1. Khái niệm tham nhũng

Trong khoa học và thực tiễn đã có nhiều quan niệm khác nhau về tham nhũng. Nhiều nhà nghiên cứu thường khái quát hiện tượng tham nhũng là “căn bệnh của quyền lực”. Tham nhũng là hiện tượng của đời sống kinh tế xã hội gắn liền với sự hình thành giai cấp, sự ra đời và phát triển của bộ máy Nhà nước và xuất hiện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tham nhũng gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và là một lực cản đối với sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như toàn cầu. Mặt khác, tham nhũng còn làm mọt ruỗng bộ máy Nhà nước, suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước, với Đảng. Tham nhũng xuất hiện khi một só người sử dụng quyền lực được giao để thỏa mãn lòng tham, tính vụ lợi của mình. Tham nhũng là “ tham” và “ nhũng”, tham là hám lợi, vụ lợi, tư lợi; “ nhũng” là lợi dụng quyền hạn, chức vụ được giao để thõa mãn lòng tham, lợi ích cá nhân. Trên thực tế, có một số quan điểm hiểu về tham nhũng như sau:

Quan điểm đầu tiên, nếu không có quyền lực thì không thể thực hiện được hành vi tham nhũng. Những người có chức, quyền trong Nhà nước, họ đã dùng quyền lực được giao để chiếm đoạt ( ăn cắp, chiếm đoạt, tham ô..) tài sản Nhà nước khi có Điều kiện nhất định: kẽ hở pháp luật, chế độ quản lý cán bộ chưa chặt chẽ, lỏng lẻo, yếu kém…Quan điểm này phạm vi chủ thể là người có chức quyền trong bộ máy Nhà nước, đối tượng tác động là tài sản của Nhà nước.

Quan điểm khác cho rằng: tham nhũng là hành vi hối lộ và bất kỳ hành vi nào khác của những người được giao thực hiện một trách nhiệm nào đó trong Nhà nước hoặc tư nhân hoặc bất kỳ tổ chức nào đó ngoài Nhà nước...vi phạm trách nhiệm được giao để thu về bất kỳ thứ lợi bất hợp pháp từ tài sản Nhà nước, tài sản tập thể, tài sản và quyền lợi ích hợp pháp của người khác về làm của mình. Ở quan điểm này, chủ thể và phạm vi tham nhũng rộng hơn. Không chỉ là người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy Nhà nước mà cả ở các tổ chức, doanh nghiệp khác ngoài Nhà nước. Trong các tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước các hành vi tham nhũng khá đa dạng như: đòi hoa hồng, gửi giá, lại quả, gợi ý, đòi nhận lợi ích bất chính từ đối tác của mình để mang lợi cho họ và gây thiệt hại cho doanh nghiệp của mình, tạo Điều kiện thanh toán thuận lợi để vụ lợi, gian lận trong kê khai tăng chi phí tiêu hao vật tư, gian lận trong thu mua nguyên liệu đầu vào, nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp mình vì vụ lợi…

Đây là quan điểm đầy đủ và phù hợp với tình hình hiện nay, ngày 20/11/2018, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) với tỷ lệ 93,20% đại biểu Quốc hội tán thành. Luật gồm 10 Chương, 96 Điều, trong đó quy định về PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước là một điểm mới nổi bật của Luật này. Thực tiễn hiện nay cho thấy, tham nhũng trong khu vực tư diễn ra khá phức tạp, làm méo mó môi trường kinh doanh, suy yếu sự cạnh tranh của các doanh nghiệp, do đó cần có quy định của pháp luật kịp thời Điều chỉnh

2. Tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước

Các loại hình doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước được hiểu thông qua các quy định tại Điều 3, 9, 10 Luật PCTN 2018, cụ thể: có thể hiểu doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước là doanh nghiệp, tổ chức không thuộc cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp Nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội.

Lần đầu tiên Luật Phòng, chống tham nhũng mở rộng phạm vi điều chỉnh sang khu vực ngoài Nhà nước, luật PCTN 2018 xác định chủ thể của các tội phạm tham nhũng có thể là những người có chức vụ quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước.

Tại Khoản 2 Điều 2 Luật PCTN 2018 quy định: “Các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài Nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước thực hiện bao gồm:

a) Tham ô tài sản;

>> Xem thêm:  Quy định về tố cáo hành vi tham nhũng và hướng dẫn viết đơn tố cáo tham nhũng ?

b) Nhận hối lộ;

c) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi”.

3. Vai trò của việc phòng chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước

Pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy kinh doanh liêm chính và phát triển kinh tế lành mạnh, ổn định cụ thể:

Thứ nhất, pháp luật về PCTN là cơ sở pháp lý để nhận diện tham nhũng. Để nhận diện tham nhũng, trước hết pháp luật đưa ra khái niệm và các dấu hiệu đặc thù của tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước, bên cạnh đó pháp luật quy định cụ thể các hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước với những dấu hiệu đặc trưng của nó và sự phân hóa về tính chất của tham nhũng. Từ các Điều trên, pháp luật tạo Điều kiện để nhận diện tham nhũng xảy ra trên thực tế, phân biệt với các hành vi khác.

Thứ hai, pháp luật về PCTN tạo lập khuôn khổ pháp lý để phát hiện, xử lý tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước. Việc phát hiện tham nhũng đòi hỏi sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các thành viên trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp… đặc biệt vai trò của các cơ quan có chức năng PCTN.

Thứ ba, Pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý để phòng ngừa tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước. Các quy định của pháp luật PCTN được quy định hầu hết các lĩnh vực, cụ thể luật PCTN năm 2018 đã có sự đột biến khi quy định cụ thể, rõ ràng về PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước, nêu rõ các biện pháp phòng ngừa cụ thể, trong đó nêu rõ cách thức, nội dung và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện PCTN.

Thứ tư, pháp luật về PCTN là cơ sở pháp lý để các cơ quan PCTN thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình trong PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước, như các cơ quan thanh tra cần thực hiện trách nhiệm của mình trong công tác PCTN, đặc biệt tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước.

Thứ năm, Pháp luật PCTN là cơ sở để phát huy vai trò, trách nhiệm của công dân, tổ chức trong PCTN. Các chủ thể trên tham gia PCTN bằng nhiều cách thức khác nhau hoặc thực hiện giám sát đối với các chủ thể có hành vi tham nhũng nói chung, tội phạm tham nhũng nói riêng.

Thứ sáu, pháp luật PCTN là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền con người, bảo đảm công bằng xã hội, phát triển bền vững. Xuất phát từ việc bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, của xã hội, tránh sự xâm hại của các chủ thể, nhất là những người có chức, quyền trong xã hội nhằm tạo sự công bằng, bình đẳng trong xã hội…

>> Xem thêm:  Tham nhũng phải chịu mức án như thế nào ?

Như vậy, pháp luật PCTN nói chung, Luật PCTN 2018 nói riêng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước.

4. Những điểm mới trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước

Tham nhũng luôn được coi là một trong những trở ngại lớn nhất đối với hoạt động kinh doanh trong khu vực vì nó làm tăng chi phí kinh doanh, làm "biến dạng" môi trường cạnh tranh, hạn chế cơ hội đầu tư và gia tăng bất bình đẳng xã hội. Theo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Việt Nam trong những năm gần đây, hơn một nửa số công ty được khảo sát đã báo cáo về việc chi trả các chi phí không chính thức.

Một trong những điểm mới quan trọng của Luật Phòng, chống tham nhũng là dành cả một chương mới về phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp và tổ chức khu vực ngoài Nhà nước. Đây là lần đầu tiên Luật Phòng, chống tham nhũng mở rộng phạm vi điều chỉnh sang khu vực ngoài Nhà nước, cụ thể:

Luật PCTN 2018 xác định chủ thể của các tội phạm tham nhũng có thể là những người có chức vụ quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Tại Khoản 2 Điều 2 Luật PCTN 2018 quy định: “Các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài Nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước thực hiện bao gồm:

a) Tham ô tài sản;

b) Nhận hối lộ;

c) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi”.

Như vậy, theo quy định của Luật PCTN 2018, chủ thể tham nhũng được mở rộng hơn, người có chức vụ quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, nhận hối lộ… đều bị xử lý về tội tham ô, tội nhận hối lộ theo quy định tại Khoản 6 Điều 353 cũng như Khoản 6 Điều 354 BLHS 2015. Quy định về PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước xác định hành vi của người có chức vụ quyền hạn có hành vi tham ô tài sản; Nhận hối lộ; Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi được coi lag hành vi tham nhũng đặc biệt là hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi. Đây là quan điểm rất mới trong PCTN, bởi xuất phát từ thực tiễn có nhiều hiện tượng chạy dự án để được giao đất đai, “ chạy” để được giảm thuế, miễn thuế hoặc “ chạy” việc đấu thầu các công trình để trúng thầu… với tình hình thực tế kể trên, cần phải có quy định chặt chẽ và rõ ràng hơn về các quy định PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà Luật PCTN 2018 đã đáp ứng kịp thời.

Để phòng chống, phòng ngừa tham nhũng, theo quy định tại chương II quy định về phòng ngừa tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị trong Nhà nước nói chung; về cơ bản các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng có thể áp dụng các quy định về PCTN tại chương II này. Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa các cơ quan, tổ chức công và tư. Cụ thể, bệnh viện công sẽ có quy định về đạo đức nghề nghiệp không giống hoàn toàn với bệnh viện tư; khu vực ngoài Nhà nước thường chạy theo lợi nhuận, đề cao lợi ích tổ chức. Trong mối quan hệ giữa khu vực tư và khu vực công, thường có thể thấy rằng khu vực tư “ yếu thế” hơn, có xu hướng thực hiện hành vi “ đưa”, còn khu vực công thường thực hiện hành vi “ nhận”. Như vậy, việc đưa ra các quy định về quy tắc ứng xử cho khu vực công và tư là vô cùng quan trọng, đram bảo cạnh tranh, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, chứ không phải dùng các biện pháp, hành vi tiêu cực. các quy định mới về việc xây dụng quy tắc ứng xử cũng góp phần giảm thiểu, ngăn chặn các hành vi “ đưa hối lộ” thì mới thực hiện tốt công việc được giao.

>> Xem thêm:  Xác định chủ thể của tội tham nhũng, quy trình áp dụng án lệ trong pháp luật hình sự ?

Ở mục 2 áp dụng luật phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước, gồm 3 Điều luật từ 80 - 82 quy định về việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước; Thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nướcPhát hiện tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước.

Cụ thể hóa Điều 2, Điều 4 về PCTN, Luật PCTN 2018 đã quy định PCTN trong khu vực, tổ chức ngoài Nhà nước tại chương VI. Như vậy, Luật PCTN 2018 của Việt Nam đã luật hóa khuyến nghị của công ước Liên Hợp Quốc , cụ thể ở Điều 21, 22 về PCTN tại Điều 2, Khoản 2 Điều 4 và chương VI về PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cụ thể các nội dung chủ yếu là:

Thứ nhất, Luật PCTN 2018 yêu cầu doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước phải xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, liêm chính không tham nhũng. Đấu tranh với tham nhũng và tăng cường minh bạch rất quan trọng đối với Việt Nam trong nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh. Điều này quan trọng hơn bao giờ hết vì Việt Nam đang có một vị trí thuận lợi có thể tận dụng lợi thế của việc di chuyển chuỗi cung ứng.

Thứ hai, Luật PCTN 2018 đã nhấn mạnh văn hóa kinh doanh đạo đức nghề nghiệp, đạo đức kinh doanh liêm chính là gốc trong tư tưởng, thái độ, trách nhiệm với xã hội trong kinh doanh để góp phần phòng ngưa tham nhũng. Nội dung này với tinh thần thái độ yêu cầu các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước phải nêu cao tinh thần, quy tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp, đạo đức kinh doanh nhằm phòng ngừa tham nhũng. Đây là điểm khác với quy định tại Khoản 2 Điều 87 Luật Phòng chống tham nhũng 2005_ chỉ có quy định mang tính chất động viên các hiệp hội nghành nghề cần có trách nhiệm khuyến khích các hội viên của mình xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, phi tham nhũng một cách chung chung, không cụ thể và đi sâu nhấn mạnh như Luật PCTN 2018 hiện nay.

Luật PCTN 2018 quy định cụ thể các biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước bao gồm một số biện pháp sau đây:

Thứ nhất, thực hiện trách nhiệm công khai, minh bạch trong hoạt động doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước giống như trong khu vực Nhà nước.

Thứ hai, doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp cần phải xây dựng các quy tắc ứng xử, xây dựng cơ chế kiểm soát nội bộ để thực hiện việc phòng ngừa tham nhũng. Đặc biệt tùy theo loại hình doanh nghiệp đặc thù thì các doanh nghiệp để có các quy định về kiểm soát nội bộ, tổ chức công tắc chi tiêu tài chính, đề án, phân chia lợi nhuận từ đó nhằm phòng ngưa tham nhũng. Ngoài ra, các doanh nghiệp, tổ chức còn có trách nhiệm động viên các thành viên tích cực giám sát việc thực hiện những quy định về PCTN.

Thứ ba, công tác thanh tra, phát hiện tham nhũng trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước được quy định chặt chẽ hơn, thanh tra chính phủ, thanh tra bộ có thể thanh tra các công ty đại chúng, tổ chức tín dụng, đối với tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt Điều lệ có huy động các Khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền tiến hành thanh tra được quy định chi tiết trong pháp luật thanh tra (quy định tại Điều 81 Luật PCTN 2018).

Luật PCTN 2018 tại Điều 82 cũng quy định chi tiết việc doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước tự kiểm tra, phát hiện báo cáo, phản ánh, tổ cáo tham nhũng như quy định chung về PCTN được áp dụng với các cơ quan, tổ chức Nhà nước như quy định tại Điều 65, 66, 67, 69 của Luật PCTN 2018. Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra để kịp thời phát hiện, xử lý và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức mình. Bên cạnh đó thì cơ quan thanh tra khi tiến hành hoạt động thanh tra nếu phát hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước có trách nhiệm xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khi phát hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước có trách nhiệm phản ánh, tố cáo, báo cáo ngay để phòng ngừa hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài Nhà nước.

Như vậy, việc thanh tra, phát hiện… tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng gần tương tự nhưu trong khu vực trong Nhà nước, cũng bao gồm: tự kiểm tra giám sát (giám sát bên trong); thông qua việc thanh tra ( giám sát bên ngoài) để phát hiện tham nhũng trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước, về cơ bản có thể thấy cũng giống nhu trong khu vực Nhà nước Nhưng đây là lần đầu tiên, pháp luật PCTN của Việt Nam ta đưa quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn về PCTN đối với khu vực ngoài Nhà nước.

5. Kết luận

Tóm lại, có thể thấy đây là điểm mới, là việc quy định PCTN trong lĩnh vực tư_doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước, đây được xem là một bước tiến trong tư duy, nhận thức trong quá trình lập pháp của Nhà nước ta hiện nay. Là bước đột phá mới, về quan điểm tham nhũng trong khu vực tư của công ước liên hợp quốc về PCTN. Là lần đầu tiên Việt Nam ta đã thừa nhận tham nhũng trong khu vực tư, lĩnh vực tư và khu vực tư xảy ra trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước được Luật PCTN 2018 quy định cụ thể, chi tiết hơn. Quy định này thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện mục tiêu: Xây dựng một xã hội liêm chính, trong đó thực hiện cơ chế quản lý Nhà nước, quản lý xã hội công khai, minh bạch “không thể tham nhũng” trong cả khu vực công và khu vực tư.

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài Nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước thực hiện gồm những gì?

Trả lời:

Tại Khoản 2 Điều 2 Luật PCTN 2018 quy định: “Các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài Nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước thực hiện bao gồm:

a) Tham ô tài sản;

b) Nhận hối lộ;

c) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi”.

Câu hỏi: Đâu là cơ sở pháp lý quy định về chống tham nhũng đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước?

Trả lời:

Pháp luật về PCTN là cơ sở pháp lý để nhận diện tham nhũng. Để nhận diện tham nhũng, trước hết pháp luật đưa ra khái niệm và các dấu hiệu đặc thù của tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước, bên cạnh đó pháp luật quy định cụ thể các hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước với những dấu hiệu đặc trưng của nó và sự phân hóa về tính chất của tham nhũng. Từ các Điều trên, pháp luật tạo Điều kiện để  nhận diện tham nhũng xảy ra trên thực tế, phân biệt với các hành vi khác.

pháp luật về PCTN tạo lập khuôn khổ pháp lý để phát hiện, xử lý tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước. Việc phát hiện tham nhũng đòi hỏi sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các thành viên trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp… đặc biệt vai trò của các cơ quan có chức năng PCTN.

Câu hỏi: việc thanh tra, phát hiện tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước gồm những việc gì?

Trả lời:

Việc thanh tra, phát hiện tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng gần tương tự nhưu trong khu vực trong Nhà nước, cũng bao gồm: tự kiểm tra giám sát (giám sát bên trong); thông qua việc thanh tra ( giám sát bên ngoài) để phát hiện tham nhũng trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước, về cơ bản có thể thấy cũng giống nhu trong khu vực Nhà nước Nhưng đây là lần đầu tiên, pháp luật PCTN của Việt Nam ta đưa quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn về PCTN đối với khu vực ngoài Nhà nước.