1. Thành phần quy phạm của tư pháp quốc tế

Pháp luật nói chung, từng hệ thôhg pháp luật, từng ngành pháp luật nói riêng, bao gồm tổng thể các nguyên tắc và quy phạm có nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ xã hội nhất định. Tư pháp quốc tế cũng bao gồm tổng thể các nguyên tắc và quy phạm nhất định có nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Nội dụng các nguyên tắc của tư pháp quốc tế được thể hiện trong nội dung của cả hệ thống quy phạm và trong từng quy phạm cụ thể của tư pháp quốc tế.

Vấn đề thành phần quy phạm của tư pháp quốc tế là vấn đề phức tạp và chưa có ý kiến thống nhất trong giới khoa học về tư pháp quốc tế ở các nước trên thế giới và cả ỏ Việt Nam. Trên thực tế có 3 quan điểm khác nhau như sau:

Phải kể đến loại quy phạm thực chất trong các văn bản pháp lý trong nước điều chỉnh quan hộ tư pháp quốc tế một cách trực tiếp (tức là không cần bất cứ một sự dẫn chiếu nào của quy phạm xung đột tới nó). Các quy phạm này cũng là một phần của Tư pháp quốc tế. ,Nó là nhóm quy phạm ở các văn bản pháp quy của nhà nước điều chỉnh trực tiếp các quan hệ kinh tế đối ngoai hoặc các quan hệ hợp tác khoa học – kỹ thuật, văn hóa giữa các tổ chức, đơn vị, cá nhân công dân Việt Nam với các bên tương ứng của nước ngoài. Ví dụ: Các quy định trong Luật đầu tư cũng cần nhấn mạnh rằng nó là một nhóm quy phạm có tính chất riêng biệt và không thể cho nó đồng nhất với các quy phạm dân sự và ở một mức độ nhất định nào đó cho thấy sự khác biệt và ranh giới giữa Tư pháp quốc tế với Luật dân sự.
     Như vậy, trong thành phần cơ cấn của Tư pháp quốc tế bao gồm hai loại quy phạm: quy phạm xung đột và quy phạm thực chất cùng điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế nảy sinh trong quá trình hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật văn hóa giữa các quốc gia và các quy phạm quy định các quyền dân sư, hôn nhân gia đình, lao động thương mai và tố tụng dân sự của ngươi nước ngoài. Đây là nội dung cơ bản của Tư pháp quốc tế và nó thể hiện đậm nét trong các đặc thù của ngành luật này.

Hiện nay về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn Tư pháp quốc tế ở các quốc gia khác nhau còn có nhiều sự khác biệt, chảng hạn như vấn đề đối tựơng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế cũng chưa thể thống nhất.
    Ví dụ: Ở Séc và Slovakia thì cho rằng Tư pháp quốc tế bao gồm các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất. Còn một số luật gia ở Bungari lại cho rằng Tư pháp quốc tế chỉ gồm các quy phạm xung đột. Trung Quốc cũng giống như ở Bungari cho rằng Tư pháp quốc tế là điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, nên chỉ nhìn nhận Tư pháp quốc tế bao gồm các quy phạm xung đột hoặc luật xung đột. ơ Balan, Tư pháp quốc tế được coi như luật xung đột nhưng lại thêm cả vấn đề tố tụng dân sự quốc tế nữa. Hungari cũng có quan điểm giống như ở Ba Lan. Ở Anh – Mỹ trong các giáo trình của các trường đại học và các tác phẩm chuyên khảo thì nhìn nhận các vấn đề xung đột pháp luật dưới góc độ của các vấn đề lựa chọn pháp luật (choice of law) và các vấn đề thẩm quyền (jurisdiction) của tòa án, tòa án Anh – Mỹ có thẩm quyền xét xử hay tòa án nước ngoài có thẩm quyền xét xử. ở đây cũng cần lưu ý rằng các quan điểm này của Anh – Mỹ thường dẫn tới việc hạn chế việc áp dụng luật nước ngoài và tăng cường tới mức tối đa có thể được trong mọi trường hợp để áp dụng luật Anh – Mỹ.

2.Quan điểm thứ nhất quy phạm xung đột 

Ở một số nước trên thế giới, có các nhà khoa học nổi tiếng như L. Raape G. Kegel 2 cho rằng tư pháp quốc tế chỉ bao 1 gồm một loại, quy phạm là quy phạm xung đột - quy phạm hướng dẫn chọn pháp luật của nước này-hay nước khác để điều chỉnh quan hệ xã hội cụ thể có yếu tô' nước ngoài. Có hai loại quy phạm xung đột: Quy phạm xung đột của từng quồc gia do quốc gia tự xây dựng trong văn bản pháp luật quốc gia; quy phạm xung đột thống nhất do các quốc gia thoả thuận xây dựng bằng cách ký kết các điều ước quốc tế hoặc cùng chấp nhận áp dụng các tập quán quốc tế nhất định có nội dung của quy phạm xung đột. Vì vậy, họ đồng nhất tư pháp quốc tế với luật xung đột.

3. Quân điểm thứ hai bao gồm cả quy phạm xung đột và thực chất

Theo quan điểm này, các quy phạm của tư pháp quốc tế bao gồm cả quy phạm xung đột và quy phạm thực chất.

