- 1.Nội dung quy chế pháp lý đặc biệt của quốc gia trong tư pháp quốc tế
- 2.Trong trường hợp quốc gia đứng tên nguyên đơn trong vụ tranh chấp dân sự
- 3.Quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia trong tư pháp quốc tế gồm ba nội dung
- 4.Trong vấn đề thi hành án của toà án nước ngoài
- 5. Quan điểm lý luận của các nhà lý luận phương Tây
1.Nội dung quy chế pháp lý đặc biệt của quốc gia trong tư pháp quốc tế
Nói đến quy chế pháp lý đặc biệt của quốc gia trong tư pháp quốc tế là nói đến quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia.
Quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia thể hiện trước hết ỏ quyền miễn trừ xét xử - toà án của quốc gia này không có quyền xét xử quốc gia kia (Par in parem non habet jurisdictionemý, nếu quốc gia kia không cho phép. Điều đỏ cũng có nghĩa là, khi tham gia vào quan hệ dân sự với một quốc gia, nếu có tranh chấp xảy ra, cá nhân và pháp nhân nước ngoài không được phép đệ đơn kiện quốc gia đó tại bất kỳ toà án nào, kể cả tại toà án của chính quốc gia đó, trừ khi quốc gia đó cho phép; các tranh chấp phải được giải quyết bằng thương lượng trực tiếp hoặc bằng con đường ngoại giao giữa các quốc gia. Một quốc gia đồng ý cho cá nhân, pháp nhân nước ngoài kiện mình có nghĩa là đồng ý cho toà án thụ lý và xét xử vụ kiện mà quốc gia đó là bị đơn.
Quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đôì của quốc gia còn thể hiện ở chỗ: Nếu một quốc gia đồng ý cho cá nhân, pháp nhân nước ngoài kiện mình, cũng có nghĩa là đồng ý cho toà án nước ngoài xét xử vụ tranh chấp mà họ là bên bị đơn. Khi đó, Toà án nước ngoài được xét xử, nhưng không được phép áp dụng các biện pháp cưỡng chế, nhằm bảo đảm sơ bộ đối với đơn kiện hoặc bảo đảm thi hành quyết định của toà án. Toà án nưốc ngoài chỉ được phép áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó trong trường hợp quốc gia bị đơn cho phép.
Quốc gia có quyền đứng tên nguyên đơn trong vụ tranh chấp dân sự với cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài. Đây là quyền không thể bị phủ nhận của mỗi quốc gia khi tham gia vào các mốỉ quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Trong khoa học về tư pháp quốc tế cũng như trong thực tiễn, không có ai lên tiếng bác bỏ quyền này của quốc gia, mặc dù khi đề cập vấn đề miễn trừ tư pháp của quốc gia có trường hợp quyền này không được nhắc đến.
2.Trong trường hợp quốc gia đứng tên nguyên đơn trong vụ tranh chấp dân sự
Trong trường hợp quốc gia đứng tên nguyên đơn trong vụ tranh chấp dân sự vối cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài, toà án của quốc gia nguyên đơn cũng như tòà án của nưốc ngoài đương nhiên được phép thụ lý và giải quyết đơn kiện. Tuy nhiên, nhìn chung, bị đơn là cá nhân, pháp nhân nước ngoài chỉ được phép đệ đơn phản kiện khi được quốc gia nguyên đơn đồng ý, ngay cả khi nội dung của đơn kiện của quốc gia nguyên đơn và nội dung của đơn phản kiện của cá nhân, pháp nhân nước ngoài có liên quan với nhau một cách chặt chẽ. Mục đích chính ở đây là bảo vệ chủ quyền, danh dự và phẩm giá của mỗi quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Các nội dung nêu trên của quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia gắn bó chặt chẽ vối nhau. Song, quốc gia có quyền từ bỏ từng nội dung hoặc tất cả các nội dung của quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của mình, bởi vì hưởng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đốỉ trong lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quyền của mỗi quốc gia, không phải nghĩa vụ của quốc gia.
Việc quốc gia từ bỏ nội dung này không có nghĩa là đương nhiên từ bỏ nội dung khác của quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đốỉ. Từ bỏ từng nội dung hay từ bỏ toàn bộ các nội dung của quyền miễn trừ tư pháp trong trường hợp này không có nghĩa là trong trường hợp khác đương nhiên cũng từ bỏ.
Việc một quốc gia từ. bỏ từng nội dung hay từ bỏ toàn bộ các nội dung của quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đốì của mình phải được thể hiện rõ ràng bằng cách quy định trong pháp luật quốc gia, trong điều ước quốc tế mà họ ký kết hoặc tham gia, hoặc bằng con đường ngoại giao hay trong từng hợp đồng cụ thể mà quốc gia này ký kết, nhằm tạo sự dễ dàng và yên tâm cho các cá nhân, pháp nhân nưốc ngoài khi quyết định tham gia vào các mốỉ quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài với quốc gia này. Việc thể hiện một cách rõ ràng như vậy sẽ ngăn chặn và loại trừ sự suy diễn chủ quan, võ đoán về những trường hợp quốc gia từ bỏ hay không từ bỏ từng nội dung hay toàn bộ nội dung quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đôi của mình trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
3.Quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia trong tư pháp quốc tế gồm ba nội dung
- Miễn trừ xét xử tại bất cứ toà án nào;
- Miễn trừ đốì với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo sơ bộ đốĩ với đơn kiện của tổ chức, cá nhận nưốc ngoài, khi quốc gia đã đồng ý cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện mình, tức là đồng ý cho toà án xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn;
- Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành quyết định của toà án trong trường hợp quốc gia đã đồng ý cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện, đồng ý cho toà án xét xử vụ kiện.
Trong khoa học về tư pháp quốc tế cũng có ý kiến cho rằng' quốc gia được hưỏng quyền miễn trừ xét xử, nhưng chỉ đề cập việc xét xử ỗ toà án nưốc ngoài. Cách đề cập này còn nhiều điểm cần được xem xét, bởi vì nếu để cho tổ chức, cá nhân nước ngoài đệ đơn kiện Nhà nước ta tại chính toà án nước ta khi Nhà nước ta không đồng ý, thì cũng đã để xảy ra hiện tượng xúc phạm đến danh dự và chủ quyền của Nhà nước ta. Đây là điều không thể chấp nhận được.
4.Trong vấn đề thi hành án của toà án nước ngoài
Có ý kiến khẳng định quốc gia hưởng quyền miễn trừ về thi hành án. Quan điểm này chưa thật chính xác. Một khi quốc gia đã đồng ý cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện mình và cũng là đồng ý cho toà án nước ngoài xét xử đơn kiện mình thì quốc gia có trách nhiệm thi hành bản án của toà án nưốc ngoài đó, không thể đặt vấn đề miễn thi hành án. Nhìn chung, điều cần miễn ở đây là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm thi hành bản án của toà án nước ngoài.
Quyền miễn trừ tư pháp của mỗi quốc gia là tuyệt đôì. Việc họ tự nguyện từ bỏ từng nội dung hoặc tất cả các nội dung của quyền miễn trừ này thì phải tôn trọng quyền quyết định của quốc gia. Sở dĩ như vậy là vì, trong quan hệ quốc tế, các quốc gia đều là các thực thể độc lập, có chủ quyền và bình đẳng với nhau, như đã trình bày ở mục 1 của chương này.
Từ khi hình thành Liên Xô - quốc gia xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giối, đặc biệt trong thời kỳ tồn tại hệ thông các quốc gia xã hội chủ nghĩa, một số luật gia phương Tây đề xướng thuyết miễn trừ theo chức năng. Theo học thuyết của họ, chỉ khi thực thi quyền lực nhà nước thì quốc gia mói được hưởng quyền miễn trừ tư pháp; khi quốc gia tiến hành trực tiếp các hoạt động thương mại thì không^được hưởng quyền miễn trừ, bị đặt vào vị trí ngang hàng với cá nhân và pháp nhân. Quan điểm miễn trừ theo chức năng của các luật gia phương Tây thậm chí còn được ghi nhận trong pháp luật một sô' nước như Mỹ (Luật năm 1978 về miễn trừ của Nhà nước)...
Sỏ dĩ một số luật gia phương tây muốn từ bỏ thuyết miễn trừ tư pháp tuyệt đôi và đề xướng thuyết miễn trừ theo chức năng là vì từ khi hình thành nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới cho đến khi Liên Xô và Đông Âu xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ, các nước xã hội chủ nghĩa thực thi chính sách nhà nước độc quyền ngoại thương, chỉ có các tổ chức ngoại thương của Nhà nưốc xã hội chủ nghĩa mới được ký kết hợp đồng ngoại thương. Đôi khi bản thân Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng ký kết các hợp đồng thương mại và các hợp đồng dân sự khác.
5. Quan điểm lý luận của các nhà lý luận phương Tây
Các nhà lý luận phướng Tây lúc đó lo ngại rằng, khi ký kết hợp đồng ngoại thương với các tổ chức ngoại thương của Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng như vối bản thân Nhà nưởc xã hội chủ nghĩa sẽ không bảo vệ được các quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân của các nước tư bản, nếu không có sự bình đẳng và ngang quyền giữa các cá nhân, pháp nhân vối Nhà nước xã hội chủ nghĩa hoặc tổ chức của Nhà nước xã hội chủ nghĩa tham gia hợp đồng theo đúng nguyên tắc điều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự thông thường.
Các nhà lý luận phương Tây cũng hiểu rằng, các tổ chức ngoại thương của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là doanh nghiệp nhà nước, thuộc sỏ hữu Nhà nước và rất sợ Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng đòi thực hiện quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối cho các doanh nghiệp này trong quan hệ với tổ chức, cá nhân của các nước tư bản chủ nghĩa. Song, họ đã nhầm khi không phân biệt quy chế pháp lý của các hợp đồng do các doanh nghiệp của Nhà nước ký kết với các hợp đồng do chính bản thân Nhà nước ký kết.
Theo pháp luật của các nưốc xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa là các pháp nhân, có tài sản độc lập với tài sản của các pháp nhân khác và độc lập vởi cả các tài sản do Nhà nước xã hội chủ nghĩa hay các cơ quan Nhà nước xã hội chủ nghĩa trực tiếp, quản lý.
Theo pháp luật, với tư cách là pháp nhân độc lập trong qụan hệ kinh tế, dân sự, doanh nghiệp nhà nước tự chịu trách nhiệm dân sự trong phạm vi tài sản của mình bao gồm tài sản được Nhà nước giao cho quản lý và sử dụng trong kinh doanh và cả tài sản tự có của mình, tự chịu trách nhiệm về những hợp đồng do mình ký kết.
Không thể coi các hợp đồng do doanh nghiệp nhà nước ký kết cũng là hợp đồng do Nhà nước ký kết. Việc kinh doanh là hoạt động tự chủ của các doanh nghiệp đã được pháp luật của Nhá nước xã hội chủ nghĩa thừa nhận, được quy định rõ ràng và cụ thể. Bản thân nhà nước chỉ trực tiếp ký kết hợp đồng trong những trường hợp thật đặc biệt và tự chịu trách nhiệm đối với các hợp đồng đó.
Các doanh nghiệp nhà nưốc không chịu trách nhiệm về những hợp đồng do bản thân nhà nước ký kết và Nhà nước cũng không chịu trách nhiệm về những hợp đồng mà doanh nghiệp nhà nước ký kết.
Cùng với việc khẳng định chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nưốc ta đang chuyển mạnh sang thực hiện các biện pháp quản lý xã hội, quản lý kinh tế bằng pháp luật và theo pháp luật, xoá bỏ cơ chế bộ, ngành, cơ quan chủ quản đối vối doanh nghiệp, không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó, việc phần biệt trách nhiệm dân sự của nhà nước và của doanh nghiệp nhà nước trong quan hệ hợp đồng ngày càng được khẳng định rõ ràng cả về mặt lý luận và thực tiễn pháp lý.
Thực tiễn quan hệ quốc tế một số thập kỷ vừa qua cũng đã từng có những trường hợp toà án của một số nước phương Tây thực hiện' việc sai áp đôì vối tài sản của doanh nghiệp Nhà nước này để bảo đảm đối với đơn kiện chống lại một doanh nghiệp nhà nước khác của nưốc ta với lý do cả hai doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước và thuộc quyền sở hữu của nhà nưốc Việt Nam. Cũng có trường hợp toà án của một vài nước tư bản chủ nghĩa sai áp đối với tài sản thuộc quyền quản lý của cơ quan nhà nước của nước ta ở nưốc ngoài để bảo đảm sơ bộ đốì vối đơn kiện chống lại một doanh nghiệp nhà nước của nước ta. Việc thực hiện biện pháp sai áp trong các trường hợp này hoàn toàn không đúng về mặt lý luận và không có căn cứ pháp luật, không góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa các quốc gia và cả quan hệ , giao lưu giữa các tổ chức, cá nhân của các quốc gia, đi ngược lại lợi ích của các quốc gia trong tiến trình hội nhập.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, chỉ có nhà nước, cơ quan nhà nước, những người đại diện cho nhà nước mới được miễn trừ tư pháp tuyệt đốĩ trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Các pháp nhân kinh tế, bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nưổc không được hưởng quyền này, nếu pháp luật của nhà nước liên quan không có quy định khác.
Nội dung thuyết miễn trừ theo chức năng nêu trên hoàn toàn trái vối các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế cũng như của tư pháp quốc tế, không có lợi cho việc thúc đẩy giao lưu kinh tế, dân sự quốc tế.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )