1. Nợ tiền mà bỏ trốn có bị phạt tù không ?

Thưa luật sư, Chồng tôi là một nhân viên giao sữa và quản lý công nợ của khách hàng và tôi là người bảo lãnh chồng đi làm trong suốt thời gian chồng đi làm mọi tổn thất mất mát và thiệt hại về tài sản thì tôi là người chịu trách nhiệm trước pháp luật. Chồng tôi bắt đầu làm từ tháng 02/ 2012 trong quá trình làm hàng tháng kế toán có đối chiếu công nợ với chồng tôi. Tháng 03/ 2013 đối chiếu khớp công nợ. Đến 03/5/2013 chồng tôi nghỉ làm ở công ty và bỏ trốn vì đã đổ nợ. Tháng 04/2013 này chồng không ký công nợ mà đã bỏ trốn.
Thì cho tôi hỏi chồng tôi làm như vậy thì pháp luật như thế nào và chồng bỏ trốn tôi là người bảo lãnh xử lý ra sao? Và công ty đưa ra con số nợ của chồng tôi là 700tr mà thực tế chồng có nói với tôi là khoảng 400 tr. Xin tư vấn pháp luật cho tôi biết tình trạng của chồng tôi xử lý ra sao ? Có phai ngồi tù không ?

.Tư vấn Nợ tiền mà bỏ trốn có bị phạt tù không?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì hành vi của chồng bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc Điều 466 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cụ thể:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 100
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, dù thuộc phạm vi điều luật nào chồng bạn chắc chắn phải chịu trách nhiệm hình sự và chịu mức hình phạt theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Về người bảo lãnh:

Bạn cần hiểu rõ về việc bảo lãnh theo Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Điều 335. Bảo lãnh
1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Như vậy, nếu như đã có văn bản về việc bảo lãnh giữa bạn và chồng thì nghĩa vụ bảo lãnh của bạn đã phát sinh.

Tuy nhiên, Người bảo lãnh chỉ đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ cho người được bảo lãnh không chịu trách nhiệm hình sự thay cho người được bảo lãnh. Cụ thể, Về nghĩa vụ tài sản:

Căn cứ quy định tại Điều 342 Bộ luật dân sự năm 2015 về việc xử lý tài sản thì:

Điều 342. Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh
1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại.

Như vậy, bạn phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho công ty chồng bạn. Trường hợp bạn không thể hoàn thành nghĩa vụ tài sản này mà bên nhận bảo lãnh là công ty chồng bạn trình báo sự việc này tới cơ quan công an, khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì chồng bạn sẽ bị khởi tố hình sự về hành vi phạm tội.

Về số nợ của công ty:

Theo như bạn trình bày thì ở đây đang có sự mâu thuẫn giữa số nợ công ty đưa ra và số nợ mà chồng bạn cung cấp. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích của mình bạn cần đưa ra những chứng cứ chứng minh số nợ thực tế mà chồng bạn đã cung cấp.

>> Xem thêm:  Phương thức thanh toán việc mua đất ? Thủ tục mua bán đất đai thực hiện như thế nào ?

2. Tư vấn về việc khởi kiện đòi nợ và lãi chậm trả ?

Công ty tôi có trụ sở tại Singapore và có văn phòng đại diện (VPĐD) tại TPHCM. Ngày 23-11-2013, công ty tôi ký hợp đồng (HĐ) với Công ty A để bán hàng theo điều kiện CIF HCMC, thanh toán bằng L/C. Sau khi giao hàng vào ngày 30-11-2013, chúng tôi đã chuyển hóa đơn và vận đơn đến ngân hàng thông báo HSBC để yêu cầu thanh toán. Tuy nhiên, đến nay công ty tôi chưa nhận được số tiền hàng, vận đơn và hóa đơn cũng không nhận lại được. Đối tác giải thích, gửi công văn đến chúng tôi từ chối việc thanh toán vì cho rằng họ chỉ nhận ủy thác nhập khẩu giúp cửa hàng B (vì cửa hàng B không có quyền nhập khẩu cà phê). Để giải quyết việc này, VPĐD tại TPHCM đã ký biên bản thỏa thuận với Công ty A và cửa hàng B với nội dung cửa hàng B phải thanh toán nợ và lãi chậm trả đối với công ty tôi. Kể từ sau khi biên bản được ký kết, công ty tôi đã nhiều lần gửi công văn yêu cầu thanh toán nhưng vẫn chưa nhận được tiền.
Vậy công ty tôi nên khởi kiện Công ty A hay cửa hàng B để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Theo quy định của Luật Thương mại 2005, văn phòng đại diện có những quyền sau:

"Điều 17. Quyền của Văn phòng đại diện

1. Hoạt động đúng mục đích, phạm vi và thời hạn được quy định trong giấy phép thành lập Văn phòng đại diện.

2. Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của Văn phòng đại diện.

3. Tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

4. Mở tài khoản bằng ngoại tệ, bằng đồng Việt Nam có gốc ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam và chỉ được sử dụng tài khoản này vào hoạt động của Văn phòng đại diện.

5. Có con dấu mang tên Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

6. Các quyền khác theo quy định của pháp luật."

Như vậy, về bản chất, văn phòng đại diện không có quyền tiến hành kí kết hợp đồng liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cụ thể là ký biên bản thỏa thuận với Công ty A và cửa hàng B với nội dung cửa hàng B phải thanh toán nợ và lãi chậm trả đối với công ty bạn, trừ trường hợp người đại diện theo pháp luật của công ty tiến hành ủy quyền cho người của văn phòng đại diện. Đồng thời, công ty bạn chỉ có thể khởi kiện bên có nghĩa vụ với công ty bạn theo thỏa thuận giữa các bên. Vì thế với trường hợp của bạn,sẽ có hai trường hợp như sau:

Trường hợp 1: người đại diện theo pháp luật của công ty tiến hành ủy quyền cho người của văn phòng đại diện được tiền hành thỏa thuận với Công ty A và cửa hàng B với nội dung cửa hàng B phải thanh toán nợ và lãi chậm trả đối với công ty bạn. Trong trường hợp này, bên văn phòng đại diện sẽ có thẩm quyền kí kết hợp đồng trong phạm vi đã được ủy quyền. Do đó, người có nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận giữa công ty bạn với công ty A và cửa hàng B (thỏa thuận có hiệu lực pháp luật) là cửa hàng B. Công ty A đã chuyển giao nghĩa vụ cho cửa hàng B. Do đó, công ty bạn nếu không được thanh toán đầy đủ và đúng hạn thì có thể tiến hành khởi kiện đồi với cửa hàng B để yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ của mình.

Trường hợp 2: người đại diện theo pháp luật của công ty không tiến hành ủy quyền cho người của văn phòng đại diện được tiền hành thỏa thuận với Công ty A và cửa hàng B với nội dung cửa hàng B phải thanh toán nợ và lãi chậm trả đối với công ty bạn. Trong trường hợp này, bên văn phòng đại diện sẽ không có thẩm quyền kí kết hợp đồng với công ty A và cửa hàng B. Thỏa thuận đã được lập sẽ bị vô hiệu do không đáp ứng điều kiện về chủ thể. Do đó, người có nghĩa vụ thanh toán vẫn là công ty A. Do đó, công ty bạn nếu không được thanh toán đầy đủ và đúng hạn thì có thể tiến hành khởi kiện đồi với công ty A để yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ của mình.

Như vậy, cần căn cứ vào việccó hợp đồng ủy quyền giữa người đại diện theo pháp luật của công ty bạn (người có thẩm quyền kí kết hợp đồng) có ủy quyền cho người thuộc văn phòng đại diện đã trực tiếp kí kết thỏa thuận hay không mới có thể xác định chính xác hiệu lực của thỏa thuận và người phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo quy định của pháp luật như các trường hợp chúng tôi đã nêu trên.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn.

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành

3. Nợ tài sản từ năm 1999 giờ có đòi được không ?

Đến năm 2001 vì ông b đã tính lãi suất lên đến 80tr (khi vay mẹ tôi có giao sổ quyền sử dụng đất do cha tôi đứng tên cho ông b. Ông b bắt ép mẹ tôi viết giấy tay bán mảnh đất cho ông b và làm hợp đồng mua bán giả mạo chữ kí của tôi. Năm 2013 ông b làm đơn kiện mẹ tôi ra tòa với nội dung không giao quyền sử dụng đất cho ông b.

Lúc đó tòa án có mời tôi tham gia người có nghĩa vụ liên quan thì tôi phát hiện hợp đồng mua bán không có chứng thực của uỷ ban phường xã, phòng công chứng. Điều đáng nói là trong hợp đồng không có sự đồng ý của tôi nhưng lại có chữ kí cú̉a tôi được giả mạo. Tôi đã yêu cầu tòa án giám định chữ kí kết quả của công an tỉnh là chữ kí giả mạo. Sau đó vụ án này được đình chỉ. Nay tôi được mẹ tôi, em tôi, chị dâu tôi ra công chứng uỷ quyền cho tôi đứng tên để nộp lên tòa án kiện hợp đồng vô hiệu. Như vậy:

1/ Tôi có lấy lại được sổ đỏ không.

2/ Mẹ tôi có phải bồi thường với giá 80tr (có được tính lãi suất không)

3/ Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường có phải là mẹ tôi hay không. (theo quy định 137 bộ luật dân sự)

Hi vọng sớm nhận được hồi âm của luật sư minh khuê. Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

1. Theo quy định của Điều 156 luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì:

"văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. " do đó, luật áp dụng trong trường hợp này sẽ là bộ luật dân sự năm 1995:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì năm 1995 nhà nước có cấp cho cha bạn một mảnh đất 1280m2, đến năm 1996 cha bạn mất do đó nếu như mẹ bạn có nhu cầu muốn mang quyền sử dụng đất đi thế chấp, tặng cho, chuyển nhượng,. Mẹ bạn phải thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Nếu mẹ bạn không thực hiện thủ tục này thì mẹ bạn chưa có quyền đối với mảnh đất đó. Như vậy, đồng nghĩa với việc mẹ bạn vay tiền của ông b là 30 triệu, đồng thời đưa cho ông b giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ba bạn đứng tên là chưa đáp ứng theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, theo Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

1- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

2- Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

3- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;

4- Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật.

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì ông b ép mẹ bạn ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cho ông b, đồng thời ông b cũng đang giả mạo chữ ký của bạn để lập hợp đồng chuyển nhượng này. Theo quy định tại điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015 thì sẽ bị tuyên vô hiệu:

Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Ngoài ra, khi vay tiền mẹ bạn có đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố bạn cho ông b - được hiểu rằng mẹ bạn đang thế chấp quyền sử dụng đất cho ông b, theo quy định tại Điều 317 Bộ luật dân sự năm 2015 thì hình thức hợp đồng thế chấp phải lập thành văn bản và đi công chứng hoặc chứng thực, cụ thể:

Điều 317. Thế chấp tài sản
1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).
2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.

Do đó, theo dữ liệu bạn đưa ra thì hợp đồng thế chấp này không được đi công chứng hay chứng thực nên theo quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 thì hợp đồng này giao dịch này sẽ bị tuyên vô hiệu:

Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

2. Mẹ bạn có phải trả số tiền lãi 80 triệu hay không còn phụ thuộc vào trong nội dung hợp đồng vay tài sản của mẹ bạn với ông b có quy định hay không, bởi theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 thì hợp đồng vay là sự thoả thuận giữa các bên, cụ thể:

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Tuy nhiên, bạn cần phải chú ý về lãi suất để xác định nếu ông b thoả thuận với mẹ mình lãi suất thì lãi suất cũng không được vượt quá 50% lãi suất cao nhất do ngân hàng nhà nước quy định, cụ thể Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 468. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

3, Ông b có phải bồi thường cho mẹ bạn hay không còn phụ thuộc bạn có căn cứ chứng minh ông b có lỗi, có gây ra thiệt hại cho mẹ bạn hay không, cụ thể Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
c) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?