Mục lục bài viết
1. Khái quát chung
Bởi luật thương mại điều chỉnh các quan hệ giữa các thương nhân hay các hành vi thương mại, nên việc nghiên cứu đối tượng điều chỉnh của luật thương mại góp phần làm rõ các chủ thể của luật thương mại. Điều 1, Luật Thương mại 1997 của Việt Nam xác định phạm vi điều chỉnh của luật thương mại là các hành vi thương mại và địa vị pháp lý của thương nhân. Hành vi thương mại được Đạo luật này cho là môì quan hệ giao dịch giữa các thương nhân hoặc giữa các thương nhân với người khác (Điều 5, khoản 1). Đạo luật này điều chinh quan hệ giao dịch giữa các thương nhân với nhau; và giữa một bên là thương nhân với một bên không phải là thương nhân, nếu giao dịch đó là giao dịch thương mại. Luật Thương mại 2005 đã xác nhận lại đối tượng điều chỉnh của luật thương mại theo hướng mở rộng khái niệm hành vi thương mại. Trước kia Luật Thương mại 1997 chỉ xác định 14 hành vi liên quan tới mua bán hàng hóa và dịch vụ mua bán hàng hóa là các hành vi thương mại. Nhưng nay Luật Thương mại 2005 quy định: "Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gổm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiên thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác" (Điều 3, khoản 1). Tuy nhiên cần phải hiểu rằng một đạo luật khó có thể bao quát đầy đủ một ngành luật. Vì vậy đối tượng điều chỉnh của Luật Thương mại 2005 (với tính cách là một đạo luật) hẹp hơn đối tượng điều chỉnh của ngành luật thương mại.
Ở các nước theo truyền thống Civil Law, người ta có khuynh hướng cố gắng xây dựng mỗi bộ luật bao quát một ngành luật (chẳng hạn Bộ luật Dân sự bao quát hầu hết các vấn để hay các chế định của luật dân sự; cũng như vậy đối với luật thương mại). Theo cách thức này, Bộ luật Thương mại Nhật Bản xác định đối tượng điều chỉnh của luật thương mại như sau:
"Điều 2: Bộ luật này áp dụng cho các giao dịch thương mại được thực hiện bởi các pháp nhân công, trừ khi có quy định khác trong bất kỳ luật hoặc sắc lệnh nào.
Điều 3: Bộ luật này áp dụng cho cả hai bên, nếu một hành vi là giao dịch thương mại đối với một trong các bên.
Trong trường hợp mà một trong các bên có nhiều người tham gia và một giao dịch trở thành giao dịch thương mại đối với một người trong số họ thì Bộ luật này áp dụng cho tất cả những người đó".
Luật Thương mại 2005 của Việt Nam có khuynh hướng xác định rất rộng, nhưng không dứt khoát về phạm vi điều chỉnh của luật thương mại. Theo đạo luật này thì tất cả các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi của thương nhân hay của bất kỳ tổ chức cá nhân nào khác đều được xem là hoạt động thương mại và thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thương mại (Điều 1, khoản 1; Điều 2; và Điều 3, khoản 1). Tuy nhiên hành vi thương mại hỗn hợp là một ngoại lệ mà sẽ được nghiên cứu sau. Mặc dù vậy đạo luật này vẫn có sự phân biệt giữa thương nhân và người khác tại Điều 2.
Các nghiên cứu trên cho thây, chủ thể của luật thương mại có thể được phân loại như sau căn cứ vào tính chất chuyên nghiệp hoặc bất chuyên nghiệp của họ đối với việc thực hiện hành vi thương mại:
Một, chủ thể thông thường hay chủ thể chủ yếu của luật thương mại - các thương nhân.
Hai, chủ thể phụ thuộc của luật thương mại. Những người này bản chất không phải là thương nhân, nhưng do họ tham gia các giao dịch với thương nhân nên trở thành chủ thế của luật thương mại.
Ba, chủ thể khác của luật thương mại. Những người này bản chất không phải là thương nhân, nhưng giao dịch của họ là giao dịch thương mại theo bản chất nên họ trở thành chủ thể của luật thương mại. Chủ thể này có thể là các pháp nhân công pháp khi giữa họ tham gia giao dịch thương mại với nhau hoặc họ tham gia giao dịch thương mại với người khác không phải là thương nhân. Trong các trường hợp này, họ không được hưởng quyển miễn trừ tài phán. Ví dụ: Điều 5 Luật Miễn trừ Nhà nước của Canada tuyên bô' quốc gia không được miễn trừ xét xử của toà án với bất kỳ thủ tục tố tụng nào mà có liên quan tới bất kỳ hành vi thương mại do quốc gia thực hiện. Quốc gia ở đây được hiếu là bất kỳ định chê' chính trị nào hay bất kỳ một tổ chức nào câu thành bộ máy chính quyển của một quốc gia. Một sốhiệp định Việt Nam ký kết vớí các đối tác nước ngoài cũng đề cập tới việc loại bỏ sự miễn trừ quốc gia khi quốc gia tham gia các giao dịch thương.
Khi nghiên cứu luật thương mại không thể quên nghiên cứu thương nhân với tính cách là chủ thể thông thường và chủ yếu của luật thương mại mà họ mang những đặc điểm riêng so với các chủ thểkhác (phi thương nhân).
2. Chủ thế của luật thương mại
2.1 Mối quan hệ điều chỉnh của Luật thương mại
Bởi luật thương mại điều chỉnh các quan hệ giữa các thương nhân hay các hành vi thương mại, nên việc nghiên cứu đối tượng điều chỉnh của luật thương mại góp phần làm rõ các chủ thể của luật thương mại. Điều 1, Luật Thương mại 1997 của Việt Nam xác định phạm vi điều chỉnh của luật thương mại là các hành vi thương mại và địa vị pháp lý của thương nhân. Hành vi thương mại được Đạo luật này cho là môì quan hệ giao dịch giữa các thương nhân hoặc giữa các thương nhân với người khác (Điều 5, khoản 1). Chưa bàn đến tính rắc rối, thiểu chính xác và thiểu rõ ràng của các quy định này, người ta có thể rút ra kết luận: Đạo này điều chinh quan hệ giao dịch giữa các thương nhân với nhau; và giữa một bên là thương nhân với một bên không phải là thương nhân, nếu giao dịch đó là giao dịch thương mại. Luật Thương mại 2005 đã xác nhận lại đối tượng điều chỉnh của luật thương mại theo hướng mở rộng khái niệm hành vi thương mại. Trước kia Luật Thương mại 1997 chỉ xác định 14 hành vi liên quan tới mua bán hàng hóa và dịch vụ mua bán hàng hóa là các hành vi thương mại. Nhưng nay Luật Thương mại 2005 quy định: "Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gổm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiên thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác" (Điều 3, khoản 1). Tuy nhiên cần phải hiểu rằng một đạo luật khó có thể bao quát đầy đủ một ngành luật. Vì vậy đối tượng điều chỉnh của Luật Thương mại 2005 (với tính cách là một đạo luật) hẹp hơn đối tượng điều chỉnh của ngành luật thương mại.
2.2 Đối tượng điều chỉnh của luật thương mại
Ở các nước theo truyền thống Civil Law, người ta có khuynh hướng cố gắng xây dựng mỗi bộ luật bao quát một ngành luật (chẳng hạn Bộ luật Dân sự bao quát hầu hết các vấn để hay các chế định của luật dân sự; cũng như vậy đối với luật thương mại). Theo cách thức này, ở các nước theo truyền thống Civil Law, người ta có khuynh hướng cố gắng xây dựng mỗi bộ luật bao quát một ngành luật (chẳng hạn Bộ luật Dân sự bao quát hầu hết các vấn để hay các chế định của luật dân sự; cũng như vậy đối với luật thương mại). Theo cách thức này, Bộ luật Thương mại Nhật Bản xác định đối tượng điều chỉnh của luật thương mại như sau:
"Điều 2: Bộ luật này áp dụng cho các giao dịch thương mại được thực hiện bởi các pháp nhân công, trừ khi có quy định khác trong bất kỳ luật hoặc sắc lệnh nào.
Điều 3: Bộ luật này áp dụng cho cả hai bên, nếu một hành vi là giao dịch thương mại đối với một trong các bên.
Trong trường hợp mà một trong các bên có nhiều người tham gia và một giao dịch trở thành giao dịch thương mại đối với một người trong số họ thì Bộ luật này áp dụng cho tất cả những người đó".
2.3 Phân loại chủ thể của Luật thương mại
Luật Thương mại 2005 của Việt Nam có khuynh hướng xác định rất rộng, nhưng không dứt khoát về phạm vi điều chỉnh của luật thương mại. Theo đạo luật này thì tất cả các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi của thương nhân hay của bất kỳ tổ chức cá nhân nào khác đều được xem là hoạt động thương mại và thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thương mại (Điều 1, khoản 1; Điều 2; và Điều 3, khoản 1). Tuy nhiên hành vi thương mại hỗn hợp là một ngoại lệ mà sẽ được nghiên cứu sau. Mặc dù vậy đạo luật này vẫn có sự phân biệt giữa thương nhân và người khác tại Điều 2.
Các nghiên cứu trên cho thây, chủ thể của luật thương mại có thể được phân loại như sau căn cứ vào tính chất chuyên nghiệp hoặc bất chuyên nghiệp của họ đối với việc thực hiện hành vi thương mại:
Một, chủ thể thông thường hay chủ thể chủ yếu của luật thương mại - các thương nhân.
Hai, chủ thể phụ thuộc của luật thương mại. Những người này bản chất không phải là thương nhân, nhưng do họ tham gia các giao dịch với thương nhân nên trở thành chủ thế của luật thương mại.
Ba, chủ thể khác của luật thương mại. Những người này bản chất không phải là thương nhân, nhung giao dịch của họ là giao dịch thương mại theo bản chất nên họ trở thành chủ thể của luật thương mại. Chủ thể này có thể là các pháp nhân công pháp khi giữa họ tham gia giao dịch thương mại với nhau hoặc họ tham gia giao dịch thương mại với người khác không phải là thương nhân. Trong các trường hợp này, họ không được hưởng quyển miễn trừ tài phán. Ví dụ: Điều 5 Luật Miễn trừ Nhà nước của Canada tuyên bô' quốc gia không được miễn trừ xét xử của toà án với bất kỳ thủ tục tố tụng nào mà có liên quan tới bất kỳ hành vi thương mại do quốc gia thực hiện. Quốc gia ở đây được hiếu là bất kỳ định chê' chính trị nào hay bất kỳ một tổ chức nào câu thành bộ máy chính quyển của một quốc gia. Một sốhiệp định Việt Nam ký kết vớí các đối tác nước ngoài cũng đề cập tới việc loại bỏ sự miễn trừ quốc gia khi quốc gia tham gia các giao dịch thương.
Khi nghiên cứu luật thương mại không thể quên nghiên cứu thương nhân với tính cách là chủ thể thông thường và chủ yếu của luật thương mại mà họ mang những đặc điểm riêng so với các chủ thể khác (phi thương nhân).
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê