại những dấu ấn đậm nét trong nền pháp luật, nhất là trong lĩnh vực luật tư. Nhiều đạo luật của Indonesia được xây dựng dựa vào luật của Hà Lan, tiêu biểu là pháp luật Thương mại của Indonesia chịu ảnh hưởng lớn từ Bộ luật Thương mại năm 1847 của Hà Lan

4.3. Nguồn luật

Do ảnh hưởng của truyền thống Dân luật, luật thành văn trở thành nguồn luật cơ bản của hệ thống pháp luật Indonesia. Theo đó, Hiến pháp 1945 trải qua các lần sửa đổi và là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật của Indonesia do Hội đồng cố vấn nhân dân ban hành. Sắc lệnh của Tổng thống, các văn bản của Chính phủ, của các bộ,... ban hành có giá trị áp dụng sau Hiến pháp.

Tập quán (adat) là nguồn quan trọng sau Hiến pháp trong hệ thống pháp luật Indonesia khi điều chỉnh phạm vi lớn các quan hệ xã hội, nhất là ở quốc gia đa tôn giáo, đa sắc tộc như Indonesia. Ngay cả khi các quốc gia có hệ thống pháp luật chịu sự ảnh hưởng của dòng họ pháp luật Civil law cũng có nhiều quan điểm lý luận khác nhau về tập quán và vai trò của tập quán, tuy nhiên, chúng đều không ảnh hưởng đến vai trò thực tế của tập quán bởi các quốc gia theo truyền thống Dân luật đều thừa nhận tập quán pháp là những quy tắc xử sự hình thành một cách tự phát, tồn tại lâu đời, được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, trở thành thói quen tự nhiên và mang tính bắt buộc chung như quy phạm pháp luật

4.4. Hệ thống Tòa án

Điều 24 Hiến pháp Indonesia quy định quyền tư pháp sẽ được Tòa án tối cao và Tòa án hiến pháp thực hiện. Theo đó, Tòa án Hiến pháp được thành lập để xét xử các vấn đề liên quan đến Hiến pháp. Ở Pháp - quốc gia có hệ thống pháp luật ảnh hưởng nhiều từ dòng họ pháp luật Civil law cũng có Tòa án Hiến pháp nhưng với tên gọi là Hội đồng bảo hiến (Conseil Constitutionnel). Tương tự, ở Đức cũng có Tòa án Hiến pháp là cơ quan xét xử sơ thẩm và chung thẩm các vụ kháng cáo, kháng nghị liên quan đến tính hợp hiến của các đạo luật, xung đột về thẩm quyền giữa các bang với liên bang. Tòa án tối cao đóng vai trò là cơ quan xét xử cao nhất của quốc gia này.

Hệ thống tòa án tư pháp được thành lập dựa trên 4 trụ cột: Tòa án có thẩm quyền chung, Tòa án tôn giáo, Tòa án hành chính, Tòa án quân sự. Trong đó:

(i) Tòa án có thẩm quyền chung có thẩm quyền đối với các vấn đề hình sự và dân sự nói chung đối với người dân, bao gồm luật gia đình đối với người không theo đạo Hồi. Dưới Tòa có thẩm quyền chung là các tòa chuyên trách như: Tòa án thương mại, Tòa án chống tham nhũng, Tòa án nhân quyền, Tòa án thủy sản, Tòa án quan hệ công nghiệp. Kể từ sau Đạo luật số 14 năm 2002, Tòa án Thuế ra đời có thẩm quyền xét xử và quyết định các trường hợp kháng cáo quyết định của Văn phòng Thuế về tranh chấp Thuế.

(ii) Tòa án Tôn giáo có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến công dân theo đạo Hồi giáo, bao gồm tranh chấp về ly hôn, thừa kế và quyền nuôi con. Đạo luật số 21 năm 2008 về Ngân hàng Sharia (Hồi giáo) ra đời đã mở rộng thẩm quyền của Tòa án tôn giáo trong việc xử lý các vụ kiện về kinh tế.

(iii) Tòa án hành chính có thẩm quyền xét xử các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực hành chính Nhà nước. Đây là tòa án quan trọng thường xuất hiện trong các hệ thống pháp luật theo truyền thống Dân luật.

(iv) Tòa án quân sự phụ trách xét xử các vụ việc liên quan đến lực lượng vũ trang Indonesia.

 

Hệ thống Tòa án thường được chia thành 2 cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm. Ở cấp sơ thẩm có hai loại tòa án là Tòa lưu động khu vực (Circuit) đặt ở các thị trấn nhỏ và Tòa án quận. Đặc điểm tòa án lưu động này ở Indonesia là sự kế thừa nét đặc trưng trong hệ thống Tòa án của dòng họ pháp luật Civil law. Đối với các tranh chấp hành chính, công dân Indonesia có thể lựa chọn một trong hai trình tự khác nhau để giải quyết các tranh chấp hành chính. Theo đó, công dân có thể khiếu nại quyết định hành chính lên cấp trên của người đã ra quyết định hoặc khởi kiện ra tòa án hành chính.

Chịu sự ảnh hưởng của dòng họ pháp luật Civil law, mô hình tố tụng ở Indonesia là tố tụng thẩm vấn. Thẩm phán ưa thích tìm ra sự thật, có vai trò chủ động trong hoạt động tố tụng. Mặc dù Thẩm phán không ban hành án lệ một cách chính thức, tuy nhiên, những bản án cấp trên có ý nghĩa nhất định với các thẩm phán cấp dưới. 

Trên đây là bài viết sưu tầm và tổng hợp về Vì sao hệ thống pháp luật Indonesia có sự pha trộn giữa các đặc trưng của Họ pháp luật Hồi giáo, Họ pháp luật Civil Law và tập quán bản địa? . Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuêv