Nguồn luật chính thức của pháp luật Hoa Kỳ bao gồm: Hiến pháp Liên bang, Hiến pháp các bang, các luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác do hệ thống cơ quan lập pháp ban hành, các quy chế hành chính và án lệ. Trong đó, án lệ là đặc trưng của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ. Án lệ có vai trò...
1. Khái quát chung về hệ thống pháp luật Hoa Kỳ
Pháp luật Hoa Kỳ không phân chia thành các ngành luật. Do vậy, trong thực tiễn không tồn tại khái niệm pháp luật kinh tế hay pháp luật kinh doanh với tư cách là một ngành luật độc lập. Khái niệm pháp luật kinh doanh chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu và giảng dạy về pháp luật ở Hoa Kỳ. Vì vậy, trong phạm vi nội dung nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “hệ thống pháp luật kinh tế của Hoa Kỳ” (“pháp luật kinh tế của Hoa Kỳ”) để đề cập đến toàn bộ các quy phạm pháp luật được chứa đựng trong các nguồn luật, bao gồm cả các quy phạm pháp luật về hình sự và dân sự, bao gồm cả luật nội dung và luật hình thức điều chỉnh các quan hệ kinh tế ở Hoa Kỳ.

Pháp luật Hoa Kỳ, hay nói chính xác hơn là hệ thống pháp luật Liên bang và 50 hệ thống pháp luật của các bang thuộc Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thuộc dòng họ pháp luật mà ở đó án lệ là nguồn luật chủ yếu. Khởi nguồn của dòng họ thông luật là từ nước Anh. Sau khi bộ tộc Norman chiếm được Anh vào năm 1066, các Tòa án hoàng gia đầu tiên được thành lập từ Hội đồng cố vấn của Nhà vua. Các thẩm phán hoàng gia đi khắp nước Anh để xét xử các tranh chấp xảy ra ở các địa phương. Ban đầu họ sử dụng các tập quán của địa phương để xét xử. Theo thời gian các Tòa án nhận thấy rằng cần phải có một hệ thống pháp luật thống nhất trên toàn nước Anh. Bằng việc chọn lựa, sửa đổi và tổng hợp các tập quán ở các địa phương, họ phát triển một hệ thống pháp luật thống nhất trên toàn nước Anh. Hệ thống pháp luật đó được biết với tên gọi là “thông luật”. Các thẩm phán trong thời kỳ đầu của thông luật có xu hướng bảo đảm tính tương thích giữa các quyết định của họ.38 Theo đó, các thẩm phán sẽ sử dụng các phán quyết trước đó để xét xử các vụ việc giống hoặc tương tự xảy ra sau này. Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ kế thừa truyền thống pháp luật của Anh quốc. Tuy nhiên, sau hàng mấy trăm năm hình thành và phát triển, mặc dù nền tảng vẫn là thông luật, nhưng pháp luật Hoa Kỳ có nhiều khác biệt so với pháp luật của Anh quốc. Khi áp dụng án lệ, Tòa án Hoa Kỳ thực hiện theo học thuyết “stare decisis”, theo đó quyết định của Tòa án cấp trên có tính bắt buộc áp dụng đối với Tòa án cấp dưới. Tòa án không được tự ý bãi bỏ án lệ của mình trừ khi có lý do bắt buộc. Thông thường, các thẩm phán sẽ dựa vào sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội, trật tự công cộng mới để đưa ra một quy phạm mới hoặc quyết định một vụ việc mà không áp dụng bản án trước đó. “Án lệ của thời kỳ đi lại bằng xe ngựa không phù hợp với điều kiện đi lại của ngày nay. Nguyên tắc rủi ro rất có khả năng xảy ra là không đổi, nhưng những vật thuộc phạm vi của nguyên tắc này sẽ thay đổi. Chúng là bất kỳ vật gì cần thiết cho cuộc sống trong sự phát triển của xã hội văn minh đòi hỏi chúng phải như vậy” Một điểm nữa rất đáng lưu ý là trong trường hợp chưa có một án lệ nào liên quan đến vụ việc mà Tòa án giải quyết, Tòa án sẽ tham khảo án lệ của bang khác hoặc quốc gia khác. Tòa án cũng có thể sẽ áp dụng nguyên tắc chung của pháp luật, sự công bằng, giá trị xã hội và trật tự công cộng để giải quyết vụ việc.
2. Nguồn luật chính thức của pháp luật Hoa Kỳ
Nguồn luật chính thức của pháp luật Hoa Kỳ bao gồm: Hiến pháp Liên bang, Hiến pháp các bang, các luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác do hệ thống cơ quan lập pháp ban hành, các quy chế hành chính và án lệ. Trong đó, án lệ là đặc trưng của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ. Án lệ có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực tư như công ty, hợp đồng… Ngoài ra, một nét khá đặc thù của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ là ngoài nguồn luật chính thức, còn có các nguồn luật bổ sung như các lý thuyết pháp lý, các quan điểm, tư tưởng pháp lý được công bố trong các công trình khoa học, các tài liệu bình luận pháp luật… Trong quá trình áp dụng pháp luật, Tòa án vẫn sử dụng các nguồn này để tham khảo nhằm đưa ra quan điểm của mình.
Văn bản quy phạm pháp luật ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ. Ở cấp Liên bang, từ năm 1973 đến nay, Nghị viện Hoa Kỳ đã ban hành được 11.620 văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền trong đó phần lớn là các luật và có một số ít là nghị quyết.
Bộ luật thương mại của bang nhằm thay thế án lệ trong việc điều chỉnh các hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng thuê hàng hóa và một số giao dịch khác.41 Tuy nhiên, có một số luật trong những lĩnh vực pháp luật riêng như Luật thuế Liên bang, Luật bảo hiểm xã hội, Luật môi trường, chứng khoán và ngân hàng. Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan lập pháp cấp Liên bang, cấp bang và chính quyền địa phương ban hành, các cơ quan quản lý hành chính cũng có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, gọi là các quy chế hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan này.
Về thứ bậc hiệu lực, theo nguyên tắc, luật của Liên bang có hiệu lực cao hơn so với luật của từng bang. Trong cùng cấp Liên bang hoặc bang thì Hiến pháp có hiệu lực cao nhất, sau đó là Luật do cơ quan lập pháp Liên bang (hoặc bang) ban hành, tiếp đó là quy chế hành chính và cuối cùng là án lệ.
Mặc dù văn bản quy phạm pháp luật có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, nhưng cách ban hành và áp dụng các luật ở Hoa Kỳ có nhiều điểm khác biệt so với các quốc gia thuộc dòng họ pháp luật Châu Âu lục địa. Các luật ở Hoa Kỳ là các luật chuyên ngành. Hiếm có trường hợp các cơ quan lập pháp của Hoa Kỳ lại ban hành ra các luật chứa đựng những nguyên tắc chung, vì vậy, Thẩm phán Hoa Kỳ không có thói quen tìm kiếm trong các luật các nguyên tắc chung. Một vấn đề nữa là Tòa án các quốc gia thuộc dòng họ pháp luật dân sự có thể áp dụng tương tự pháp luật, còn các Tòa án Hoa Kỳ không có xu hướng này, những nội dung Luật không quy định sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của án lệ.
Khi đề cập đến hệ thống pháp luật Hoa Kỳ không thể bỏ qua hệ thống Tòa án. Tòa án là cơ quan có chức năng giải thích và áp dụng pháp luật. Một khối lượng khổng lồ các quy phạm pháp luật kinh tế được tìm thấy trong các bản án (án lệ). Ngoài ra các luật cũng được Tòa án giải thích thông qua hoạt động xét xử. Về mặt truyền thống, Tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự giữa các chủ thể kinh doanh, từ đó nhiều học thuyết pháp lý và quy phạm pháp luật về kinh doanh được hình thành, ví dụ như học thuyết trách nhiệm sản phẩm... Bên cạnh đó, Tòa án có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự. Ngoài ra, Tòa án có thẩm quyền xét xử các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp ban hành, đây là thẩm quyền làm nên đặc thù của hệ thống Tòa án Hoa Kỳ (bao gồm hệ thống Tòa án Liên bang và hệ thống Tòa án của các bang), theo đó, Tòa án có quyền tuyên một văn bản quy phạm pháp luật vi phạm Hiến pháp hoặc trái với văn bản quy phạm pháp luật cấp trên và vô hiệu.
Ở Hoa Kỳ, các Tòa án có chức năng giải thích và áp dụng pháp luật. Chính vì vậy, có một số lượng các án lệ của Tòa án được coi là các án lệ giải thích luật. Ví dụ Điều 4(2) Luật chứng khoán năm 1933 không định nghĩa cụ thể thế nào là chào bán chứng khoán riêng lẻ. Để hiểu rõ thế nào là chào bán chứng khoán riêng lẻ cần phải tham chiếu quyết định của Tòa án tối cao Liên bang Hoa Kỳ trong vụ S.E.C. v. Ralston Purina Co., 346 U.S. 119, 124, 125 (1953)
(2) Phải tôn trọng hướng dẫn của cơ quan quản lý hành chính nhà nước trừ trường hợp hướng dẫn của cơ quan này trái với ý chí của cơ quan lập pháp; (3) Trong giải thích luật hình sự, những thuật ngữ hoặc cụm từ không rõ ràng phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội. Ngoài ra, đôi khi Tòa án cũng giải thích văn bản quy phạm pháp luật theo những giá trị cơ bản.
3. Khái quát chung về nền kinh tế Hoa Kỳ
Với tài nguyên phong phú, nguồn nhân lực chất lượng cao, hệ thống pháp luật hiện đại, nên không ngạc nhiên khi thấy rằng trong suốt thế kỷ vừa qua Hoa Kỳ vẫn giữ vị trí đầu tàu trong nền kinh tế giới.
Nền kinh tế Hoa Kỳ là nền kinh tế thị trường, theo đó khu vực tư nhân được khuyến khích phát triển, định hướng và quy mô của nền kinh tế do thị trường quyết định thông qua phần lớn các quyết định của khối dân doanh. Các cơ quan quản lý nhà nước ít can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, điều này thể hiện ở chỗ số lượng các văn bản quy phạm pháp luật mang tính quản lý nhà nước được ban hành ra nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh doanh ở mức hợp lý. Các cơ quan quản lý nhà nước cũng ít khi sử dụng các mệnh lệnh hay biện pháp hành chính để can thiệp vào các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mặc dù tùy từng thời kỳ sự can thiệp của Nhà nước đối với hoạt động của thị trường ít nhiều thay đổi theo chiều hướng tăng hoặc giảm. Nhưng nhìn chung, Nhà nước không can thiệp quá sâu vào sự vận hành mang tính bản chất của thị trường. Thủ tục thành lập tổ chức kinh doanh rất đơn giản, các quy định pháp luật về huy động vốn, quan hệ hợp đồng… đều theo xu hướng tự do và tôn trọng sự định đoạt và thỏa thuận của các bên, khuyến khích sự sáng tạo, sự mạo hiểm trong kinh doanh và phát triển công nghệ.
Hiện nay, ở Hoa Kỳ có tới 23 triệu doanh nghiệp nhỏ chiếm lĩnh 54% hoạt động thương mại, tạo ra 55% tổng số việc làm và 66% tổng số việc làm mới tính từ những năm 1970 cho đến nay43. Hoa Kỳ cũng đóng góp 128 trong số 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới
Hoa Kỳ cũng rất thành công trong việc khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học và sáng tạo. Những phát minh mang tính lịch sử là những minh chứng thực tế cho những thành công của chính sách này, như bóng đèn điện, máy bay, máy laser, điện thoại di động, tủ lạnh, thư điện tử, lò vi sóng, máy tính cá nhân, công nghệ LCD hoặc LED, ATM và nhiều phát minh khác. Sự sáng tạo không ngừng cũng là một trong những nhân tố then chốt thúc đẩy sự phát triển cực thịnh của nền kinh tế Hoa Kỳ.
Lực lượng lao động ở Hoa Kỳ chủ yếu làm việc cho khối tư nhân. Người lao động Hoa Kỳ được xếp vào nhóm có thu nhập cao so với người lao động ở các quốc gia trên thế giới. Thu nhập bình quân của một hộ gia đình ở Hoa Kỳ là 53.046 USD/năm45. Tỷ lệ thất nghiệp ở Hoa Kỳ giữ ở mức 7,7% vào năm 2013. Các quy định của pháp luật lao động của Hoa Kỳ góp phần làm cho việc tuyển dụng và sa thải người lao động khá dễ dàng.
Hoa Kỳ vẫn được đánh giá là nhà sản xuất hàng đầu thế giới với nhiều ngành công nghiệp hàng đầu. Các ngành công nghiệp mũi nhọn của Hoa Kỳ bao gồm xăng dầu, thép, ô tô, máy xây dựng, máy bay, máy nông nghiệp, hóa chất, chế biến thực phẩm, viễn thông, hóa chất… Cho đến nay, Hoa Kỳ vẫn dẫn đầu trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo máy bay và cũng là nước xuất khẩu lớn các thực phẩm ra thế giới.
Hoa Kỳ là trung tâm tài chính lớn nhất thế giới, với Sở Giao dịch Chứng khoán New York lớn gấp nhiều lần bất kỳ sở giao dịch chứng khoán nào trên thế giới và hệ thống ngân hàng phát triển hàng đầu thế giới, cùng với các sản phẩm tài chính đa dạng, không ngừng được cải tiến, phát minh. Hoạt động huy động vốn và giao dịch các sản phẩm tài chính diễn ra rất sôi động trên các thị trường tài chính Hoa Kỳ, tạo ra nguồn vốn khổng lồ phục vụ cho sự phát triển của các doanh nghiệp.
4. Vai trò của pháp luật đối với phát triển kinh tế
4.1 Vai trò
Vai trò của pháp luật Hoa Kỳ được thể hiện ở hai khía cạnh dường như đối lập nhau: (1) Bảo đảm nguyên tắc tự do trên thị trường; và (2) Bảo đảm sự điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế.
Có một số dịch vụ và sản phẩm phục vụ xã hội, đòi hỏi chi phí đầu tư cao mà lợi nhuận thu về không dễ dàng. Vì vậy không hấp dẫn được tư nhân. Trong trường hợp đó pháp luật phải tạo cơ chế để Nhà nước đứng ra cung cấp dịch vụ và sản phẩm đó.
Trên thị trường, người bán và người mua đều cùng có lợi, hay nói cách khác thị trường chỉ vận hành hoàn hảo khi cả người mua và người bán đều được thông tin đầy đủ. Tuy nhiên, thực tiễn lại không diễn ra như thế. Bên nắm giữ nhiều thông tin thường có xu hướng chỉ cung cấp những thông tin ở mức tối thiểu cho bên còn lại gây ra tình trạng thông tin bất cân xứng. Trong quan hệ lao động, người lao động thường ở thế thụ động về thông tin công việc, môi trường làm việc. Trong hoạt động chào bán chứng khoán, nhà đầu tư thường biết không nhiều thông tin về chủ thể phát hành. Chính vì vậy, Nhà nước cần có những quy định của pháp luật và có bộ máy thực thi các quy định đó nhằm bảo đảm công bằng trong thông tin trên thị trường.
Cuối cùng, pháp luật cũng có vai trò định hướng cho các nhà kinh doanh, người tiêu dùng thông qua các quy định khuyến khích hoặc hạn chế. Ví dụ, để phát triển nguồn năng lượng sạch, công nghệ, pháp luật Hoa Kỳ có nhiều cơ chế ưu đãi về thuế, tài chính và các ưu đãi khác cho các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động phát triển năng lượng sạch, công nghệ cao.
4.2 Nguyên tắc tự do kinh doanh
Nguyên tắc tự do kinh doanh được thể hiện ở tự do thành lập doanh nghiệp, tự do hợp đồng... Ở đó, Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động của các doanh nghiệp. Ví dụ, khi thành lập tổ chức kinh doanh theo mô hình cá thể hoặc hợp danh thông thường, các chủ thể không phải đăng ký. Đối với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty cổ phần thì phải đăng ký, nhưng thủ tục đăng ký chỉ là thủ tục thông báo về việc thành lập công ty và cơ quan đăng ký xác nhận. Các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ doanh nghiệp, hợp đồng và các quan hệ tư khác chủ yếu hình thành từ các tập quán thương mại, chuẩn mực kinh doanh, vì vậy rất linh hoạt, phù hợp với thực tiễn và tạo thuận lợi cho sự phát triển của các thị trường ở Hoa Kỳ như thị trường hàng hóa, thị trường tài chính, thị trường bất động sản...
Trong mối quan hệ giữa các chủ thể tư, pháp luật bảo đảm nguyên tắc bình đẳng và tự do thỏa thuận. Các bên phải thiện chí, trung thực và không được xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bên khác. Pháp luật Hoa Kỳ thiết kế các phương thức giải quyết tranh chấp rất đa dạng như thương lượng, hòa giải, trọng tài, Tòa án, giúp cho các chủ thể kinh doanh có nhiều lựa chọn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Adam Smith là người xây dựng lý thuyết “bàn tay vô hình” và cho rằng “bàn tay vô hình” được thực hiện thông qua các chủ thể kinh tế trên thị trường. Từ đó, ông phát triển mô hình cạnh tranh hoàn hảo, theo đó, Nhà nước can thiệp một cách hạn chế vào thị trường tự do, những công việc mà Nhà nước chỉ nên làm là: (1) Quốc phòng; (2) Thực thi hệ thống tư pháp nằm bảo vệ sở hữu tư nhân và bảo đảm khả năng thực hiện các giao dịch tư nhân; (3) Xây dựng các công trình hoặc hàng hóa công cộng có giá trị cho xã hội mà khối tư nhân không làm.
Những tư tưởng trên của Adam Smith rất khó thực hiện trên thực tiễn bởi (1) thị trường không vận hành như những giả thuyết mà ông đưa ra và (2) bản thân thị trường là không hoàn hảo:
Sẽ chỉ tồn tại mô hình cạnh tranh hoàn hảo nếu như không tồn tại độc quyền. Về mặt tự nhiên, độc quyền là xu hướng tất yếu trong nền kinh tế thị trường, khi mà một hoặc một số doanh nghiệp với lợi thế về nhân lực, công nghệ, tài chính sẽ ngày càng chiếm được thị phần lớn trên thị trường. Ngoài ra, các giao dịch sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp làm tích tụ và tập trung tư bản cũng dẫn đến độc quyền. Độc quyền dẫn đến hiện tượng giá cao, chất lượng thấp, không có động lực cho phát triển sáng tạo. Những doanh nghiệp độc quyền lạm dụng vị thế độc quyền chuyển lợi ích của xã hội thành lợi ích của mình. Ngoài ra, họ còn xây dựng ra các rào cản bất hợp lý nhằm ngăn cản các chủ thể khác gia nhập thị trường. Như vậy độc quyền sẽ bóp chết sự phát triển và làm suy tàn nền kinh tế. Chính vì vậy, pháp luật cần bảo đảm Nhà nước có những can thiệp nhất định bao gồm việc ban hành và thực thi pháp luật chống độc quyền.
Một chủ thể kinh doanh theo đuổi lợi ích cá nhân của mình trên thị trường cạnh tranh sẽ gây ra những tác động phụ ảnh hưởng đến lợi ích của người khác. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường sẽ có hiện tượng một chủ thể kinh doanh có được lợi ích của mình bằng chi phí của chủ thể khác. Ví dụ: trong lĩnh vực môi trường, nhà sản xuất xả thải ra môi trường sẽ gây thiệt hại cho môi trường về lâu dài. Đây là chi phí lớn mà xã hội phải gánh chịu. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007-2008 cũng cho thấy những người quản lý công ty vì tiền lương và thưởng trên doanh số, đã bất chấp những rủi ro tiềm ẩn gây ra cho các ngân hàng mà mình quản lý mà quyết định cho vay dưới chuẩn. Hậu quả là nhiều tổ chức tài chính bị sụp đổ, những tổ chức còn tồn tại phải gánh chịu những tổn thất về mặt tài chính rất nặng nề. Trong giao dịch thương mại, bên có lợi thế hơn về kinh tế thường có xu hướng áp đặt và gây bất lợi một cách bất hợp lý cho bên yếu thế. Vì vậy, Nhà nước vẫn cần thiết phải điều tiết thị trường thông qua hoạt động ban hành và thực thi các quy định của pháp luật. Tất nhiên, ở từng thời kỳ mức độ can thiệp sẽ khác nhau.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê