Mục lục bài viết
- 1. Khái quát chung về nhóm các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân
- 2. Tội bắt, giữ hoặc giam ngưòi trái pháp luật được quy định như thế nào trong bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017?
- 3. Bình luận
- 3.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm
- 3.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm
- 3.3 Khách thể:
- 3.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162
1. Khái quát chung về nhóm các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã cụ thể hóa và ghi nhận quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân tại nhiều điều luật của Chương II như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, bí mật cá nhân, quyền tự do đi lại, cư trú, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo... Trên cơ sở này, BLHS năm 2015 đã cụ thể hóa việc bảo vệ các quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân dưới góc độ pháp lý hình sự với các quy định về các tội phạm và hình phạt tương ứng tại chương XV. Chương này gồm 11 điều luật (từ Điều 157 đến Điều 167).
BLHS năm 2015 đã điều chỉnh tên gọi của Chương cho phù hợp vấ chính xác hơn, bao quát nội hàm về bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, với tên chương mới (Chương XV) là: “Các tội xầm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chù của công dân”. Việc sửa đổi tên gọi này không những bảo đảm sự thống nhất với nội dung của Chương II về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" trong Hiến pháp năm 2013, mà còn phù hợp với các văn bản pháp lý quốc tế. Ngoài ra, sửa đổi theo hướng như vậy mới bao quát việc bảo vệ quyền tự do của con người và quyền tự do, dân chủ của công dân, qua đó, bảo vệ không chỉ quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân Vỉệt Nam mà còn cả của công dân nước khác, chống lại mọi hành vi xâm hại xảy ra trên lãnh thổ quốc gia mình hoặc trong phạm vi thẩm quyền tài phán của mình chứ không thể chỉ bảo vệ quyền của riêng công dân nước mình.
BLHS năm 2015 đã bổ sung 01 điều mới (Điều 167) quy định về tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân cho phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013,(,86) cảc văn bản Luật chuyên ngành0 và nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và chống tội phạm. Ngoài ra, BLHS năm 2015 đã bổ sung hành vi phạm tội xâm phạm quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân vào tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử (tại Điều 160) và bổ sung hành vi làm sai lệch kết quả trưng cầu ý dân vào tội làm sai lệch kết quả bầu cử (tại Điều 161).
BLHS năm 2015 đã có sự phân hóa trách nhiệm hình sự hơn qúa việc tách một tội danh thành nhiều tội danh, bổ sung khung hình phạt tăng nặng cũng như tình tiết định khung hình phạt tăng nặng.
BLHS năm 2015 đã quy định rõ các hành vi trong các cấu thành tội phạm và cụ thể hóa các tình tiết định tính như: “Gây hậu quả nghiêm trọng”', “Gãy hậu quà rất nghiêm trọng” hoặc “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” trong hầu hết các tội danh của chưorng này, trừ tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 162).
Về hình phạt, BLHS năm 2015 đã điều chỉnh theo hướng nghiêm khắc hơn đối với một số tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, cụ thể tăng mức hình phạt cao nhất của nhiều tội danh như: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157) từ 10 năm lên 12 năm tù; tội xâm phạm chỗ ở của người khác (Điều 158) từ 03 năm lên 07 năm tù;... Ngoài ra, BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt cảnh cáo đối với một số tội trong Chương XV nhằm bảo đảm chính sách xử lý nghiêm khắc hơn đối với các hành vi xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do dân chủ của công dân như tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157); tội xâm phạm chỗ ở của người khác (Điều 158);...
2. Tội bắt, giữ hoặc giam ngưòi trái pháp luật được quy định như thế nào trong bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017?
Tội bắt, giữ hoặc giam ngưòi trái pháp luật được quy định tại điều 157 Bộ luật hình sưj 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:
Điều 157. Tội bắt, giữ hoặc giam ngưòi trái pháp luật1. Người nào bẳt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 cùa Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:a) Có tổ chức;b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;c) Đối với người đang thi hành công vụ;d) Phạm tội 02 lần trở lên;đ) Đổi với 02 người trở lên;e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đĩnh họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vỉ của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:a) Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát;b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương Cữ thể 61% trở lên.4. Người phạm tội còn có thể bị cẩm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
3. Bình luận
Điều luật gồm 4 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; các khoản 2 và 3 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng và khoản 4 quy định khung hình phạt bổ sung.
3.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm
Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.
3.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm
Điểu luật quy định hành vi khách quan của tội này có thể là:
+ Hành vi bắt người trái pháp luật: Là hành vi khống chế trái pháp luật người khác để tạm giữ hoặc tạm giam họ;
+ Hành vi giữ người trái pháp luật: Là hành vi không cho người khác di chuyển vượt ra ngoài sự kiểm soát của mình trái pháp luật trong khoảng thời gian nhất định.
+ Hành vi giam người trái pháp luật: Là hành vi cách ly trái pháp luật người khác vào một địa điểm trong khoảng thời gian nhất định.
Các hành vi trên đây đều là hành vi xâm phạm quyền tự do thân thể của người khác nhưng khác nhau ở hình thức thể hiện. Chủ thể của tội phạm có thể thực hiện một, hai hoặc đồng thời cả ba hành vi này.
Tính trái pháp luật của 3 hành vi trên đây được hiểu là sự không thỏa mãn các quy định về bắt, giữ hoặc giam người theo Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) và Luật xử lý vi phạm hành chính. Cụ thể, pháp luật chỉ cho phép thực hiện việc bắt, tạm giữ, tạm giam trong các trường họp sau nếu thỏa mãn yêu cầu của từng trường hợp:
- Bắt người phạm tội quả tang: “Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc ủy ban nhân dân nơi gần nhất...” (khoản 1 Điêu 111 BLTTHS năm 2015);
- Bắt người đang bị truy nã: “Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc ủy ban nhân dân nơi gần nhất...” (khoản 1 Điều 112 BLTTHS năm 2015);
- Bắt bị can, bị cáo để tạm giam: Đây là trường họp bắt người theo lệnh, quyết định của người, cơ quan có thẩm quyền được quy định tại Điêu 113 BLTTHS năm 2O15.(189>
- Tạm giữ người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã (Điều 113 BLTTHS năm 2015);
- Tạm giữ người theo thủ tục hành chính (là biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý đối với người có hành vi vi phạm hành chính do người có thẩm quyền áp dụng trong các trường họp sau đây: cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng hoặc gây thương tích cho người khác; khi cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong các trường họp mà người vi phạm có dấu hiệu bỏ trốn, tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm, gây cản trở việc xử lý vi phạm; người có hành vi bạo lực gia đình).
- Tạm giam bị can, bị cáo phạm tội theo Điều 119 BLTTHS năm 2O15.(,91)
Như vậy, để xác định hành vi bắt, giữ hoặc giam người là trái pháp luật hay không, cần phải đối chiếu với quy định của BLTTHS năm 2015 và Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Các trường hợp bắt, giữ hoặc giam người mà không thỏa mãn các điều kiện cho phép được quy định trong BLTTHS và Luật xử lý vi phạm hành chính đều bị coi là trái pháp luật. Tuy nhiên, cần chú ý: Hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo quy định của Điều 377 BLHS là trường hợp đặc biệt so với trường họp được quy định tại điều luật này nên hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật được coi là hành vi khách quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật khi hành vi này không thỏa mãn dấu hiệu của hành vi được quy định tại Điều 377 BLHS. Ngoài ra, hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhằm mục đích chiếm đoạt nạn nhân (dưới 16 tuổi) cũng không là hành vi khách quan của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật mà là hành vi khách quan của tội được quy định tại Điều 153 BLHS (Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi).
Thủ đoạn thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có thể là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực - dùng sức mạnh về vật chất như trói, nhốt vào thùng xe, cabin, nhà kho... hoặc bạo lực về mặt tinh thần như đe dọa bắn nếu không để cho bắt hoặc dùng lệnh thật hoặc lệnh giả của cơ quan nhà nước, cũng có thể mời đến trụ sở rồi giữ lại; v.v... Tuy nhiên, các thủ đoạn như vậy không có ý nghĩa đối với việc định tội.
3.3 Khách thể:
Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ.
3.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý. Người phạm tội biết hành vi bắt, giữ, giam người khác mà mình thực hiện là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức hình phạt là phạt tù từ 02 năm đến 07 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Có tổ chức: Đây là trường hợp đồng phạm mà trong đó có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Đây là trường họp phạm tội mà trong đó chủ thể thực hiện là người có chức vụ, quyền hạn và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật.
- Đổi với người đang thỉ hành công vụ: Đây là trường hợp phạm tội mà nạn nhân bị bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật là người đang thi hành nhiệm vụ do Nhà nước giao, thực hiện nhiệm vụ công vì lợi ích cộng đồng, nhằm cản trở hoặc đe dọa không cho họ thực hiện được nhiệm vụ như: bắt, giữ hoặc giam người được cử về để giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp giữa hai xóm hoặc để tiến hành thanh tra, kiểm tra, để điều tra tội phạm; v.v...
- Phạm tội 02 lần trở lên: Đây là trường hợp phạm tội mà chủ thể đã thực hiện tội phạm này ít nhất 02 lần nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và các hành vi phạm tội đều còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 27 BLHS.
- Đối với 02 người trở lên: Đây là trường họp phạm tội mà có ít nhất 02 nạn nhân bị bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật vào cùng một lần hoặc nhiều lần khác nhau.
- Đổi với người dưới 18 tuổi, phụ nữ, mà biết là có thai, người già yêu hoặc người không cỏ khả năng tự vệ: Đây là trường hợp phạm tội mà nạn nhân thuộc các đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ hon. Đó là người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu, người không có khả năng tự vệ. Trong đó, điều luật chỉ đòi hỏi chủ thể phải biết việc có thai của nạn nhân, về dấu hiệu “người già yểu”, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, nhưng có thể hiểu là người từ đủ 70 tuổi trở lên hoặc là người từ đủ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên ốm đau, bệnh tật.. , . Người không có khả năng tự vệ là người vì tình trạng sức khỏe mà không thể tự bảo vệ mình được...
- Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đĩnh họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn'. Đây là trường hợp phạm tội làm cho người bị bắt, giữ, giam không giải quyết được các công việc của bản thân và gia đình nên nạn nhân hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế.
- Gãy thưomg tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tãm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%>: Đây là trường hợp phạm tội mà nạn nhân đã bị thương tích, bị tổn hại cho sức khỏe hoặc bị rối loạn tâm thần và hành vi do việc bắt, giữ, giam như người bị bắt, giữ, giam bị phạm nhân cùng phòng đánh gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% đến 60% hoặc do bị bắt, giữ, giam nên nạn nhân lo âu, sợ sệt, hoảng loạn dẫn đến rối loạn tâm thần và hành vi với tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% đến 60%.
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 05 năm đến 12 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát'. Đây là trường hợp phạm tội đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, có ảnh hưởng xấu về mặt xã hội vì đã làm cho người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật chết (có thể do bị giam giữ lâu ngày mà mắc bệnh nặng dẫn đến chết) hoặc tự sát do uất ức, bị dồn vào thế tuyệt vọng. Trường họp phạm tội này cũng có thể ảnh hưởng xấu đến uy tín của Nhà nước cũng như của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
- Tra tấn, đổi xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam^: Đây là trường họp phạm tội mà trong đó, nạn nhân còn bị xâm hại nghiêm trọng về thể xác và tinh thần dưới các hình thức khác nhau là tra tấn (như bị đánh bằng dùng dùi cui, gậy, côn...); đối xử tàn bạo, vô nhân đạo (như không cho ăn, uống, bắt ra trời nắng, đứng, quỳ); hạ nhục nhân phẩm (như nhót chung lồng với chó...).
- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây roi loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên’. Đây là trường hợp phạm tội mà nạn nhân còn bị thương tích; bị tổn hại cho sức khỏe hoặc bị rối loạn tâm thần và hành vi ở mức độ rất nghiêm trọng với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên. Trong đó, hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe có thể do hành vi của chính chủ thể của tội phạm hoặc có thể do người khác gây ra như bị người cùng bị giam đánh. Hậu quả rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam có thể do bị bắt, giữ, giam dẫn đến hoảng loạn hoặc do bị đánh đập trong khi bị bắt, giữ, giam gây ra.
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê
