1. Phòng nừa tội phạm và đấu tranh chống tội phạm

Hoạt động này bao gồm: Phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm và thi hành án hình sự. Đó là những hoạt động có đối tượng là tội phạm đã xảy ra. Trái lại. phòng ngừa tội phạm là các hoạt động nhằm không để cho tội phạm xảy ra. Hoạt động chống hay đấu tranh chống tội phạm và hoạt động phòng ngừa tội phạm là hai hoạt động khác nhau. Tuy nhiên, hai loại hoạt động này không phải độc lập hoàn toàn với nhau mà có mối quan hệ nhất định. Cụ thể:

- Chống tội phạm hay đấu tranh chống tội phạm là hoạt động trấn áp tội phạm cụ thể đã xảy ra. Hoạt động này không chỉ ngăn chặn không cho chủ thể tiếp tục phạm tội mà còn có giá trị răn đe, giáo dục chung và qua đó tác động nhất định đến nguyên nhân của tội phạm nên cũng có giá trị phòng ngừa tội phạm. Ở khía cạnh này có thể coi chống tội phạm là hoạt động đặc biệt của phòng ngừa tội phạm. Chống tội phạm được thực hiện cũng có mục đích là phòng ngừa tội phạm vì cũng hướng tới môi trường và hướng tới con người theo hướng tích cực. Chống tội phạm để tạo cơ sở cho môi trường pháp lý hình sự nghiêm minh và để giáo dục ý tức tuân thủ pháp luật hình sự của mọi người. Đó là hai điều kiện quan trọng góp phần ngăn ngừa phát sinh nguyên nhân của tội phạm.

- Chống tội phạm và phòng ngừa tội phạm là hai loại hoạt động có nội dung riêng. Tuy có quan hệ với nhau và có cùng mục đích như nêu trên nhưng hai loại hoạt động này không đồng nhất với nhau. Nếu đồng nhất hai hoạt động này sẽ dễ dẫn đến tình trạng bó hẹp phạm vi các biện pháp phòng ngừa cũng như tuyệt đối hoá biện pháp xử lý hình sự. Trong khi đó cần phải coi chống tội phạm chỉ là một trong số rất nhiều biện pháp thuộc hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm càn thực hiện. Tuy nhiên, chống tội phạm vẫn có tính độc lập tương đối, có nội dung, đặc điểm và yêu cầu riêng. Kết quả của chống tội phạm có hiệu quả là một trong các yếu tố góp phần phòng ngừa tội phạm.

Chống tội phạm vừa là bộ phận không thể thiếu của phòng ngừa tội phạm nhưng đồng thời cũng là mặt khác của phòng ngừa tội phạm. Phòng tội phạm và chống tội phạm là hai mặt không tách rời của thể thống nhất. Chống tội phạm tuy có vai trò quan trọng trong phòng ngừa tội phạm nhưng vai trò này chỉ có ý nghĩa khi đặt trong tổng thể các biện pháp phòng ngừa tội phạm nói chung. Chỉ trong tổng thể các biện pháp phòng ngừa tội phạm thì chống tội phạm mới có thể góp phần phòng ngừa tội phạm và được xem là một loại biện pháp phòng ngừa đặc biệt.

Tóm lại, chống tội phạm và phòng ngừa tội phạm tuy là hai hoạt động có tính độc lập tương đối nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Do vậy, chúng ta có thể nói ghép hai hoạt động với nhau là phòng, chống tội phạm.

2. Phòng ngừa tội phạm và kiểm soát tội phạm

Kiểm soát tội phạm là bộ phận của kiểm soát xã hội hay còn được gọi là kiểm soát xã hội theo pháp luật hình sự.(2) Do vậy, để hiểu được khái niệm kiểm soát tội phạm cần phải bắt đầu từ khái niệm kiểm soát xã hội.

Kiểm soát xã hội được hiểu là cơ chế điều chỉnh hành vi con người theo các chuẩn mực đã được xã hội xác lập để thiết lập và duy trì trật tự xã hội. Trong đó: Chuẩn mực xã hội là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với mỗi cá nhân hay nhóm xã hội. Chuẩn mực xã hội tạo ra “khuôn mẫu” cho hành vi con người và đòi hỏi mỗi thành viên xã hội phải tuân theo.

>> Xem thêm:  Phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm như thế nào ?

Đề đảm bảo sự tuân theo chuẩn mực xã hội cần phải sử dụng các biện pháp kiểm soát khác nhau. Trong đó có biện pháp kiểm soát theo hướng tạo điều kiện cho hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội (kiểm soát chủ động) và biện pháp kiểm soát theo hướng khuyến khích hành vi phù họp với chuẩn mực xã hội như khen thưởng hay tặng danh hiệu ... (kiểm soát phản ứng tích cực) hoặc kìm chế hành vi lệch chuẩn như áp dụng chế tài hành chính hay hình sự... (kiểm soát phản ứng tiêu cực).

Kiểm soát tội phạm là bộ phận kiểm soát phản ứng tiêu cực đối với hành vi lệch chuẩn là tội phạm của kiểm soát xã hội có mục đích khuôn hành vi theo các chuẩn mực xã hội trong lĩnh vực chuẩn mực xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Kiểm soát tội phạm được thực hiện thông qua việc quy định những hành vi vi phạm pháp luật là tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự các hành vi phạm tội và buộc chủ thể chấp hành chế tài hình sự.

Như vậy, kiểm soát tội phạm bao gồm hoạt động xây dựng pháp luật và hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hình sự.

Trong đó, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự là các hoạt động phát hiện, điều tra. truy tố, xét xử tội phạm và thi hành các hình phạt hoặc biện pháp xử lý hình sự khác đối với người phạm tội. Theo pháp luật Việt Nam, hoạt động thể hiện sự phản ứng xã hội đối với việc thực hiện tội phạm là do các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và các cơ quan, tổ thức tham gia thi hành án hình sự thực hiện (cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án, các cơ qùan thi hành án hình sự như trại giam, cơ quan và tổ chức được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án...).

Kiểm soát tội phạm với ý nghĩa là bộ phận của kiểm soát xã hội tuy có nội dung khác với phòng ngừa tội phạm nhưng có quan hệ chặt chẽ với hoạt động này. Kiểm soát tội phạm là hướng tới các tội phạm đã xảy ra, là sự phản ứng của xã hội đối với việc thực hiện tội phạm với nội dung buộc chủ thể thực hiện tội phạm phải chịu chế tài hình sự. Ở khía cạnh này, kiểm soát tội phạm và chống tội phạm có cùng nội dung. Kiểm soát tội phạm cũng có thể được coi là một nội dung đặc biệt của phòng ngừa tội phạm. Kiểm soát tội phạm không chỉ trực tiếp ngăn chặn không cho người phạm tội tiếp tục phạm tội cũng như nhằm điều chỉnh hành vi trong tương lai của họ cho phù hợp với các chuẩn mực pháp luật mà còn có tác động răn đe, giáo dục đối với những người có nguy cơ phạm tội và đối với các thành viên khác nói chung trong xã hội. Như vậy, kiểm soát tội phạm không chỉ có tác dụng phòng ngừa riêng đối với người phạm tội mà còn có tác dụng phòng ngừa chung. Hiệu quả của kiểm soát tội phạm phụ thuộc vào hiệu quả của từng yếu tố hợp thành như hiệu quả của pháp luật hình sự, hiệu quả của hình phạt, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và cơ quan, tổ chức thi hành án...

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)

>> Xem thêm:  Tình hình tội phạm là gì ? Đặc điểm, ý nghĩa khi nghiên cứu tình hình tội phạm

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong phòng ngừa tội phạm ?

Trả lời:

Về công tác phòng ngừa tội phạm, Đảng cộng sản Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng, Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chỉ đạo công tác phòng, chống tội phạm, xác định công tác này là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên cấp thiết; đề ra các nghị quyết, chương trình để thực hiện có hiệu quả các chủ trương, kế hoạch phòng, chống tội phạm

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ giữa công tác phòng, chống tội phạm với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội.

- Thường xuyên tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tội phạm để mỗi người thấy được quyền lợi, nghĩa vụ, tích cực tham gia công tác này.

- Tập trung điều tra, khám phá, xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm, nhất là tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về tham nhũng, tội phạm có tổ chức, các loại tội phạm về ma túy, mua bán người, lừa đảo chiếm đoạt lớn tài sản nhà nước.

(Chỉ thị 48-CT/TW công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới của Ban chấp hành TW Đảng ngày 22/10/2010)

Câu hỏi: Vai trò của các tổ chức xã hội trong phòng ngừa tội phạm ?

Trả lời:

Các tổ chức xã hội tuy không được nhắc đến trong các điều luật cụ thể, nhưng thông qua các quy định cụ thể có thể thấy vai trò của họ xuất hiện trong đó.

Ví dụ: trong quyết định hình phạt Án treo, cải tạo không giam giữ,… thì các tổ chức xã hội như hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên góp phần tích cực giúp người phạm tội sớm hòa nhập tại cộng đồng,…

Các tổ chức đoàn thể trên giữ vị trí vô cùng quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, cụ thể:

Phối hợp, hỗ trợ chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn soạn thảo, tham gia kế hoạch phòng ngừa tội phạm.

Tuyên truyền cho hội viên thấy được tính chất, thủ đoạn hoạt động của tội phạm nâng cao ý thức cảnh giác.

Trực tiếp huy động các hội viên tham gia chương trình phòng chống tội phạm nói chung của Chính phủ trong phạm vi địa phương, nội bộ hiệp hội của mình.

Câu hỏi: Vai trò của các cơ quan hành chính của nhà nước trong phòng ngừa tội phạm ?

Trả lời:

Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp khác nhau của Nhà nước, xã hội nhằm khắc phục, hạn chế và loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm để ngăn chặn và kiểm soát nó trong xã hội. Chủ thể của phòng ngừa tội phạm cụ thể ở đây là cơ quan hành chính nhà nước.

Vai trò của các cơ quan hành chính của nhà nước trong phòng ngừa tội phạm thể hiện rõ nét nhất là qua công tác thanh tra, kiểm tra ở các lĩnh vực quản lý hành chính để phát hiện vi phạm, nếu có dấu hiệu tội phạm thì sẽ kiến nghị khởi tố đến cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát để giải quyết hình sự. Ở đây có sự phối hợp giữa cơ quan tố tụng hình sự và cơ quan hành chính trong việc phát hiện và xử lý tội phạm, từ đó nhằm trừng phạt, răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Câu hỏi: Khái niệm, điều kiện của tội phạm ?

Trả lời:

Khái niệm Tội phạm trong Tội phạm học: Tội phạm là hiện tượng xă hội tồn tại trong mọi quốc gia, được phản ánh trong luật hình sự vì trái với chuẩn mực xă hội ở mức cao nhất so với các hiện tượng lệch chuẩn khác. Nó là hiện tượng xă hội-pháp lý.

Điều kiện của tội phạm là Những yếu tố làm cho tội phạm nảy sinh và nảy sinh trở lại, tiếp tục tồn tại hoặc phát triển, làm cho tội phạm ngày càng phổ biến, nghiêm trọng. Các điều kiện đó thường là: pháp chế, kỉ cương không nghiêm; công tác kiểm tra, giám sát, kiểm kê, kiểm sát không nhạy bén, kém hiệu lực; môi trường đạo đức nhân văn sa sút; chế độ trách nhiệm cá nhân không rõ ràng, thưởng phạt thiếu nghiêm minh …

Câu hỏi: Những cơ sở khoa học của việc tổ chức phòng ngừa tội phạm ?

Trả lời:

+ Phòng ngừa tội phạm phải đảm bảo tính hệ thống ở đây tức là không chỉ cơ quan có chức nhân mà toàn dân các tổ chức khác cũng tham vào quá trình phòng ngừa tội phạm.

+ Phòng ngừa tội phạm phải đảm bảo tính toàn diện: tính toàn diện ở đây tức là phòng ngừa tội phạm phải phòng ngừa trên mọi lĩnh vực chính trị – tư tưởng, kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục, pháp luật, quản lý Nhà nước, và đối với tất cả các loại tp.

+ Phòng ngừa tội phạm phải đảm bảo tính khoa học tức là nó phải phù hợp với những giải pháp của ngành khoa học tội phạm học

+ Phòng ngừa tội phạm phải đảm bảo tính khả thi đối với biện pháp được áp dụng: Phù hợp với thực tế, tình hình kinh tế xã hội của đất nước …