1. Khái niệm nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi là việc một cặp vợ chồng có quan hệ hôn nhân hợp pháp nhận một hay nhiều trẻ em không do mình trực tiếp sinh ra làm con. Việc nhận nuôi con nuôi làm phát sinh quan hệ cha, mẹ - con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, tức là kể từ thời điểm nhận con nuôi, người nhận con nuôi có tư cách là cha, mẹ của trẻ em được nhận làm con nuôi.

Theo quy định của Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì: Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi. Cha, mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký. Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký. Nuôi con nuôi bao gồm: Nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Cụ thể: Nuôi con nuôi trong nước là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau thường trú ở Việt Nam.  Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.

2. Điều kiện nuôi con nuôi

2.1. Đối với người nhận nuôi con nuôi

Thứ nhất, đối với việc nhận nuôi trong nước: Theo quy định tại Điều 14 Luật nuôi con nuôi 2010, người nhận nuôi con nuôi phải có đủ các điều kiện sau: Một là, người nhận nuôi là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Hai là, có sự chênh lệch độ tuổi giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi từ 20 tuổi trở lên. Ba là, đảm bảo các điều kiện về sức khỏe, công việc có khả năng tạo ra thu nhập thường xuyên, chỗ ở ổn định cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi. Bốn là, có tư cách đạo đức tốt. Hiện nay không có tiêu chí cụ thể cho điều kiện này, chỉ được áp dụng dựa trên thực tế.

Ngoài ra, khoản 2, điều 14 luật này cũng quy định những trường hợp sau không được nhận con nuôi: Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; Đang chấp hành hình phạt tù; Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. Những quy định trên về điều kiện nhận con nuôi và tình trạng của một số chủ thể không được nhận con nuôi loại trừ áp dụng với trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi. 

Luật nuôi con nuôi cũng quy định cấm ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi. Điều này đã làm đảo lộn thứ bậc trong các quan hệ gia đình, trái pháp luật, trái đạo lý, ảnh hưởng đến cả quan hệ thừa kế, quan hệ nội tộc, họ hàng. Do đó, ngay cả trong trường hợp cha mẹ bị chết, thì ông bà (nội, ngoại) có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cháu hoặc anh, chị có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc em - đó là trách nhiệm nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, không cần phải xác lập quan hệ nuôi con nuôi thì mới ràng buộc được trách nhiệm của các bên. 

Thứ hai, đối với việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:

+ Về chủ thể nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bao gồm: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi; Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi; Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam.  Theo quy định tại khoản 2, điều 28, Luật nuôi con nuôi 2010 cũng ghi nhận các trường hợp Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh khi: Là cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi; Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi; Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.

+ Về điều kiện đối với người nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy định trong điều 29. Với Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi cần đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú. Với Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú. Cả 2 trường hợp này đều phải tuân thủ các điều kiện đối với người nhận con nuôi trong nước được ghi nhận tại điều 14 Luật nuôi con nuôi 2010. 

Ngoài những điều kiên nêu trên thì cũng cần phải tuân thủ các công ước quốc tế về vấn đề này. Công ước Lahay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trên lĩnh lực con nuôi nước ngoài quy định “khi một trẻ em thường trú ở một Quốc gia ký kết (Quốc gia gốc) đã, đang hoặc sẽ được chuyển đến một Quốc gia ký kết khác (Quốc gia nhận) sau khi đã được một cặp vợ chồng hay một người thường trú ở Quốc gia nhận làm con nuôi thì phải áp dụng Công ước này”. Những quy định này nhằm đáp ứng một trong những mục đích: “Hình thành những đảm bảo để vấn đề con nuôi nước ngoài được tiến hành vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được công nhận trong luật pháp quốc tế” của Công ước Lahay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trên lĩnh lực con nuôi nước ngoài.

2.2. Đối với người được nhận làm con nuôi

Theo quy định tại điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình:

“Người từ 15 tuổi trở xuống mới được nhận làm con nuôi. Trong trường hợp con nuôi là thương binh, người tàn tật hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn thì con nuôi có thể trên 15 tuổi”.

Điều 68 Luật HN&GĐ 2000 cũng ghi nhận độ tuổi của người được nhận làm con nuôi là từ 15 tuổi trở xuống. Các trường hợp trên 15 tuổi có thể được nhận nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn. Sau đó, Luật Hôn nhân vfa gia đình 2014 đã sửa đổi điều luật này. Theo quy định tại Điều 8, điều kiện của người được nhận làm con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi. Sở dĩ pháp luật quy định như vậy bởi những trẻ em này chưa có sự trưởng thành nhất định về thể chất và tinh thần. Vì một nguyên nhân nào đó mà trẻ em không có cha mẹ thì đều có quyền có một gia đình và được nhận làm con nuôi dưới hình thức hợp pháp nhằm đảm bảo cho trẻ em đó được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đầy đủ. Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng là một trong những quyền cơ bản của trẻ em đã được pháp luật Việt Nam quy định trong khoản 1, điều 37, Hiến pháp 2013:

“Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”.

Đồng thời, quy định về độ tuổi dưới 16 để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với quy định của các ngành luật khác như: luật lao động và luật dân sự. Một điểm đáng lưu ý về điều kiện của người được nhận làm con nuôi chỉ có thể là con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. 

Tuy nhiên, về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi vẫn tồn tại trường hợp ngoại lệ: Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi. Như vậy, Pháp luật Việt Nam chỉ giới hạn độ tuổi người được nhận làm con nuôi là dưới 18 tuổi bởi theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, người từ đủ 18 tuổi là người thành niên, đã trưởng thành, có thể tự mình xác lập các quan hệ dân sự, quan hệ xã hội và tự chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình, do đó không còn là đối tượng để Luật nuôi con nuôi quy định.

3. Thẩm quyền và thủ tục đăng ký nuôi con nuôi

3.1. Thẩm quyền

Theo quy định tại  Điều 9 Luật Nuôi con nuôi 2010, cơ quan thực hiện việc đăng ký nhận nuôi con nuôi được quy định cụ thể như sau:

+ Khi nhận nuôi trong nước: Uỷ ban nhân dân (UBND) xã nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi;

+ Khi nhận nuôi con có yếu tố nước ngoài: UBND, Sở Tư pháp cấp tỉnh nơi thường trú của con nuôi;

+ Khi công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài nhận con nuôi: Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài. 

 Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt, nơi thực hiện việc đăng ký nuôi con nuôi được hướng dẫn cụ thể tại Điều 1 Nghị Định 24/2019/NĐ-CP như sau: Trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi: Uỷ ban nhân dân xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. Trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi : Uỷ ban nhân dân xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. 

3.2. Thủ tục đăng ký nuôi con nuôi

Căn cứ theo quy định tại các điều 17, 18, 19, 20, 21, 22 Luật Nuôi con nuôi 2010 và quy định chi tiết tại Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ và Nghị định 24/2019/NĐ-CP sửa đổi nghị định 19/2011/NĐ -CP

Bước 1: Nộp hồ sơ 

Người nhận con nuôi phải nộp hồ sơ của mình và của con nuôi tại cơ quan có thẩm quyền (theo từng trường hợp cụ thể) nêu trong Điều 9, Luật nuôi con nuôi 2010. Thời hạn giải quyết là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lý.

Thứ nhất, giấy tờ của cha mẹ nuôi bao gồm:

- Đơn xin nhận con nuôi ( theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định) ;

- Hộ chiếu, chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị khác thay thể ( bản sao);

- Phiếu lý lịch tư pháp;

- Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

- Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

- Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do UBND cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp;

Nếu nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài thì cần thêm: Văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam; Bản điều tra về tâm lý, gia đình,…

Thứ hai, giấy tờ của người được nhận nuôi bao gồm:

- Giấy khai sinh;

- Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

- Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng; 

- Các giấy tờ khác ( nếu có): trẻ bị bỏ rơi cần biên bản xác nhận do UBND hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ lập; quyết định tiếp nhận trẻ ở cơ sở nuôi dưỡng; Giấy chứng tử của cha, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;

Nếu có yếu tố nước ngoài thì tìm tài liệu chứng minh đã tìm gia đình thay thế trong nước nhưng không được;

Bước 2: Kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của những người có liên quan: Sau khi UBND nhận đủ hồ sơ sẽ kiểm tra, tiến hành việc lấy ý kiến của cha mẹ đẻ; nếu một trong hai người chết hoặc mất tích thì lấy ý kiến của người còn lại; nếu cả hai người cùng chết, mất tích.. thì phải lấy ý kiến của người giám hộ… ( quy định tại Điều 21, Luật Nuôi con nuôi 2010). Việc lấy ý kiến phải lập thành văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lấy ý kiến.

Bước 3: Đăng ký việc nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi: Sau khi xét thấy hai bên có đủ điều kiện theo quy định thì UBND xã sẽ tổ chức đăng ký nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và ghi vào sổ hộ tịch.

Thời gian thực hiện thủ tục này là 20 ngày kể từ ngày có ý kiến đồng ý của những người quy định tại Điều 21 của Luật này. Nếu UBND xã từ chối thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do trong thời hạn 10 ngày. Giấy chứng nhận nuôi con được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.