1. Nợ không có bảo đảm là gì?
Nợ không bảo đảm hay còn gọi là Deadweight Debt theo tiếng Anh. Nợ không có bảo đảm cũng giống như nợ có bảo đảm. Đó là một hình thức nợ không có bất kỳ tài sản thực tế nào được đưa ra để đảm bảo trả nợ, chẳng hạn như bất động sản hoặc xe hơi. Loại nợ này chỉ được sử dụng để trang trải các chi phí thông thường, như mua bán đồ dùng cơ bản, tiền thuê nhà và hóa đơn. Điểm khác biệt lớn nhất giữa nợ không có bảo đảm và nợ có bảo đảm là: nợ có bảo đảm là khoản nợ được hỗ trợ bởi một tài sản có thực, chẳng hạn như bất động sản hoặc xe hơi. Nếu bạn vay tiền để mua thứ gì đó, chẳng hạn như ô tô, khoản vay thường được coi là có bảo đảm. Ngược lại, các khoản vay được sử dụng để chống chiến tranh hoặc giúp ngăn chặn chiến tranh cũng được coi là khoản nợ không có bảo đảm vì không có bất kỳ tải sản thực tế nào có thể bán đi trả nợ.
2. Căn cứ để thực hiện vay không có tài sản bảo đảm?
Có một vài cách khác nhau mà các ngân hàng quyết định có cấp tín dụng cho một người hay không. Tuy nhiên, cách phổ biến nhất để cho vay không có tài sản bảo đảm là dựa trên lòng tin của ngân hàng đối với khách hàng. Theo đó các ngân hàng xem xét các yếu tố khác nhau để xác định mức độ tin tưởng của ngân hàng đối với khách hàng như sau:
- Character (hay còn gọi là tư cách của người vay): Yếu tố này được xác định dựa trên quan hệ vay trả trong quá khứ; có người bảo lãnh khoản vay; mục đích khoản vay. Nếu đối tượng vay là doanh nghiệp thì ngân hàng xem xét dựa trên kinh nghiệm của các ngân hàng khác đối với doanh nghiệp này; khả năng phân tích, dự báo về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,...
- Capacity (hay còn gọi là năng lực của người vay): Đó là năng lực hành vi dân sự của khách hàng hoặc người bảo lãnh; những hồ sơ pháp lý chứng minh năng lực pháp lý của doanh nghiệp vay vốn; mô tả quá trình hoạt động của doanh nghiệp từ quá khứ đến hiện tại, cơ cấu sở hữu, chủ sở hữu, sản phẩm, người cung ứng, lợi nhuận và tình trạng kinh tế của doanh nghiệp cho đến nay,...
- Conditions (hay còn gọi là điều kiện môi trường): Ngân hàng có thể xem xét yếu tố này dựa trên thị phần; lợi thế cạnh tranh của khách hàng; kết quả hoạt động của đối thủ cạnh tranh; tình hình cạnh tranh của các sản phẩm hiện tại; mức độ nhạy cảm của khách hàng đối với chu kỳ kinh doanh và thay đổi về công nghệ; tình hình kinh tế vĩ mô, các yếu tố chính trị, yếu tố pháp luật,...
- Control (hay còn gọi là sự kiểm soát): Đây là một yếu tố quan trọng được xem xét dựa trên các quy định của pháp luật. Theo đó, ngân hàng căn cứ vào văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến khoản tín dụng đang được xem xét. Xác định xem khách hàng có đầy đủ hồ sơ, giấy tờ phục vụ cho công việc kiểm soát hay không; hồ sơ giấy tờ cho vay, giải ngân phải có đầy đủ và được ký bởi các bên; mức độ phù hợp của khoản vay đối với quy chế, quy định của từng ngân hàng,...
- Cash flow (hay còn gọi là dòng tiền được tạo để trả nợ ngân hàng): Yếu tố này xác định dựa vào tình hình thu nhập thực tế của khách hàng. Nếu đối tượng là doanh nghiệp thì có thể dựa vào doanh thu bán hàng; tình hình phân chia cổ tức; dòng tiền từ phương án kinh doanh hiện tại và dự kiến; tính thanh khoản của các tài sản lưu động; vòng quay nợ phải thu, phải trả và hàng tồn kho; cơ chế kiểm soát chi phí,...
Sau khi phân tích được 4C đầu tiên thì có thể khẳng định ngân hàng đã đánh giá phần nào lịch sử tín dụng, thiện chí trả nợ và mức độ rủi ro đi kèm của một khách hàng. Tuy nhiên, những yếu tố ấy vẫn là chưa đủ để xác định được khả năng trả nợ của khách hàng. Lý do là bởi khả năng trả nợ là yếu tố quan trọng nhất để ngân hàng quyết định về một khoản vay dành cho khách hàng. Do đó, yếu tố quan trọng nhất để quyết định có cho một khách hàng vay không có tài sản bảo đảm hay không, đặc biệt là doanh nghiệp thì phụ thuộc vào Cash flow - dòng tiền trả nợ, vì nguồn trả nợ chính cho khoản vay là dòng tiền của doanh nghiệp. Đây là những gì doanh nghiệp có thể sử dụng để trả nợ cho các khoản vay. Các ngân hàng sử dụng thông tin này để quyết định xem họ có cho doanh nghiệp vay tiền hay không, mà không cần quan tâm đến tài sản bảo đảm của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có nhiều nợ khó đòi, điều này có thể là do doanh nghiệp không thể tạo ra đủ dòng tiền để trang trải các khoản nợ của họ đối với ngân hàng.
3. Người có khoản nợ không đảm bảo có nghĩa vụ trả nợ không?
Dù khoản nợ có đảm bảo hay không đảm bảo cũng không làm ảnh hưởng đến nghĩa vụ trả nợ của người nợ. Đây là nghĩa vụ gắn liền với bên vay khi thiết lập một khoản vay. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định rất cụ thể tại Điều 466 Bộ Luật Dân sự 2015 như sau:
- Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
- Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
- Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
Như vậy, lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
4. Nợ không bảo đảm có gây ra nợ xấu hay không?
Nhiều ý kiến cho rằng, đối với một khoản nợ không bảo đảm, chẳng có gì để chắc chắn bên vay có trả nợ hay không. Nếu bên vay không thể trả nợ thì hẳn là khoản nợ ấy sẽ trở thành nợ xấu. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng nợ xấu không phụ thuộc vào việc khoản nợ có tài sản bảo đảm hay không có tài sản bảo đảm, mà phần lớn là do hoạt động phân tích tín dụng yếu kém của các hệ thống ngân hàng thương mại. Bởi khi đánh giá một khách hàng vay vốn, sự tin cậy của ngân hàng dành cho khách hàng mới là quan trọng nhất. Mỗi ngân hàng đều phải trả lời được câu hỏi đầu tiên "khách hàng cho vay có đáng tin cậy không?" Chứ không phải là câu hỏi "khách hàng có tài sản bảo đảm là gì?" Nếu khách hàng không phải là một đối tượng đáng tin cậy và không có được lòng tin của ngân hàng thì dù có tài sản bảo đảm, khách hàng đó vẫn không có được khoản vay từ ngân hàng. Chính vì thế, không thể coi tất cả mọi khoản nợ không có bảo đảm đều là nợ xấu. Điều đó đồng nghĩa với việc nợ xấu không hoàn toàn phụ thuộc vào việc khoản vay đó có tài sản bảo đảm hay không.
Trên đây là một số thông tin liên quan đến khoản nợ bảo đảm (Deadweight Debt) mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp tới bạn đọc. Hy vọng bài viết đã đem đến cho bạn những kiến thức bổ ích. Nếu bạn đọc có vấn đề pháp lý thắc mắc thì vui lòng liên hệ đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162 để được tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình. Xin chân thành cảm ơn!