1. Cơ sở kinh tê - xã hội hình thành và phát triển của luật thương mại

Người ta đã chứng minh rằng các thương nhân không có vai trò gì trong việc truyền bá Luật La Mã và bản thân các quy tắc của luật này không giúp gì cho việc phát triển thương mại quốc tế trong thời kỳ Trung cổ. Luật thương mại và luật hàng hải phát triển độc lập với Luật La Mã và Luật giáo hội.
Nội dung chủ yếu về cơ sở hình thành và chức năng của Luật thương mại?
Luật thương mại phát sinh và phát triển trên căn bản thực tiễn và tập quán thường ngày của thương nhân. Nó gắn bó chặt chẽ và lệ thuộc chủ yếu vào nhu cầu thực tiễn thương mại, hiệu quả trong thị trường hàng hoá và tiền tệ với các công việc như hội chợ thương mại, thiết lập thương hội, hoạt động ngân hàng, bảo hiểm.
Khác với Jus commune được phát triển trong các học viện, nhà trường và thực tiễn xét xử của các toà án, luật thương mại xuất phát từ đời sống thực tiễn. Do vậy, việc nghiên cứu cơ sở kinh tế - xã hội hình thành và phát triển của luật thương mại không chỉ đề chứng minh cho tính độc lập của ngành luật thương mại và sự tất yếu phải xây dựng một ngành luật thương mại, mà còn góp phần làm rõ phạm vi điều chỉnh của ngành luật này. Sở dĩ như vậy là vì các thương nhân hoạt động thực tiễn thương mại trong một thị trường rộng lớn với nhiều mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các mảng kinh doanh đa dạng. Phần nào chịu sự điều tiết của luật thương mại, phần nào chịu sự điều tiết của các ngành luật khác là một vấn đề phức tạp.
Trong suốt thế kỷ XVIII, cùng vói sự thắng lợi của cách mạng tư sản ở Châu Âu và sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản, nhiều nước đã xây dựng Bộ luật Thương mại hoặc pháp điền hoá luật thương mại vói hình thức thấp hơn. Bộ luật Thương mại đầu tiên là Bộ luật Thương mại năm 1807 của Pháp. Tiếp theo đó là việc ban hành Bộ luật Thương mại Tây Ban Nha năm 1885, Bộ luật Thương mại Hung-ga-ri năm 1875, Bộ luật Thương mại Hà Lan năm 1838, Bộ luật Thương mại Đức năm 1897, Đạo luật về Hối phiếu của Anh năm 1882, Đạo luật về công ty của Anh 1890...
Điều này nói lên rằng, chính quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và thị trường đã đòi hỏi và thúc đẩy sự ra đời của nhiều Bộ luật Thương mại ở các nước Châu Âu và nhiều nước khác trên thế giới, trong đó phải kề đến cả Bộ luật Thương mại năm 1850 thuộc Triều đại Ottoman.
Trong đêm trường Trung cổ, nền kinh tế chủ yếu là nền kinh tế lãnh địa vói chế độ đại sở hữu ruộng đất của địa chủ và bóc lột địa tô hiện vật. Người nông dân rất ít ruộng đất hoặc không có. Điều đó dẫn đến mâu thuẫn giữa đại sở hữu phong kiến và sở hữu của nông dân tự do, thợ thủ công cá thề, giữa kinh tế tự nhiên của đại địa chủ vói kinh tế hàng hoá giản đơn. Trên cơ sở đó, các tư tưởng về kinh tế ra đời mang các quan điềm bảo vệ cho nền kinh tế tự nhiên, lên án hoạt động thương mại. Mặt khác, các tư tưởng này còn bị ảnh hưởng nặng nề của thần học và chịu sự kiềm soát của nhà thờ. Vì vậy luật lệ chủ yếu bảo vệ địa vị thống trị của vua chúa, nhà thờ, quý tộc nên luật thương mại không có điều kiện đề được chú ý tới. Tuy nhiên các tập quán thương mại theo con đường riêng vì lợi ích của bản thân các thương nhân vẫn được hình hành.
Từ cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, lịch sử nhân loại đã có những bước phát triển mới có ý nghĩa trọng đại. Công cụ thô sơ, lao động thủ công và quan hệ bóc lột bằng địa tô phải nhường chỗ dần cho việc sử dụng máy móc hiện đại và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển. Cũng trong thời gian này, nhiều tư. tưởng và học thuyết kinh tế mới ra đời chỉ đạo các hoạt động kinh doanh và làm cơ sở cho chính sách của nhà nước tư sản. Chẳng hạn từ khoảng năm 1450-1650 là thời kỳ quá độ chuyền đổi nền kinh tế hàng hoá giản đơn sang nền kinh tế thị trường. Gắn với giai đoạn này là Học thuyết kinh tế trọng thương - một học thuyết kinh tế đầu tiên của giai câp tư sản. Nó đánh giá cao vai trò của tiêh tệ, coi tiền là tiêu chuẩn cơ bản của sự giàu có và hàng hoá chỉ là phương tiện. Đề có nhiều tiền, phải hoạt động thương mại, trước hết là ngoại thương. Do đó đối tượng nghiên cứu của học thuyết này là lĩnh vực lưu thông mua bán trao đổi.
Áp dụng học thuyết này cho việc thiết kế chính sách kinh tế ở các nước Châu Âu có khác nhau. Ở Pháp, người ta chủ trương muốn có nhiều tiền, vàng cần phải đẩy mạnh sản xuất công nghiệp đế trở thành trung tâm cung cấp hàng công nghiệp cho thế giới. Còn ở Tây Ban Nha thì cố gắng giữ vàng từ Châu Mỹ gửi về.
Trong thế kỷ XVIII, Adam Smith đã trình bày học thuyết kinh tế nổi tiêng của mình mà vẫn còn đầy đủ ý nghĩa cho tới ngày nay trong cuôh sách "Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân sự giầu có của các dân tộc" (1776). A. Smith cho rằng con người bị lợi ích của mình dẫn dắt đề đưa nguồn lực của mình, ra sử dụng ở nơi mà nguồn lực này cho thu hoạch lớn nhất. Đề có thu hoạch, người ta phải sản xuất ra những thứ mà mọi người cần. Vì theo đuổi lợi ích riêng nên có một "bàn tay vô hình" dẫn người làm kinh tế sản xuất ra hàng hoá hoặc dịch vụ mà người khác có nhu cầu, đáp ứng lợi ích xã hội tốt hơn ngay cả khi họ có ý định làm điều đấy. Việc theo đuổi lợi ích riêng xuất phát từ thiên hướng vĩnh viễn của con người là trao đổi sản phẩm và lao động cho nhau, phục vụ lẫn nhau.
Vậy là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã gắn bó, hoà trộn vào nền kinh tế thị trường. Nhận xét về thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản, Karl Marx (1818 - 1883) đã chỉ ra rằng đề cho chủ nghĩa tư bản ra đời cần phải có hai điều kiện: Một là phải tích luỹ được một số tiền lớn vào tay giai cấp tư sản đề sản xuất kinh doanh theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa; hai là phải có một số đông ngựời lao động bị tước hết tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động, trở thành lao động làm thuê. Nhìn nhận ở một khía cạnh khác thì điều đó có nghĩa là cần phải phát triển quyền tư hữu tài sản đồng thời phát triển quyền tự do ý chí, ngay cả việc tự do bán sức lao động mới có các yếu tố đề hình thành một nền kinh tế thị trường.
Trên cơ sở của nền kinh tế thị trường đó, nhu cầu về việc xây dựng một ngành luật thương mại mói có điều kiện phát sinh và phát triển. Lúc này, nhà nước thấy cần phải có các quy tắc đề điều chỉnh thống nhất hoạt động thương mại của các thực thề bình đẳng, có quyền tự do cam kết, thoả thuận. Các quy tắc này trước hết là để gìn giữ tính ổn định của xã hội tư bản. Có luật gia nhận xét: "Cách mạng tư sản đã thúc đẩy quá trình pháp điền hoá luật dân sự và luật thương mại".
Phải nói Việt Nam cũng một thời đã có một ngành luật thương mại phát triển ở các chế độ cũ. Sau khi đất nước bị chia cắt, miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa đấu tranh thống nhất đất nước. Cho đến năm 1975 đất nước thôhg nhất, cả nước đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội. Lúc này lý luận về một ngành luật kinh tế độc lập từ Liên Xô cũ đã có cơ sở kinh tế đề bám rễ vào Việt Nam. Đó chính là các quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp cao độ. Với một nền tảng kinh tế như vậy, thì luật thương mại không có mảnh đất để sinh sôi nảy nở.
Mô hình kinh tế kế hoạch, chỉ huy bị phá sản. Giống các nước khác, Việt Nam cũng phải chuyền sang xây dựng nền kinh tế thị trường. Hiến pháp năm 1992 tuyên bố: "Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ câù kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thê) sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thề làm nền tảng" (Điều 15).
Đề thực thi được ý tưởng cách mạng này, Hiên pháp năm 1992 cũng phải thừa nhận theo logic của nền kinh tế thị trường là: "Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật " (Điều 57). Do vậy hàng loạt các quan hệ xã hội mới phát sinh như: tư nhân đã được Nhà nước cho phép góp vốn để thành lập nên các thực thế kinh doanh bình đẳng, tự do cam kết, thoả thuận và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật; Nam Bắc thông thương; tự do buôn bán; xí nghiệp công nghiệp quốc doanh có quyền tự chủ tài chính, quyền tự chủ sản xuất kinh doanh; làm ăn thua lỗ phải chịu phá sản; tự do mua sắm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng; khuyến khích đầu tư nước ngoài...
Các quan hệ này đã nằm hẳn bên ngoài sức chứa của một ngành luật kinh tế theo nghĩa truyền thông của chủ nghĩa xã hội. Cơ chế kinh tế mà chúng ta đang xây dựng hoàn toàn không hình thành từ sự hoàn thiện của cơ chế cũ (cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp) như Nguyễn Như Phát nhận định. Như vậy đòi hỏi phải có một tư duy pháp lý mới phù hợp với nền kính tế thị trường, về cách thức đề giải quyết vấn đề này, kinh nghiệm quốc tế cũng như ở Việt nam cho thấy tái xây dựng ngành luật thương mại là phù họp. Sự phù họp này chẳng những cho một nền kinh tế thị trường có các đặc tính vốn có như: tự do kinh doanh, tự do ý chí... mà còn cho thói quen sử dụng một ngành luật khác hơn luật dân sự đề điều tiết phần nào quá trình kinh tế - xã hội.
Mặc dù sự phát triển luật thương mại gắn với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và có con đường phát sinh, phát triển riêng so với luật dân sự, song cũng phải thấy, luật dân sự có từ lâu đời trong các nền kinh tế tự nhiên trước đó. Nó điều tiết các quyền lợi tư và gắn bó với đời sống của con người, do đó các vấn đề cơ bản của đời sống con người đã được nó phản ánh. Tuy luật thương mại được phát sinh trên một nền tảng xã hội ở mức độ phát triển nhất định khi đã manh nha một phương thức sản xuất tư bản trong lòng chế độ phong kiến, nhưng các quan hệ cơ bản của đời sống con người đã được để cập đến trong luật dân sự, nên các quy tắc về tài sản (quyền sở hữu), về khế ước cơ bản không phải là các quy tắc của luật thương mại, dù rằng luật thương mại điều tiết các giao dịch vì mục tiêu lợi nhuận hay nói cách khác là mục tiêu làm tăng khối lượng tài sản của các chủ thề. Bản thân chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến và chế độ tư bản cũng đều được xây dựng trên nền tảng tư hữu, chỉ khác ở cách thức và trình độ tổ chức sản xuất. Luật thương mại phản ánh quan hệ sản xuất tư bản là chủ yếu nên nó khác với các luật cùng loại như luật dân sự ở cách thức và trình độ điều tiết các quan hệ giữa các chủ thề bình đẳng, có quyền tự định đoạt và tự do cam kết, thoả thuận.

2. Các chức năng của luật thương mại

Lý luận về nhà nước và pháp luật theo quan điềm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin cho rằng, chức năng của pháp luật là những hình thức tác động đặc thù bằng con đường nhà nước lên các quan hệ xã hội, là những phương diện, những mặt hoạt động chủ yêù của pháp luật thề hiện bản chất và giá trị xã hội của pháp luật. Pháp luật có nhiều phương diện hoạt động hay nói một cách khác, pháp luật có nhiều chức năng, trong đó có hai chức năng chủ yêù là:
- Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội;
- Chức năng tác động lên ý thức của con người (hay còn gọi là chức năng giáo dục của pháp luật).
Bản thân pháp luật nói chung cũng chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong một phạm vi nhất định với một mức độ nhất định và có ranh giói với các công cụ điều chỉnh khác. Trong mức độ này, mỗi ngành luật trong hệ thôhg pháp luật có phạm vi điều chỉnh riêng của ngành luật đó. Vì thế, ngành luật thương mại có giá trị xã hội và chức năng đặc thù.
Tiếp cận ở khía cạnh giá trị xã hội của pháp luật, các học giả ở các nước khác quan niệm pháp luật có bôh chức năng cơ bản là:
- Chức năng gìn giữ hoà bình;
- Chức năng âh định hay thi hành các tiêu chuẩn xử sự và duy trì trật tự;
- Chức năng tạo điều kiện dễ dàng cho các dự định hay kếhoạch;
- Chức năng thúc đẩy sự công bằng xã hội .
Cách thức tiếp cận sau này gần gũi hơn với luật tư nói chưng và luật thương mại nói riêng, nhất là chức năng thứ hai và thứ ba của cách tiếp cận này.
Các chức năng này có mức độ gắn bó mật thiết với nhau đề cùng xác định một khu vực quan hệ xã hội cần phải điều tiết bằng pháp luật nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển một nền kinh tế thị trường hiện đại. Các mối quan hệ này ở cùng một trình độ, cùng một tính chất nên nó cần được điều chỉnh bởi một ngành luật là luật thương mại.
Kết hợp của hai cách thức tiếp cận nói trên, có thề thấy luật thương mại có các chức năng sau:

2.1 Chức năng điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các thương nhân

hay các hành vi thương mại.

Đây là chức năng quan trọng nhất của luật thương mại truyền thống. Hình thành từ tập quán của các thương nhân từ thời kỳ Trung cổ, các quy tắc của luật thương mại đã xác định quyền và nghĩa vụ cho các thương nhân tham gia quan hệ. Nói cách khác, luật thương mại đã định hướng và tiêu chuẩn hoá hành vi của các thương nhân. Tuy nhiên định hướng ban đầu cho các hành vi thương mại không gì khác hơn là việc bảo đảm trật tự. Sau này việc định hướng được xem xét cẩn trọng từ các chính sách nhằm tới các mục tiêu chung của một cộng đồng chính trị nhất định.
Có lẽ do chính sách mở rộng tự do thương mại và sự phát triển tất yếu của các quan hệ thương mại, nên việc xác định ai là thương nhân và ai không phải là thương nhân trở nên rất phức tạp. Đơn giản hơn, người ta cho rằng, hễ ai tham gia vào các giao dịch được gọi là giao dịch thương mại đều phải chịu sự chi phối bởi các qui tắc được gọi là qui tắc thương mại.

2.2 Chức năng tạo điều kiện dễ dàng cho các dự định hoặc kế hoạch

Chức năng này là một chức năng phổ biến của luật thương mại. Trong nền kinh tế thị trưòng, các hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra rất sôi động. Một thương nhân không thề chờ đợi thực hiện xong một họp đồng hay công việc này rồi mới tiến hành một giao dịch khác hay một công việc khác mà anh ta đồng thời phải tiến hành rất nhiều gi. Chuyển dịch và công việc theo một kế hoạch hoặc dự định đề sản xuất một hoặc một số hàng hoá hoặc dịch vụ. Chẳng hạn, để thực him dự định kinh doanh quần áo, thương nhân ký kết họp đồng n tua vải tại một cơ sở sản xuất với điều kiện đợt giao hàng đầu tiê a sau khi ký kết hợp đồng là một quý. Trong vòng một quý đó, thương nhân có thề đổng thời thuê mướn thêm nhân công, mở rộng nhà xưởng, mua sắm thêm trang thiết bị và mở rộng các đầu mối bán lẻ v.v... Nếu cơ sở sản xuất vải vi phạm hợp đổng về thời gian giao hàng (giao hàng chậm hoặc không giao hàng), thì tất cả kế hoạch sản xuất của thương nhân bị phá vỡ, không những thương nhân bị mất cơ hội bán hàng, giành giật thị trường... mà những bên có liên quan khác cũng bị thiệt hại và không thực hiện được dự định của mình.
Vậy luật thương mại phải bảo đảm cho các dự định kinh doanh trở thành hiện thực, hay nói đúng hơn là tạo ra các khả năng để thương nhân có thế hoạch định được công việc kinh doanh của mình. Vì thế, các nguyên tắc như thiện chí, trung thực... trong hoạt động kinh doanh được luật thương mại rất đề cao. Các bên có thể thoả thuận khác với luật, nhưng không được vi phạm tính trung thực, thiện chí... Theo tinh thần này, Bộ luật Thương mại nhất thế của Hoa Kỳ (UCC) có quy định:
"Hiệu lực của các quy định trong Bộ luật này có thế được thoả thuận khác, trừ khi có quy định khác của Bộ luật này và trừ khi mà các nghĩa vụ về tính thiện chí, chuyên cần, hợp lý và thận trọng được quy định tại Bộ luật này không bị từ bỏ bỡi sự thoả thuận, nhưng các bên có thế bằng sự thoả thuận xác định tiêu chuẩn mà đo được việc thực hiện các nghĩa vụ đó nếu các tiêu chuẩn này hiền nhiên là hợp lý" (Article 1, Part 1, Đ 1- 02 (3)).
Tiếp theo các quy định có tính nguyên tắc này, luật thương mại cũng dự liệu nhiều chế tài đặc trưng của mình để bảo đảm cho chức năng này.

2.3 Chức năng bảo đảm cho tính tự tổ chức và tự điêu chỉnh của thị trường

Với tính cách là một ngành luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong nền kinh tế thị trường, nhằm bảo đảm cho việc thiết lập một cơ chế thị trường hiện đại, chức năng này mang tính đặc thù rất sâu của luật thương mại.
Các chuyên gia kinh tế lớn của thế giới đã khẳng định, kinh tế thị trường không phải là nơi người mua, kẻ bán gặp nhau để mua đứt bán đoạn, mà nó còn là một mạng lưới phức tạp của các mối quan hệ xã hội và kinh tế đòi hỏi phải có thời gian đề xây dựng và tiếp tục phát triển thể chế lâu dài. Do các đặc tính trước tiên của chế độ tư hữu là các chủ thề của quyền lợi có thề tự định đoạt trong khuôn khổ của pháp luật, nên trong các nền kinh tế thị trường, mặc dù có những tên gọi khác nhau như "thị trường tự do", "thị trường xã hội", "tư bản hiện đại", “kinh tế hỗn hợp", "thị trường xã hội chủ nghĩa”, “thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” hay “nhà nước phúc lợi chung", nhung các thực thề tham gia các quan hệ thương mại đều bình đẳng, không kề chúng thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu tập thề hay sở hữu tư nhân. Chúng đều có quyền lợi tự do cam kết, thoả thuận. "Bàn tay vô hình" của A. Smith sẽ dẫn dắt những người đi tìm lợi nhuận tới chỗ phục vụ tốt cho các nhu cầu xã hội và góp phần phát triển kinh tế thị trường. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là loại bỏ vai trò của nhà nước ra khỏi các quá trình kinh tế - xã hội mà nhà nưóc có vai trò rất to lớn trong các nền kinh tế thị trường hiện đại. Một trong những chức năng quan trọng của nhà nước là xây dựng pháp luật, củng cố cho tính tự tổ chức và tự điều chỉnh của thị trường.
Xem xét dưới giác độ riêng, luật dân sự và luật thương mại luôn luôn đề cao vai trò và ý nghĩa của nguyên tắc tự do cam kết, thoả thuận của các chủ thể. Các nguyên tắc này chi phối và gắn chặt vào từng quy định cụ thề.

2.4 Chức năng bảo đảm phố biên thông tin nhanh chóng, bảo vệ người tiêu dùng

và bảo vệ quan hệ bình đẳng giữa các bên tham gia các giao dịch thưomg mại.

Như trên đã nói, thị trường là một mạng lưới phức tạp của các mối quan hệ xã hội và kinh tế, cho nên bên cạnh việc đề cao tính tự tổ chức và tự điều chinh thì nhà nước có vai trò thông qua pháp luật, tạo ra một cơ chế bảo vệ chung cho các chủ thề của luật thương mại và người tiêu dùng.
Pháp luật buộc các thương nhân hay các thương hội phải công khai các thông tin về bản thân mà sự thiếu vắng các thông tin này có thề gây ảnh hưởng tới trật tự công cộng hay quyền lợi của người thứ ba. Các thông tin này bao gổm tên gọi, trụ sở, vốn, chức năng kinh doanh v.v... Các thông tin này không chỉ có tác dụng như một sự giới thiệu về thương nhân hay thương hội, mà còn làm rõ khả năng cung câp các hàng hoá hay các dịch vụ và tránh nhầm lẫn.
Thị trường được tạo ra do quan hệ bình đẳng, tự do cạnh tranh giữa các chủ thế tham gia thương mại, nên việc bảo vệ các quan hệ này là tối cẩn thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

2.5 Chức năng bảo đảm môĩ quan hệ làm ăn lâu dài và tôn trọng hợp đồng

Để kinh tế thị trường hoạt động có hiệu quả, lòng tin giữa các thành viên của thị trường cần được duy trì.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các quan hệ đều được thiết lập theo mệnh lệnh, do đó các ý niệm về "lòng tin" hay "mối quan hệ làm ăn lâu dài" giữa các thành viên kinh doanh rất mờ nhạt, bởi trước hết các thành viên kinh doanh không hành động theo lợi ích riêng của mình và sau đó là họ không thế tự do thoả thuận, định đoạt.
Đứng về mặt pháp lý, chức năng thứ năm mang tính phái sinh. Khi luật thực hiện tốt chức năng thứ ba là đã có sự xem xét chi phần nào tới chức năng thứ năm. Nhưng đòi hỏi đối với chức năng thứ năm là phải có một hệ thống các quy phạm pháp luật đầy đủ, đồng bộ được thi hành nghiêm túc mới có khả năng tạo ra được lòng tin giữa các thành viên của thị trường với nhau, bởi các quyền lợi của họ đã được luật hoá hay có thề nói pháp luật đã dự liệu đầy đủ các trường hợp đề bảo vệ quyền lợi của họ.
Thị trường có đặc tính riêng của nó, nên mặc dù các thương nhân có thể làm rõ với nhau về các vi phạm trong mối quan hệ, nhưng vẫn có thế không làm mất mặt nhau để cùng làm ăn lâu dài và cùng có lợi. Muốn được như vậy thì pháp luật phải tạo ra các thủ tục nhanh chóng đề xét xử hoặc trọng tài trên cơ sở tôn trọng trước hết là sự thoả thuận của hai bên về tất cả các vấn đề, trừ khi có vi phạm trật tự công cộng, vi phạm quyền lợi của bên thứ ba hoặc vi phạm tính trung thực, thiện chí hoặc các điều cấm.

2.6 Chức năng tạo ra cơ cấu sở hữu và kiềm soát của công ty

đề đảm bảo rằng các nhà quản lý theo đuôỉ lợi ích của những người sở hữu chứ không phải lợi ích của chính họ.

Người ta thường nói một cách không quá đáng rằng hình thức công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn góp phần cho việc chiến thắng của chủ nghĩa tư bản trước phong kiến. Vậy chức năng này của luật thương mại nhằm củng cố cho sự đứng vững và phát triển của các công ty. Nó cũng góp phần bảo vệ quyền sở hữu cho các chủ đầu tư trong khi các chủ đầu tư bỏ tài sản của mình ra kinh doanh mong muốn tìm kiếm lợi nhuận, nhưng lại không điều hành trực tiếp công ty trong công việc kinh doanh. Chức năng này của luật thương mại được thực hiện sẽ thúc đẩy đầu tư, xã hội hoá công ty vì nó bảo đảm cho chủ sở hữu hay người đầu tư được quyết định sử dụng tài sản của mình.
Từ trước đến nay, người ta thường nhấn mạnh đến việc tách rời sở hữu và kiềm soát công ty, vì công ty có nhiều chủ sở hữu. Hiện nay có hai mô hình lớn về quản trị công ty là mô hình Anh - Mỹ và mô hình Đức và Nhật.
Mô hình Anh - Mỹ là mô hình mà ở đó các cổ phần phân tán rộng rãi và được trao đổi thường xuyên tại các thị trường chứng khoán. Một công ty cỡ lớn có thề thuộc sở hữu của khoảng một triệu người; vào giữa những năm 1980 có khoảng bốn mươi triệu người Mỹ là cổ đông thường; và các thành viên ban quản trị và các nhà quản lý công ty chỉ sở hữu khoảng dưới 5% cổ phiếu thường. Vì thế thực hiện chức năng này của luật thương mại lấ rất quan trọng ở Hoa Kỳ.
Mô hình Đức và Nhật là mô hình mà ở đó cổ phần thường tập trung vào tay các ngân hàng nắm tài sản trực tiếp hoặc gián tiếp, do đó việc trao đổi cổ phần hạn chế hơn. Vì vậy việc quản lý dựa vào sự hiện diện của một chủ sở hữu .
Có quan điềm cho rằng đối với các nền kinh tế đang chuyền đổi thì mô hình theo kiều Anh - Mỹ là kém hiệu quả. Nhưng dù sao thì chức năng này rất quan trọng đối vói việc mô hình hoá công ty của luật thương mại.

2.7 Chức năng hạn chế và giải quyết xung đột của các thành viên công ty

Các công ty lớn được lập nên trong nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào người đầu tư, do đó chức năng này có vị thế quan trọng trong luật thương mại.
Xung đột của các thành viên có thề gây ảnh hưởng đến các hoạt động của công ty với tư cách là thành viên của thị trường nên pháp luật phải xác lập một cơ chế chi tiết, rõ ràng bảo vệ các quyền lợi chính đáng của các chủ đầu tư.

2.8 Chức năng bảo đảm hội nhập quốc tế

Việc quốc tế hoá đời sông kinh tế thế giới là một quy luật của thời đại. Từ đó thương mại quôc tế phát triển. Chính sách thương mại quốc tế là một bộ phận không thế tách rời của chính sách phát triển thương mại quốc gia. Việc phát triển thương mại, đầu tư nước ngoài là những con đường quan trọng để tiếp cận kỹ năng quản lý và kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Vì vậy luật thương mại phải được hiện đại hoá và phù hợp với thông lệ quốc tế để thúc đẩy cho các công trình này. Chẳng hạn trước kia việc đầu tư bằng tài sản hữu hình là cực kỳ quan trọng, nhưng hiện nay đầu tư bằng tài sản vô hình có vị trí rất cao, các hình thức tài trợ, thuê mua, thuê vốn rất phát triển, do đó luật thương mại cần phải ghi nhận kịp thời để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động thương mại quốc tế.

2.9 Chức năng tạo ra các hình thức sản xuất, kinh doanh đa dạng

Đây là chức năng rất quan trọng đối vói Việt Nam trong thời kỳ đổi mói, là đường lối cơ bản đề xây dựng nền kinh tế thị trường và xoá bỏ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Bởi thế, luật thương mại phải dự liệu nhiều hình thức công ty đề cho người đầu tư lựa chọn.

2.10 Chức năng làm giảm chi phí giao dịch và đơn giản hóa thủ tục

Chức năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch và sự ra đòi của các công ty. Các đạo luật về thương mại của Việt Nam thời gian gần đây đã thực hiện tương đối tốt chức năng này.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê