1. Luật Thương mại và Luật Dân sự

Dù hiểu từ góc độ một ngành luật hay lĩnh vực pháp luật thì giữa Luật Dân sự và Luật Thương mại cũng chỉ có sự độc lập tương đối và giữa chúng tồn tại mối quan hệ giữa luật chung và luật riêng. Luật Thương mại và Luật Dẫn sự đều điều chỉnh các quan hệ tài sản hình thành trên cơ sở quyền tự do thoả thuận của chủ thể, đồng thời, đều quy định về tư cách chủ thể (của tổ chức, cá nhân) trong các giao dịch đó. Trên cơ sở các quy định chung của Luật Dân sự, Luật Thương mại quy định bổ sung hoặc chi tiết hoá phù hợp với đặc thù của giao dịch thương mại có mục đích sinh lợi và đặc thù của các chủ thể là thương nhân - những tổ chức, cá nhân lấy hoạt động thương mại làm chức năng chính và lấy yếu tố sinh lợi là mục đích cơ bản hàng đầu.

Trong mối quan hệ với Luật Dân sự, Luật Thương mại là luật riêng, cụ thể là:

“các quy định của pháp luật thương mại có ý nghĩa bổ sung hoặc cụ thể hoả các quy định của pháp luật dân sự. Phương pháp xây dựng pháp luật theo mô hình này đã có nguồn gốc từ xa xưa (lex speciaỉis và lex generalỉs). Trong quả trình áp dụng, luật riêng bao giờ cũng được áp dụng trước, đổi với những vấn đề mà luật riêng không điều chỉnh thì áp dụng các quy định của luật chung”. Hiện nay, nguyên tắc này được thể hiện khá rõ nét trong pháp luật Việt Nam. Điều 4 Luật Thương mại năm 2005 quy định nguyên tắc áp dụng Luật Thương mại và pháp luật có liên quan, theo đó, hoạt động thương mại phải tuân theo Luật Thương mại và pháp luật có liên quan. Nếu hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thi áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự.

Mối quan hệ giữa Luật Thương mại và Luật Dân sự trong pháp luật Việt Nam thể hiện thông qua những khía cạnh cơ bản như sau:

Một là, Bộ luật Dân sự là văn bản quy định về nghĩa vụ và hợp đồng, không có sự phân biệt chủ thể (kinh doanh hay không kinh doanh) và mục đích (lợi nhuận hay phi lợi nhuận) trong quy định về hợp đồng dân sự. Luật Thương mại khi quy định về hoạt động thương mại, chủ yếu chỉ quy định các quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch thương mại. Không quy định các vấn đề pháp lý về hợp đồng như giao kết hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng, đảm bảo ký kết và thực hiện hợp đồng... Những vấn đề này sẽ thực hiện theo các quy định của Bộ luật Dân sự.

Hai là, Bộ luật Dân sự quy định về cá nhân, pháp nhân, năng lực pháp luật, năng lực hành vi, uỷ quyền và đại diện, chấm dứt pháp nhân... Pháp luật thương mại quy định quy chế thương nhân dành cho tổ chức và cá nhân kinh doanh. Bên cạnh các quy định riêng này của Luật Thương mại, các quy định chung của Luật Dân sự vẫn có hiệu lực áp dụng với mọi tổ chức, cá nhân, bao gồm cả tổ chức, cá nhân kinh doanh.

Ba là, do bản chất chung của các giao dịch thương mại và giao dịch dân sự đều hình thành, thay đổi, chấm dứt trên cơ sở thoả thuận, tự nguyện, tự do ý chí, nên việc giải quyết tranh chấp thương mại, tranh chấp dân sự tại Toà án đều thực hiện theo thủ tục tố tụng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, Luật Thương mại quy định thêm một số phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Toà án, đáp ứng yêu cầu khác nhau của các thương nhân có tranh chấp trong hoạt động thương mại, đó là giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải thương mại...

2. Luật Thương mại Việt Nam và Luật Thương mại quốc tế

>> Xem thêm:  Dịch vụ xúc tiến thương mại là gì ? Cho ví dụ dịch vụ xúc tiến thương mại

Cùng chung cái “gốc” là Luật Thương mại - điều chỉnh các quan hệ thương mại, diễn ra chủ yếu giữa các thương nhân, khái niệm Luật Thương mại Việt Nam và Luật Thương mại quốc tế được sử dụng khá phổ biến với sự phân biệt: Luật Thương mại quốc tế là lĩnh vực pháp luật thương mại chuyên sâu, gồm tổng thể các quy tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài, bao gồm quan hệ thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại đầu tư và thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Luật Thương mại Việt Nam gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ thương mại diễn ra chủ yếu giữa các thương nhân trong nước. Tuy nhiên, việc xác định nguồn của Luật Thương mại quốc tế là pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế cho thấy, Luật Thương mại quốc tể cũng bao gồm tổng thể các quy định do nhà nước Việt Nam ban hành hoặc thừa nhận. Do đó, việc phân biệt Luật Thương mại Việt Nam và Luật Thương mại quốc tế rõ ràng chỉ mang tính tương đối và chủ yếu chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu và đào tạo luật.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Hành vi thương mại là gì ? Đặc điểm của hành vi thương mại