Theo quan niệm của họ, quy phạm thực chất ở đây bao gồm quy phạm thực chất thôhg nhất (quy phạm do các quốc gia thoả thuận xây dựng bằng cách ký kết các điều ước quốc tế hoặc thoả thuận cùng áp dụng các tập quán quốc tế nhất định với nội dung quy định rõ quyền và nghía vụ của các bên tham gia quan hệ xã hội, quy định cả các hình thức và biện pháp chế tài cần hoặc có thể được áp dụng trong trưòng hợp có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra) và cả các quy phạm thực chất do từng quốc gia tự xây dựng để áp dụng trực tiếp đô'i với các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài mà không cần sự chỉ dẫn của quy phạm xung ’đột( ví dụ, các quy định của quốc gia trong các văn bản về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài; các văn bản pháp luật quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của người nước ngoài, các văn bản pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài, v.v...).

4. Quan điểm thứ ba 

Những người theo quan điểm này bác bỏ các quan điểm thứ nhất và thứ hai, và khẳng định tư pháp quốc tế chỉ có hai loại quy phạm là quy phạm thực chất thống nhất và quy phạm xung đột Quan điểm thứ nhất không đúng về mặt lý luận và' cũng không phù hợp với thực tiễn đỉều chỉnh các mốỉ quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, sỏ dĩ như vậy là vì, các quan hệ dần sự có yếu tố nưốc ngoài trên thực tế được điều chỉnh không chỉ bởi các quy phạm xung ’đột mà bởi cả các quy phạm thực chất thống nhất. Trên thực tế không có luật gia nào lên tiếng bác bỏ và cũng không có quyền bác bỏ việc các quốc gia ký kết với nhau, thậm chí ký kết ngày càng nhiều các điều ước quốc tế để xây dựng không chỉ các quy phạm xung đột thống nhất mà xây dựng cả các quy phạm thực chất thống nhất (ví dụ; . Công ưốc Viên năm 1980 về mua bán quốc tế hàng hoá, các công ước quốc tế về vận tải đường sắt quốc tế, vận tải đường bộ quốc tế , vận tải đường hàng không quốc tế, các công ước quốc tế về bưu chính viễn thông quốc tế, v.v.) hoặc cùng chấp nhận áp dụng một số’ tập quán nhất đỉnh có nội dung cửa quy phạm thực chất thông nhất (ví dụ: các tập quán CIF, FOB, V.V., trong lĩnh vực buôn bán và hàng hải quốc tế) nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nưởc ngoài. Ngay cả các luật gia đồng nhất tư pháp quốc tế với luật xung đột cũng không lên tiếng bác bỏ việc này.

Quan điểm thứ hai cũng không đúng về mặt lý luận cũng như thực tiễn điều chỉnh các mốỉ quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Nếu cho rằng tư pháp quốc tế bao gồm cả quy phạm thực chất do từng quốc gia tự xây dựng thì dẫn đến tình trạng phủ nhận tính độc lập của tư pháp quốc tế, phủ nhận sự tồn tại thực tế và khách quan của một số quy phạm xung đột. Ví dụ, ngay trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (Điều 81) có quy định “Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam”. Điều 4 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31-7-2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định: “Các đối tượng tham gia hợp tác đầu tư quy định'tại Điều 2 Nghị định này phải tuân thủ quy định của Luật Đầu tư nước ngoài, quy định của Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam”.

Theo quan điểm của chúng ta, các quy định nêu trên của Hiến pháp năm 1992 cũng như của Nghị định số 24J2000/ NĐ-CP chứa đựng nội dung của quy phạm xung đột có tính chất chung, chỉ dẫn áp dụng các quy phạm thực chất do Nhà nước ta xây dựng để áp dụng riêng cho những trường hợp quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Đây thực chất là quy phạm xung đột một bên, chỉ quy định , trường hợp áp dụng pháp luật Việt Nam.

Mô hình quy phạm xung đột một bên này còn được thể hiện tại Điều 830 của Bộ luật Dân sự Việt Nam “Người nước ngoài có nặng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự này, các văn bản pháp luật khác của cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”. Nói cách khác, trong mọi trường hợp quan hệ dân. sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, nếu không có quy phạm thực chất thống nhất đỉều chỉnh thì đều cần phải có quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật để áp dụng .Không ai có thể bác bỏ được quan điểm thứ ba, vì quan điểm này vừa đúng về mặt lý luận vừa phù hợp với pháp luật thực định cũng như thực tiễn điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Nếu so sánh hai loại quy phạm của tư pháp quốc tế thì chúng ta thấy rằng, hiện tại quy phạm xung đột là bộ phận chủ yếu; nếu so sánh quy phạm xung đột do từng quốc gia tự xây dựng với quy phạm xung đột thống nhất tồn tại dưới dạng điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, thì quy phạm xung đột do từng quốc gia lại là bộ phận chủ yếu.

Tuy nhiên, xu hưống chung hiện nay là các quốc gia đã và đang cố gắng ký kết ngày càng nhiều điều ước quốc tế để xây dựng các quy phạm thực chất thống nhất; trường hợp không xây dựng được các quy phạm thực chất thông nhất thì cố gắng xây dựng quy .phạm xung đột thống nhất nhằm thống nhất việc hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nưốc ngoài. Vì vậy, tương quan giữa quy phạm thực chất thống nhất với quy phạm xung đột, giữa quy phạm xung đột thống nhất với quy phạm xung đột do từng quốc gia tự xây dựng sẽ dần dần thay đổi theo hướng sô' lượng và vai trô của các quy phạm thốngnhất sẽ ngày càng được nâng cao.

5. Đặc điểm nguồn của tư pháp quốc tế

– Nguồn của tư pháp quốc tế là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, nó mang tính chất điều chỉnh quốc tế

– Nguồn của tư pháp quốc tế là luật pháp của mỗi quốc gia, mang tính chất điều chỉnh quốc nội.

Luật Minh Khuê ( Sư tầm và biên tập )