1. Khái quát chung 

1.1 Khái niệm nguyên tắc

Theo từ điển Tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là: “Điều cơ bản đã định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”. Dưới góc độ khoa học pháp lý, nguyên tắc của một ngành luật được xây dựng trên cơ sở những tư tưởng chỉ đạo nhất định. Những tư tưởng này đòi hỏi phải được tuân thủ, chấp hành một cách tuyệt đối trong quá trình lập pháp cũng như quá trình áp dụng pháp luật.

1.2 Nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình

Với ý nghĩa là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình cũng có những nguyên tắc cơ bản riêng. Nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình là “những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp Luật Hôn nhân và gia đình”. Nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình định hướng sự phát triển của các quan hệ hôn nhân và gia đình. Nội dung các nguyên tắc thể hiện quan điểm pháp luật của Đảng và Nhà nước đối với nhiệm vụ, quyền hạn và chức năng của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, của các cá nhân và thành viên trong gia đình trong việc thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình. Các quy phạm pháp luật Luật Hôn nhân và gia đình phải thể hiện đúng nội dung các nguyên tắc cơ bản. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vừa có sự kế thừa vừa có sự phát triển các quy định của pháp luật trước đó về bảo vệ quyền của bà mẹ và trẻ em. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. 
Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình
1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.
4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

2. Khái niệm hôn nhân một vợ một chồng

Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc bản chất giai cấp, tôn giáo, phong tục, tập quán… nên có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hôn nhân. Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể tại Khoản 1,Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định thì:
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.
Tóm lại, hôn nhân một vợ một chồng là vào thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân (thời điểm đăng ký kết hôn), các bên kết hôn đang không có vợ hoặc có chồng. Có nghĩa là vào một thời điểm, một người đàn ông chỉ có một vợ, một người đàn bà chỉ có một chồng.

3. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc quan trọng gắn liền với sự phát triển của gia đình Việt Nam. Đây cũng là một nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp. Nguyên tắc này được xây dựng trên nền tảng hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và nam nữ bình đẳng nhằm xóa bỏ chế đi đa the trong hôn nhân phong kiến..Vì vậy, nó đã trở thành nguyên tắc quan trọng được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của nước ta và được cụ thể hóa trong các văn bản luật Hôn nhân và gia đình. Nguyên tắc này là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Về bản chất, nguyên tắc hôn nhân một với một chồng là tư tưởng chỉ đạo trong việc xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp trước pháp luật. Nội dung của nguyên tắc này cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như một vợ một chồng với người khác và ngược lại. Như vậy, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng bắt buộc với cả hai chủ thể tham gia quan hệ.

4. Ý nghĩa của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Thứ nhất nguyên tắc hôn nhân một với một chồng là nguyên tắc cơ bản có ý nghĩa quan trọng, thể hiện tư tưởng tiến bộ, xu thế tiến bộ chung của toàn xã hội trong việc xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình bền vững, hạnh phúc, đảm bảo quyền lợi ích của cả vợ-chồng trong quan hệ hôn nhân.
Thứ hai, nguyên tắc hôn nhân một với một chồng góp phần xóa bỏ hoàn toàn chế độ đa thê đã tồn tại lâu trong xã hội phong kiến trước đây. Nguyên tắc này đã xóa bỏ những hủ tục lạc hậu đã ăn sâu vào nếp nghĩ của người dân, như quan niệm “ trai năm thê bảy thiếp,gái chính chuyên một chồng”...Qua đó đã xây dựng mô hình hôn nhân gia đình mới dân chủ, tiến bộ, hạnh phúc vững bền.
Thứ ba, nguyên tắc hôn nhân một với một chồng là cơ sở duy trì tình yêu, bảo đảm sự bền vững, hạnh phúc của gia đình. Mặc dù hôn nhân được xây dựng trên sự tự nguyên và tình cảm nhưng việc xác lập nguyên tắc đảm bảo sự bền vững của tình cảm của các bên tham gia trong quan hệ hôn nhân.
Thứ tư, nguyên tắc hôn nhân một với một chồng góp phần xóa bỏ các tệ nạn xã hội như tệ ngoại tình, nạn mại dâm, đảm bảo trật tự trị an xã hội, góp phần giữ vững trật tự trị an của xã hội. Việc tuân thủ nguyên tắc này đem lại sự lành mạnh trong đời sống xã hội, gia đình, tránh được các nguy cơ do hành vi bạo lực, những nguy cơ xảy ra cho các bên vợ-chồng hoặc người thứ ba khi có vi phạm.
Thứ tư, nguyên tắc hôn nhân một với một chồng là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về nhân thân và tài sản liên quan đến lợi ích chính đáng của bên chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân hợp pháp. Ngoài ra nguyên tắc cũng là cơ sở xem xét xử lý hành vi phạm pháp luật về hôn nhân một vợ một chồng.
Tóm lại, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa vợ và chồng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em và góp phần xây dựng gia đìn hạnh phúc.Vì vậy nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đối với từng cá nhân, từng gia đình và cả nhà nước- xã hội.

5. Nguyên tắc hôn nhân một với một chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Nguyên tắc hôn nhân một với một chồng là một nguyên tắc hiến định và được cụ thể hóa trong các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Trên cơ sở kế thừa, phát triển các quy định của các Luật HN&GĐ trước đây, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tiếp tục tở thành nguyên tắc hiến định được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014. Nguyên tắc hôn nhân một với một chồng được thể hiện cụ thể qua các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ, qua việc xác định các trường hợp, hình thức vi phạm nguyên tắc này .

5.1 Nguyên tắc hôn nhân một với một chồng trong việc kết hôn

Nguyên tắc hôn nhân một với một chồng đã được cụ thể hóa trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tại Khoản 1 Điều 2: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”.Từ quy định này, các điều luật đã quy định cụ thể để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này trong việc kết hôn nhằm xác lập quan hệ vợ chồng. thể hiện qua:

5.1.1 Điều kiện kết hôn

Nguyên tắc hôn nhân một với một chồng chi phối điều kiện kết hôn giữa các chủ thể. Khi tiến hành đăng ký kết hôn thì phải tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của các bên đương sự. Trong cùng một khoảng thời gian chỉ tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Việc kết hôn tuân thủ điều kiện kết hôn được quy định cụ thể tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bao gồm: Độ tuổi kết hôn của các bên ; Sự tự nguyên; Không bị mất năng lực hành vi dân sự; Không thuộc các trường hợp cấm kết hôn. Trong đó các trường hợp cấm kết hôn tại Điểm d, khoản 1, điều 8 của Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm quy định tại Điểm c, khoản 2, điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định cầm:
Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình
2. Cấm các hành vi sau đây:
...
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
Như vậy, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cấm người đang có vợ hoặc vợ chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại. Người đang có vợ, có chồng được hiểu đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bản chất của tình yêu là không thể sẻ chia được cho nên hôn nhân dựa trên tình yêu đồi hỏi quan hệ chung thủy một vợ một chồng. Nếu một trong hai bên lại thể hiện tình yêu với người khác sẽ làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền nhân thân, quyền tài sản của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân hợp pháp. Làm ảnh hưởng đến quan hệ hôn nhân.

5.1.2 Thủ tục đăng ký kết hôn

Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Mọi thủ tục kết hôn không theo quy định của luật hôn nhân và gia đình đều không có giá trị pháp lý. Như vậy, đăng ký kết hôn là cơ sở xác lập hôn nhân. Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn.
Khi thưc hiện thủ tục đăng ký kết hôn, cơ quan đăng ký kết hôn kiểm tra việc tuân thủ các điều kiện kết hôn của các bên, trong đó đảm bảo tuân thủ nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Để xác minh các bên không vi phạm nguyên tắc thì trong hồ sơ đăng ký kết hôn phải có giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của các đương sự.
Theo đó thủ tục cấp Giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân, tại quy đinh tại Nghị định 123/2015/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành luật hộ tịch, thì người yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trang hôn nhân phải nộp tờ khai theo mẫu quy định. Nội dung giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thể hiện người đó đã có vợ hoặc có chồng chưa. Nếu người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trang hôn nhân đã có vợ, có chồng nhưng chưa ly hôn hoặc người kia đã chết thì phải ghi rõ điều đó. Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên là một trong những quy định nhằm đảm bảo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.

6. Các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được hiểu là hành vi trái pháp luật, do chủ thể thực hiện một cách cố ý xâm hại đến quan hệ hôn nhân một vợ một chồng hợp pháp đang tồn tại được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định các trường hợp vi phạm nguyên tắc này tại điểm c, khoản 2 điều 5 cụ thể: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ” Theo đó,hai trường hợp cơ bản vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là: Người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác và người khác và ngược lại; Người đang có vợ, có chồng sống như vợ chồng với người khác và ngược lại.

6.1 Thứ nhất, người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác và ngược lại

Luật HN&GĐ năm 2014 quy định, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau tuân thủ quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Người đang có vợ, có chồng là người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về HN&GĐ nhưng chưa lý hôn. Kể từ thời điểm kết hôn đến khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật chỉ thừa nhận tồn tại một quan hệ vợ chồng.Việc kết hôn của người đang có vợ, có chồng với người khác mặc dù có đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền thì việc kết hôn của họ bị coi là kết hôn trái pháp luật (Khoản 6, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014), vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
6. Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.

6.2 Thứ hai, người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại

Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng. Việc “chung sống như vợ chồng với người khác” được giải thích khá rõ cụ thể:
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
7. Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.
Việc sống chung như vợ chồng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ chồng bao gồm các trường hợp sau: Giữa hai bên nam,nữ chung sống với nhau đều là người đang có vợ, có chồng.Giữa người đang có vợ hoặc đang có chồng chung sống với người chưa có chồng, chưa có vợ. Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê