Đến nay, tôi chưa thu hồi được bất kỳ khoản nào như đã thỏa thuận trong biên bản. Do thường xuyên công tác ở tỉnh xa nên không có thời gian yêu cầu tất toán hết khoản nợ trên và bên nợ cũng không có thiện chí hoàn thành nghĩa vụ thanh toán số nợ nên tôi nhờ luật sư tư vấn một số điểm sau: 1) Hiệu lực biên bản trên còn thời hạn không; nếu còn, bên nợ phải có cam kết nghĩa vụ pháp lý như thế nào để thanh toán một lần hay từng phần số nợ trên ? Nếu không còn thời hiệu pháp luật thì tôi có thể tiến hành bước tiếp theo ra sao để yêu cầu bên nợ thanh toán hết phần nợ ? 2) Tôi có thể ủy quyền cho 1 người khác nhân danh trách nhiệm pháp luật và chuyển quyền sở hữu từ tôi đối với số nợ trên để tiếp tục xử lý hay không? Kính chào luật sư và trân trọng cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

Nợ khó đòi trong thanh toán hợp đồng ?

Luật sư tư vấn luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự 2005

Bộ luật Tố tụng Dân sự

2. Nội dung phân tích:

Việc hoà giải là việc tổ viên Tổ hoà giải trực tiếp gặp gỡ các bên, dùng tình cảm, lý lẽ để thuyết phục các bên đạt được sự thoả thuận tự giải quyết các tranh chấp, vi phạm. Trong trường hợp các bên tranh chấp yêu cầu tổ viên Tổ hoà giải lập biên bản hoà giải thì Tổ hoà giải lập biên bản. Tuy nhiên, biên bản hoà giải không phải là một chứng cứ pháp lý và cũng không làm phát sinh hậu quả pháp lý. Đó chỉ là sự thoả thuận giữa các bên mang ý nghĩa đạo lý, danh dự và tạo nên một sự ràng buộc về mặt đạo lý và tâm lý giữa các bên. Như vậy, biên bản hòa giải của bạn và phía đối tác của bạn, tuy có thỏa thuận, cam kết sẽ trả lại tiền nợ cho bạn, nhưng lại không có giá trị bắt buộc thi hành. Nếu như bên đối tác của bạn không muốn thực hiện thoả thuận đó thì không ai có quyền cưỡng chế thi hành kết quả hoà giải thành đã được ghi nhận trong biên bản. Tổ hoà giải cũng chỉ có thể dựa vào biên bản hoà giải để thuyết phục các bên thực hiện kết quả hoà giải. Vậy vấn đề hiệu lực của biên bản hòa giải không được đặt ra.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn có thể tiến hành khởi kiện ra Tòa án dân sự. Căn cứ vào các Điều luật sau:

Điều 438 Bộ Luật dân sự 2005 về nghĩa vụ trả tiền:

Điều 438. Nghĩa vụ trả tiền

1. Bên mua phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm đã thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm giao tài sản.

2. Bên mua phải trả lãi, kể từ ngày chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 305 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Đồng thời Điều 161 Bộ Luật Tố tụng Dân Sự 2004 Quy định về quyền khởi kiện như sau :

Điều 161. Quyền khởi kiện vụ án

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định về thời hiệu khởi kiện như sau:

“Điều 159. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu

1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Thời hiệu yêu cầu là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy định như sau:

a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm;

b) Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.”

Trong trường hợp bạn không có thời gian để tham gia vụ kiện, bạn hoàn toàn có thể ủy quyền cho người khác thay mặt bạn tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật dân sự căn cứ vào Điều 142 Bộ luật Dân sự 2005 như sau:

Điều 142. Đại diện theo ủy quyền

1. Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện.

2. Hình thức ủy quyền do các bên thoả thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.

Trên đây là ý kiến pháp lý của chúng tôi. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật dân sự.