- 1. Các yếu tố cấu thành Tội gây ô nhiễm môi trường
- 1.1. Khách thể của tội phạm
- 1.2. Mặt khách quan
- 1.3. Chủ thể
- 1.4. Mặt chủ quan
- 2. Khung hình phạt tội gây ô nhiễm môi trường
- 2.1. Khung hình phạt đối với cá nhân
- 2.2. Khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại
- 2.4. Tham khảo hình phạt qua các bản án hình sự
- 3. So sánh với các tội danh tương tự và khung pháp lý với các quốc gia tiên tiến
- 3.1. Phân biệt với Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường (Điều 237 BLHS)
- 3.2. So sánh khung pháp lý với các quốc gia tiên tiến
- 3.3. Các cam kết quốc tế của Việt Nam
- 4. Khó khăn vướng mắc và các kiến nghị đề xuất
- 4.1. Khó khăn trong thực tiễn và vướng mắc áp dụng
- 4.2. Kiến nghị đề xuất hoàn thiện pháp luật
- Kết luận
Về bản chất, đây là một tội phạm có cấu thành vật chất, nhưng với một dấu hiệu định tội đặc biệt, đó là các ngưỡng định lượng cụ thể. Khác với các tội phạm vật chất thông thường vốn yêu cầu hậu quả thực tế đã xảy ra (ví dụ: gây chết người, thiệt hại tài sản), Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235 BLHS 2015) đã hình sự hóa hành vi ngay khi nó đạt đến một ngưỡng định lượng nhất định, độc lập với việc có gây ra hậu quả "nghiêm trọng" ngay lập tức hay không. Điều này thể hiện một sự thay đổi đột phá trong chính sách hình sự của Việt Nam đối với tội phạm môi trường.
Tội gây ô nhiễm môi trường hành vi cố ý chôn, lấp, đổ, thải trái pháp luật các chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ hoặc chất thải nguy hại khác làm ô nhiễm môi trường.
1. Các yếu tố cấu thành Tội gây ô nhiễm môi trường
1.1. Khách thể của tội phạm
Khách thể trực tiếp của tội phạm này là sự xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, bao gồm sự sạch đẹp của môi trường sống, chất lượng cuộc sống, sức khỏe và tính mạng của con người. Đối tượng tác động của tội phạm là môi trường tại Việt Nam, bao gồm đất, nước, không khí và các yếu tố vật chất khác. Ô nhiễm môi trường được hiểu là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
1.2. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội gây ô nhiễm môi trường được quy định rõ ràng tại Điều 235 BLHS 2015.
Hành vi phạm tội: Bao gồm các hành vi cụ thể và đa dạng như chôn, lấp, đổ, thải, xả thải ra môi trường các chất nguy hại một cách trái pháp luật. Cụ thể, hành vi này có thể là thải ra các loại dầu mỡ, hóa chất độc hại, chất phóng xạ quá tiêu chuẩn cho phép; đổ các chất thải, xác động thực vật, vi khuẩn độc hại; chôn vùi vào lòng đất các chất độc hại vượt ngưỡng quy định; hoặc thải khói, bụi, khí độc vào không khí vượt tiêu chuẩn cho phép.
Dấu hiệu hậu quả và các ngưỡng định lượng: Dấu hiệu này là điểm cốt lõi để phân biệt hành vi phạm tội với vi phạm hành chính và là căn cứ để xác định khung hình phạt. Điều 235 đã quy định các ngưỡng định lượng nghiêm ngặt về khối lượng chất thải, lưu lượng nước thải, khí thải, hoặc nồng độ chất nguy hại. Ví dụ, tội phạm được cấu thành khi chôn, lấp, đổ, thải trái pháp luật từ 1000kg chất thải nguy hại hoặc từ 3000kg chất thải nguy hại khác trở lên. Tương tự, các ngưỡng cụ thể cũng được quy định đối với nước thải, khí thải, chất thải rắn thông thường và chất phóng xạ.
Mối quan hệ nhân quả: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xả thải trái pháp luật và hậu quả đã được định lượng hoặc hậu quả nghiêm trọng/đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của pháp luật. Việc chứng minh mối quan hệ này là căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội.
1.3. Chủ thể
Chủ thể của tội gây ô nhiễm môi trường bao gồm cả cá nhân và pháp nhân thương mại.
- Đối với cá nhân: Người phạm tội phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Đối với pháp nhân thương mại: BLHS 2015 đánh dấu một bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với tội danh này. Việc quy định này phù hợp với thực tiễn các vụ án môi trường quy mô lớn thường do các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện.
1.4. Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của tội gây ô nhiễm môi trường được xác định là lỗi cố ý, bao gồm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn thực hiện và mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra.
Tuy nhiên, có một điểm đặc biệt trong quy định của Điều 235 là trường hợp người phạm tội không cố ý gây ô nhiễm ban đầu nhưng sau khi đã bị xử phạt hành chính, họ vẫn cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Hành vi "cố tình không khắc phục" sau khi đã có yêu cầu chính thức từ cơ quan nhà nước có thể được xem là một dạng lỗi cố ý gián tiếp mới, bởi người phạm tội nhận thức được hậu quả ô nhiễm sẽ tiếp diễn hoặc nghiêm trọng hơn nhưng vẫn để mặc cho nó xảy ra. Điều này đã mở rộng phạm vi của lỗi cố ý, tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng chây ì, không hợp tác.
2. Khung hình phạt tội gây ô nhiễm môi trường
Nội dung Điều 235, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về Tội gây ô nhiễm môi trường như sau:
Điều 235. Tội gây ô nhiễm môi trường
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường trái pháp luật từ 1.000 kilôgam đến dưới 3.000 kilôgam chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc từ 3.000 kilôgam đến dưới 10.000 kilôgam chất thải nguy hại khác;
b) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường trái pháp luật từ 500 kilôgam đến dưới 1.000 kilôgam chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc từ 1.500 kilôgam đến dưới 3.000 kilôgam chất thải nguy hại khác nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Xả thải ra môi trường từ 500 mét khối (m3) trên ngày đến dưới 5.000 mét khối (m3) trên ngày nước thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 05 lần đến dưới 10 lần hoặc từ 300 mét khối (m3) trên ngày đến dưới 500 mét khối (m3) trên ngày nước thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 10 lần trở lên;
d) Xả thải ra môi trường 500 mét khối (m3) trên ngày trở lên nước thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 03 lần đến dưới 05 lần hoặc từ 300 mét khối (m3) trên ngày đến dưới 500 mét khối (m3) trên ngày nước thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 05 lần đến dưới 10 lần hoặc từ 100 mét khối (m3) trên ngày đến dưới 300 mét khối (m3) trên ngày nước thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 10 lần trở lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
đ) Thải ra môi trường từ 150.000 mét khối (m3) trên giờ đến dưới 300.000 mét khối (m3) trên giờ khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 05 lần đến dưới 10 lần hoặc từ 100.000 mét khối (m3) trên giờ đến dưới 150.000 mét khối (m3) trên giờ khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 10 lần trở lên;
e) Thải ra môi trường 150.000 mét khối (m3) trên giờ trở lên khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 03 lần đến dưới 05 lần hoặc từ 100.000 mét khối (m3) trên giờ đến dưới 150.000 mét khối (m3) trên giờ khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 05 lần đến dưới 10 lần hoặc từ 50.000 mét khối (m3) trên giờ đến dưới 100.000 mét khối (m3) trên giờ khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 10 lần trở lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
g) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường trái pháp luật chất thải rắn thông thường từ 100.000 kilôgam đến dưới 200.000 kilôgam hoặc từ 70.000 kilôgam đến dưới 100.000 kilôgam nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
h) Xả thải ra môi trường nước thải, chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải rắn hoặc phát tán khí thải có chứa chất phóng xạ vượt giá trị liều từ 50 milisivơ (mSv) trên năm đến dưới 200 milisivơ (mSv) trên năm hoặc giá trị suất liều từ 0,0025 milisivơ (mSv) trên giờ đến dưới 0,01 milisivơ (mSv) trên giờ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường trái pháp luật từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000 kilôgam chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc từ 10.000 kilôgam đến dưới 50.000 kilôgam chất thải nguy hại khác;
b) Xả thải ra môi trường từ 5.000 mét khối (m3) trên ngày đến dưới 10.000 mét khối (m3) trên ngày nước thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 05 lần đến dưới 10 lần hoặc từ 500 mét khối (m3) trên ngày đến dưới 5.000 mét khối (m3) trên ngày nước thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 10 lần trở lên;
c) Thải ra môi trường từ 300.000 mét khối (m3) trên giờ đến dưới 500.000 mét khối (m3) trên giờ khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 05 lần đến dưới 10 lần hoặc từ 150.000 mét khối (m3) trên giờ đến dưới 300.000 mét khối (m3) trên giờ khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 10 lần trở lên;
d) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường trái pháp luật chất thải rắn thông thường từ 200.000 kilôgam đến dưới 500.000 kilôgam;
đ) Xả thải ra môi trường nước thải, chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải rắn hoặc phát tán khí thải có chứa chất phóng xạ vượt giá trị liều từ 200 milisivơ (mSv) trên năm đến dưới 400 milisivơ (mSv) trên năm hoặc giá trị suất liều từ 0,01 milisivơ (mSv) trên giờ đến dưới 0,02 milisivơ (mSv) trên giờ;
e) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường trái pháp luật 5.000 kilôgam trở lên chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc 50.000 kilôgam trở lên chất thải nguy hại khác;
b) Xả thải ra môi trường 10.000 mét khối (m3) trên ngày trở lên nước thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 05 lần đến dưới 10 lần hoặc 5.000 mét khối (m3) trên ngày trở lên nước thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 10 lần trở lên;
c) Thải ra môi trường 500.000 mét khối (m3) trên giờ trở lên khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 05 lần đến dưới 10 lần hoặc 300.000 mét khối (m3) trên giờ trở lên khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 10 lần trở lên;
d) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường trái pháp luật chất thải rắn thông thường 500.000 kilôgam trở lên;
đ) Xả thải ra môi trường nước thải, chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải rắn hoặc phát tán khí thải có chứa chất phóng xạ vượt giá trị liều 400 milisivơ (mSv) trên năm trở lên hoặc giá trị suất liều 0,02 milisivơ (mSv) trên giờ trở lên;
e) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 7.000.000.000 đồng đến 12.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 12.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.
2.1. Khung hình phạt đối với cá nhân
Khung cơ bản (Khoản 1): Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Khung tăng nặng:
- Khoản 2: Phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Áp dụng cho các trường hợp như phạm tội có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, tái phạm nguy hiểm, hoặc chôn, lấp, đổ, thải chất thải với khối lượng lớn hơn, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng.
- Khoản 3: Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Áp dụng khi phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
2.2. Khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại
Hình phạt chính: Tùy theo mức độ vi phạm, pháp nhân thương mại có thể bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng, hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng có thể bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Hình phạt bổ sung: Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.
Mặc dù BLHS 2015 đã nâng cao khung hình phạt so với các luật trước đây, mức phạt tiền tối đa cho pháp nhân thương mại là 20 tỷ đồng vẫn chưa đủ sức răn đe đối với các hành vi gây ô nhiễm quy mô lớn. Thực tiễn cho thấy, nhiều vụ án môi trường đã gây ra thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng, vượt xa mức phạt tối đa này. Phân tích các bản án thực tế cho thấy, nhiều trường hợp cá nhân được xử phạt tù treo hoặc phạt tiền , gây ra sự chênh lệch giữa tính nghiêm trọng của hậu quả môi trường và mức hình phạt thực tế được áp dụng. Điều này đặt ra câu hỏi về tính hiệu quả của pháp luật, đồng thời cho thấy sự cần thiết phải tăng khung hình phạt hoặc bổ sung các biện pháp khắc phục hậu quả bắt buộc để đảm bảo pháp luật thực sự có thể ngăn chặn các hành vi vì lợi nhuận bất chấp môi trường.
2.4. Tham khảo hình phạt qua các bản án hình sự
Thực tiễn xét xử tội gây ô nhiễm môi trường tại Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy một số xu hướng đáng chú ý, với nhiều vụ án tiêu biểu được đưa ra xét xử. Các bản án này thường áp dụng Điều 235 Bộ luật Hình sự và có những điểm chung về hành vi phạm tội cũng như mức hình phạt.
- Bản án số 15/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam, vụ án Trần Thị Đ: Bị cáo đã chôn lấp trái phép 502.450 kg chất thải rắn thông thường. Hành vi này đã bị truy tố theo điểm d khoản 3 Điều 235 Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo thực hiện hành vi với khối lượng lớn, Tòa án đã tuyên phạt bị cáo 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm và không có hình phạt bổ sung.
- Bản án số 40/2023/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, vụ án Giang Xuân T: Bị cáo đã thuê đất và xây lò đốt phế liệu, đốt trái phép khoảng 222 tấn chất thải, bao gồm cả vi mạch điện thoại và máy tính. Tòa án áp dụng điểm g khoản 1 Điều 235 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng.
- Bản án số 82/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, vụ án Lại Văn K: Bị cáo đã chỉ đạo công nhân đổ trái phép 184.940 kg chất thải rắn công nghiệp thông thường. Tòa án áp dụng điểm g khoản 1 Điều 235 Bộ luật Hình sự và tuyên phạt 6 tháng tù treo, thời gian thử thách 12 tháng. Bị cáo cũng bị phạt bổ sung 3.000.000 đồng.
- Bản án số 41/2023/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam, vụ án Phạm Quang S và Nguyễn Hữu T: Các bị cáo đã xả 411.720 kg bùn thải rắn công nghiệp ra hố chứa không đúng quy định. Tòa án tuyên bố hai bị cáo phạm tội "Gây ô nhiễm môi trường," xử phạt Phạm Quang S 18 tháng tù treo và Nguyễn Hữu T 15 tháng tù treo, đồng thời phạt bổ sung 30.000.000 đồng đối với Phạm Quang S.
Một trong những phát hiện quan trọng nhất trong nghiên cứu là sự thiếu vắng Án lệ về tội gây ô nhiễm môi trường. Các tài liệu tra cứu trên cổng thông tin công bố bản án của Tòa án nhân dân Tối cao cho thấy, các bản án về tội danh này đều có số lượt bình chọn làm nguồn phát triển án lệ là 0. Điều này phản ánh tính mới của loại tội phạm này trong thực tiễn xét xử, cũng như sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Tạp chí Tòa án cũng đã nêu vấn đề này, kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn để làm rõ các yếu tố cấu thành tăng nặng, đặc biệt là khái niệm "gây hậu quả nghiêm trọng".
Sự thiếu vắng án lệ gây ra những khó khăn nhất định cho công tác xét xử, khiến các thẩm phán phải tự mình giải thích và áp dụng luật, dẫn đến sự thiếu nhất quán và tính định hướng. Việc này làm giảm tính minh bạch và công bằng trong hệ thống tư pháp, khi các bị cáo có hành vi tương tự có thể nhận được các mức hình phạt khác nhau. Ví dụ, trong khi vụ án của Trần Thị Đ bị xử lý theo khoản 3 Điều 235 với khối lượng chất thải lên đến hơn 500 tấn, thì vụ án của Lại Văn K lại bị xử lý theo khoản 1 Điều 235 với khối lượng chất thải chỉ hơn 180 tấn. Dù có thể có những khác biệt về tính chất chất thải, sự chênh lệch này cho thấy một sự thiếu rõ ràng trong việc xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi, từ đó dẫn đến việc áp dụng các khung hình phạt khác nhau.
3. So sánh với các tội danh tương tự và khung pháp lý với các quốc gia tiên tiến
3.1. Phân biệt với Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường (Điều 237 BLHS)
Đây là hai tội danh dễ bị nhầm lẫn, nhưng có những khác biệt cơ bản về bản chất hành vi và dấu hiệu định tội. Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235) là hành vi trực tiếp xả thải, chôn lấp, đổ chất ô nhiễm ra môi trường trái pháp luật. Trong khi đó, Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường (Điều 237) là hành vi vi phạm các quy định mang tính thủ tục, quản lý (ví dụ: không lập kế hoạch ứng phó sự cố), dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về môi trường hoặc về người, tài sản.
Bảng so sánh dưới đây sẽ làm rõ hơn sự khác biệt giữa hai tội danh thường bị nhầm lẫn trong thực tiễn:
| Tiêu chí | Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235) | Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó khắc phục sự cố môi trường (Điều 237) |
| Căn cứ pháp lý | Điều 235 BLHS 2015 | Điều 237 BLHS 2015 |
| Bản chất hành vi | Hành vi trực tiếp xả thải, chôn lấp, đổ chất ô nhiễm ra môi trường trái pháp luật. | Hành vi vi phạm quy định mang tính thủ tục, quản lý, dẫn đến sự cố. |
| Dấu hiệu định tội | Ngưỡng định lượng cụ thể về khối lượng chất thải, lưu lượng khí/nước thải. | Hậu quả gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản (tỷ lệ thương tật, giá trị tài sản...). |
| Khách thể | Xâm phạm đến sự sạch đẹp, an toàn của môi trường. | Xâm phạm đến các quy định quản lý nhà nước về phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường. |
3.2. So sánh khung pháp lý với các quốc gia tiên tiến
So sánh khung pháp lý và chính sách xử lý tội phạm môi trường của Việt Nam với các quốc gia phát triển cho thấy những điểm tương đồng và khác biệt quan trọng. Về mặt xây dựng luật, Việt Nam đã có một hệ thống pháp luật tương đối toàn diện, tương tự như các quốc gia khác. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của Việt Nam nằm ở khâu thực thi pháp luật, do các vấn đề về phối hợp liên ngành và nguồn lực hạn chế.
| Tiêu chí | Việt Nam | Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ |
| Hệ thống pháp luật | Khá đầy đủ, quy định chi tiết về hành vi và ngưỡng định lượng | Khung pháp lý chặt chẽ, đặc biệt về thuế và hình phạt |
| Cơ chế thực thi | Gặp nhiều thách thức, thiếu sự phối hợp đồng bộ và nguồn lực hạn chế | Hiệu quả hơn nhờ cơ chế phối hợp tốt, ứng dụng công nghệ và chế tài nghiêm khắc |
| Mức độ hình phạt | Xu hướng khoan hồng, chủ yếu là án treo, chưa tương xứng với hậu quả | Thường rất nặng, bao gồm các khoản tiền phạt khổng lồ và tổn thất giá trị cổ phiếu |
| Sự phụ thuộc vào công nghệ | Bước đầu áp dụng các công nghệ tiên tiến để hỗ trợ giám sát và điều tra | Công nghệ giám sát tự động và bằng chứng khoa học là nền tảng của hệ thống thực thi |
| Vai trò của án lệ | Thiếu án lệ, gây khó khăn cho việc xét xử thống nhất | Án lệ hoặc các văn bản hướng dẫn chi tiết được coi là cơ sở pháp lý quan trọng |
3.3. Các cam kết quốc tế của Việt Nam
Việt Nam đã tham gia và thực hiện nhiều hiệp định và công ước quốc tế quan trọng về bảo vệ môi trường, bao gồm hơn 40 công ước. Các cam kết này là một động lực mạnh mẽ để Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước. Các công ước tiêu biểu bao gồm:
- Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới chất thải độc hại.
- Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy.
- Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu.
Ngoài ra, các cam kết về môi trường trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA cũng đóng vai trò quan trọng. Các hiệp định này yêu cầu các nước thành viên phải đảm bảo thực thi các cam kết về môi trường để thúc đẩy phát triển bền vững. Để tận dụng lợi thế thương mại, Việt Nam buộc phải hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế.
4. Khó khăn vướng mắc và các kiến nghị đề xuất
Vai trò của công nghệ và khoa học trong việc phát hiện, điều tra và xử lý tội gây ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên quan trọng. Các công nghệ giám sát tiên tiến giúp cơ quan chức năng vượt qua những thách thức truyền thống về việc thu thập bằng chứng.
Cảm biến IoT và Trạm quan trắc tự động: Việc ứng dụng công nghệ IoT và các trạm quan trắc tự động liên tục đã trở thành một xu hướng tất yếu tại Việt Nam. Các hệ thống này sử dụng các module và cảm biến để đo lường nồng độ các chất ô nhiễm trong không khí (SO2, CO, NOx, PM2.5) và nước (nhiệt độ, pH, DO, TSS, COD) theo thời gian thực. Dữ liệu thu thập được có độ chính xác cao, được truyền về trung tâm để phân tích và cảnh báo khi các chỉ số vượt ngưỡng, giúp các cơ quan quản lý phát hiện sớm các hành vi vi phạm.
Vệ tinh và Drone: Công nghệ vệ tinh và máy bay không người lái (drone) cung cấp khả năng giám sát trên diện rộng và khó tiếp cận. Các nhà khoa học Việt Nam đã sử dụng dữ liệu vệ tinh để lập bản đồ ô nhiễm bụi mịn PM2.5 trên toàn quốc, cung cấp một bức tranh toàn diện về ô nhiễm không khí. Vệ tinh radar đầu tiên của Việt Nam, LOTUSat-1, cũng được đề xuất để giám sát đô thị hóa, kiểm soát chất thải và quản lý nước mặt. Drone được trang bị cảm biến nhiệt và đa quang phổ, giúp giám sát rừng, phát hiện rò rỉ khí và tuần tra môi trường một cách tự động và liên tục, thu thập dữ liệu liền mạch.
Giám định tư pháp là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi tố tụng hình sự môi trường. Vì tội danh này phụ thuộc vào các ngưỡng định lượng, bằng chứng khoa học từ hoạt động giám định là yếu tố sống còn để xác định hành vi phạm tội có đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Thông tư số 15/2021/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định chi tiết về tiêu chuẩn của người giám định tư pháp trong lĩnh vực này, yêu cầu người giám định phải có trình độ đại học trở lên và kinh nghiệm thực tiễn từ đủ 5 năm.
Các bản án gần đây đều cho thấy vai trò quyết định của kết luận giám định. Ví dụ, trong các vụ án của Trần Thị Đ hay Phạm Quang S, kết luận giám định đã xác định tính chất và khối lượng của chất thải, làm cơ sở để Tòa án kết luận các bị cáo đã phạm tội "Gây ô nhiễm môi trường" theo Điều 235 Bộ luật Hình sự. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của tính khách quan và khoa học trong hoạt động giám định để đảm bảo sự công bằng và chính xác trong xét xử.
4.1. Khó khăn trong thực tiễn và vướng mắc áp dụng
Mặc dù BLHS 2015 đã có những tiến bộ đáng kể, việc thực thi pháp luật đối với tội gây ô nhiễm môi trường vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn.
Hạn chế trong việc xác định, đánh giá và định lượng hậu quả: Mặc dù luật đã chuyển sang tiêu chí định lượng, việc xác định chính xác khối lượng, nồng độ của chất thải vẫn gặp khó khăn, đặc biệt khi đối tượng tìm cách tiêu hủy chứng cứ. Việc chứng minh thiệt hại về sức khỏe con người do ô nhiễm kéo dài vẫn là một thách thức lớn, khi hậu quả có thể xuất hiện sau một thời gian dài, thậm chí sau hàng chục năm.
Thách thức trong việc chứng minh mối quan hệ nhân quả: Trong các vụ án ô nhiễm diện rộng, việc xác định chính xác nguồn gây ô nhiễm duy nhất là rất khó khăn, khi có nhiều nguồn thải khác nhau cùng tồn tại.
Hạn chế về thẩm quyền và năng lực của các cơ quan tố tụng: Việc giải quyết các vụ án môi trường thường kéo dài do các tranh chấp và khó khăn trong giám định. Các cơ quan tiến hành tố tụng thiếu đội ngũ chuyên gia chuyên sâu về môi trường và cơ sở vật chất để tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ khoa học. Điều này dẫn đến thực trạng nhiều vụ án môi trường bị kéo dài, thậm chí không thể truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vướng mắc trong việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân thương mại: Mức phạt tiền tối đa 20 tỷ đồng được đánh giá là chưa đủ sức răn đe đối với những pháp nhân có tiềm lực tài chính mạnh, coi việc nộp phạt như một khoản chi phí kinh doanh. Ngoài ra, việc thiếu các quy định bắt buộc pháp nhân phải khắc phục hậu quả cũng làm giảm hiệu quả của các bản án.
4.2. Kiến nghị đề xuất hoàn thiện pháp luật
Dựa trên những phân tích về thực trạng áp dụng, các đề xuất sau đây được đưa ra nhằm hoàn thiện pháp luật về tội gây ô nhiễm môi trường:
Kiến nghị 1: Hoàn thiện các quy định về hình phạt cần xem xét tăng mức phạt tiền tối đa đối với pháp nhân thương mại để tương xứng với mức độ thiệt hại và lợi nhuận bất chính, nâng cao tính răn đe. Bên cạnh đó, kiến nghị bổ sung hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung là buộc pháp nhân thương mại phải tự khắc phục thiệt hại môi trường đã gây ra. Đây là một biện pháp trực tiếp và hiệu quả hơn là chỉ phạt tiền đơn thuần.
Kiến nghị 2: Sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn cần có Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn chi tiết việc áp dụng Điều 235 BLHS, đặc biệt là cách xác định các ngưỡng định lượng trong thực tế, các yếu tố gây hại đặc biệt nguy hiểm và quy trình giám định.
Kiến nghị 3: Đề xuất về việc thành lập Tòa chuyên trách về môi trường để giải quyết triệt để các vướng mắc về giám định và xét xử, việc thành lập một Tòa án chuyên trách về môi trường với đội ngũ Thẩm phán có chuyên môn sâu về pháp luật môi trường và được hỗ trợ bởi các chuyên gia kỹ thuật là một yêu cầu cấp thiết.
Kết luận
Tội danh "Gây ô nhiễm môi trường" theo Điều 235 BLHS 2015, sửa đổi 2017 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam. Việc chuyển từ cấu thành tội phạm định tính sang định lượng đã tạo ra cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch hơn cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự, đặc biệt là đối với các hành vi xả thải của pháp nhân thương mại.
Tuy nhiên, như đã phân tích, việc thực thi pháp luật vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn, chủ yếu xoay quanh vấn đề giám định tư pháp, xác định mối quan hệ nhân quả và mức độ thiệt hại trong dài hạn. Để pháp luật thực sự trở thành công cụ hữu hiệu trong việc bảo vệ môi trường, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về khung hình phạt, hình phạt bổ sung và có những cải cách về thể chế, đặc biệt là việc thành lập các tòa chuyên trách. Chỉ khi đó, "Tội gây ô nhiễm môi trường" mới có thể phát huy tối đa vai trò răn đe, phòng ngừa và trừng trị, góp phần bảo vệ bền vững môi trường sống của Việt Nam.