Tăng giảm cỡ chữ:

Phân biệt thời hạn và thời hiệu theo quy định mới nhất của bộ luật dân sự năm 2015 ?

Luật Minh Khuê hướng dẫn cách phân biệt thời hạn và thời hiệu. Các tiêu chí về sự khác nhau giữa thời hạn và thời hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.

Tiêu chí

Thời hạn Thời hiệu
Khái niệm Điều 144 Bộ luật dân sự 2015: “Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác.” Điều 149 Bộ luật dân sự 2015: “Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.”
Đơn vị tính Bất kỳ đơn vị nào (ngày, tháng, năm...) hoặc một sự kiện có thể xảy ra. Năm
Điểm bắt đầu và kết thúc

Ngày bắt đầu của thời hạn không tính vào thời hạn

Ví dụ: thời hạn từ ngày 1/1/2014 đến 1/1/2015 thì điểm bắt đầu tính từ 0h ngày 2/1/2014 đến 1/1/2015.

Ngày bắt đầu của thời hiệu có tính vào thời hiệu.

Điều 156 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu”.

Vấn đề gia hạn Thời hạn đã hết có thể gia hạn, kéo dài thời hạn. Thời hiệu hết thì không được gia hạn, không được rút ngắn hoặc kéo dài( do thời hạn do pháp luật quy định).
Hậu quả pháp lý khi hết thời gian Chủ thể tham gia giao dịch dân sự đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi nào đó. Không phải gánh chịu hậu quả pháp lý.
Phân loại

Dựa vào chủ thể quy định có 3 loại:

+ Thời hạn do luật định

+ Thời hạn thỏa thuận theo ý chí của các bên

+ Thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định khi xem xét, giải quyết các vụ việc cụ thể.

Bao gồm 4 loại:

+ Thời hiệu hưởng quyền dân sự

+ Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự

+ Thời hiệu khởi kiện

+Thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự

Cách tính thời hạn theo quy định pháp luật

Cách thức tính thời hạn chính là những cách thức, phương pháp để tính thời hạn trong khoảng thời gian xác định điểm bắt đầu và điểm kết thúc. Nguyên tắc để tính thời hạn thường được ghi nhận theo nguyên tắc tuân theo quy định của luật hoặc theo thoả thuận các bên. Tinh thần này tiếp tục được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự hiện hành, cụ thể tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Cách tính thời hạn được áp đụng theo quy định của Bộ ỉuật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Như vậy, cách tính thời hạn được áp dụng theo các căn cứ sau đây:

Cách tính thời hạn được áp dụng theo thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ. Luật ghi nhận sự thỏa thuận của các bên chủ thể trong quan hệ dân sự, trong đó bao gồm cả thời hạn. Những loại thời hạn phổ biến mà các chủ thể có quyền thoả thuận như thời hạn thực hiện hợp đồng, thời hạn thực hiện nghĩa vụ, thậm chí thời hạn thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, đối với các trường hợp luật quy định bắt buộc cách tính thời hạn mà không cho phép thỏa thuận thì các bên cần tuân theo. Điển hình như các thời hạn thực hiện các thủ tục mà luật định như thời hạn thực hiện thủ tục hành chính, thời hạn thực hiện việc đăng ký khai sinh...

Thứ tự để xác định thời hạn bao gồm:

Trước hết, nếu như pháp luật có quy định riêng về cách tính thời hạn thì phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, đặc biệt là tại các luật khác có liên quan;

Thứ hai, thời hạn được tính theo sự thoả thuận của các bên. Các bên có quyền thoả thuận cách tính thời hạn theo nhu cầu, mục đích của mình nếu trong các trường hợp pháp luật không có quy định riêng rẽ;

Thứ ba, nếu như pháp luật không có quy định và bản thân các chủ thể không có thoả thuận cách tính riêng biệt thì thời hạn được tính theo quy định luật hiện hành, cụ thể là trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nguyên tắc chung, thời hạn phải được tính theo dương lịch (Năm dương lịch: Thời gian Trái Đất quay một vòng xung quanh mặt trời được gọi là dương lịch. Theo các nhà khoa học thì vòng quay ây kéo dài 365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây nhưng đê tiện cho việc tính toán người ta lây chăn 365 ngày. Hiện nay, dương lịch là lịch chính thức được dùng ở hâu hết ở các nước phương tây như: Anh, Mỹ, Pháp, Đức), tức là lịch được xây dựng, xác định theo chu kỳ của Mặt Trời. Tuy nhiên, Việt Nam và một số nước Á Đông như Trung Quốc, Nhật Bản... còn tồn tại một lịch được xây dựng dựa trên chu kỳ của Mặt Trăng, còn được gọi là âm lịch (Năm âm lịch:Chu kì tròn khuyết của Mặt Trăng là cơ sở để hình thành nên lịch âm. Người xưa đã phát hiện ra mặt trăng tròn khuyết có quy luật, trung bình cứ 29,53 ngày sẽ tròn khuyết một lần và khoảng thời gian đó được gọi là tháng. Để tiện cho việc tính toán thì người ta quy định tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày. Do một năm có 12 lần trăng tròn khuyết nên một năm sẽ có 354 hoãc 355 ngày. Theo các nhà khảo cô học, âm lịch đã xuât hiện ở Trung Quốc và Ai Cập từ thời cổ đại và đây cũng chính là hai nước đầu tiên áp dụng lịch âm vào đời sống). Với văn hoá hàng ngàn năm trong việc áp dụng năm âm lịch nên nhiều chủ thể thoả thuận cách tính thời hạn theo âm lịch. Sụ thoả thuận này nếu không rơi vào trường hợp pháp luật đã quy định riêng thì vẫn có hiệu lực như cách tính theo dương lịch. Tức là được pháp luật bảo hộ, công nhận và đảm bảo thực thi. Tuy nhiên, để đảm bảo sự thống nhất chung thì Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định nguyên tắc chung tính thời hạn theo dương lịch. Điều này được thể hiện tại Khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Cách tính thời hạn được xác định theo dương lịch.

>> Xem thêm: Thời hạn sử dụng đất là gì ? Quy định về thời hạn sử dụng đất

Thời điểm bắt đầu thời hạn được xác định:

1) Khi thời hạn được tính bằng giờ thì thời hạn được bắt đầu kể từ thời điểm đã xác định;

2) Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì thời điểm bắt đầu thời hạn được tính kể từ ngày tiếp theo của ngày được xác định;

3) Khi thời hạn được tính bằng sự kiện thì thời hạn tính từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện.

Thời điểm kết thúc thời hạn được xác định:

1) Khi thời hạn được tính bằng ngày thì thời điểm kết thúc thời hạn là ngày cuối cùng của thời hạn;

2) Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì thời điểm kết thúc thời hạn là thời điểm kết thúc tuần, tháng, năm cuối cùng của thời hạn;

3) Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày chủ nhật hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó. Thời điểm kết thúc ngày của thời hạn là 24 giờ của ngày đó.

Thời hiệu là gì? Các loại thời hiệu theo quy định của pháp luật.

  • Đặng Thị Huyền
  • 24/04/2021
  • Tư vấn luật dân sự
  • 503

Định nghĩa thời hiệu; Thời hiệu và thời hạn khác gì nhau? Cách tính thời hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự? Thời hiệu gồm những loại nào? Khi nào thì áp dụng thời hiệu? Các bên đương sự có quyền từ chối áp dụng thời hiệu không?

1. Thời hiệu là gì?

Thời hiệu là khoảng thời gian thời gian do luật quy định được xác định từ thời điểm bắt đầu đên thời điểm kết thúc mà khi kết thúc khoảng thời gian đó thì phát sinh một hậu quả pháp lý nhất định đối với chủ thể. Hậu quả pháp lý của thời hiệu có thể là chủ thể được hưởng một quyền dân sự; được miễn việc thực hiện nghĩa vụ dân sự; mất quyền khởi kiện vụ án dân sự; mất quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự.

Theo khoản 1 Điều 149 Bộ luật dân sự 2015:

Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.

Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.

Thời hiệu đóng một vai trò quan trọng trong việc ổn định các quan hệ dân sự. Nếu không quy định thời hiệu, mỗi chủ thể tham gia vào quan hộ dân sự luôn bị đe dọa bởi tranh chấp có thể xảy ra, làm ảnh hưởng đến quyền lợi và đời sống của họ. Hơn nữa các căn cứ phát sinh quan hệ dân sự do thời gian làm cho quá trình chứng minh phức tạp. Khi giải quyết các tranh chấp dân sự, Toà án cần phải tiến hành điều tra thu thập chứng cứ để xác định sự thật khách quan nên nếu thời gian đã qua đi quá lâu, quá trình thu thập chứng cứ khó bảo đảm chính xác.

2. So sánh thời hạn và thời hiệu

Thời hiệu và thời hạn là hai thuật ngữ pháp lí hay bị nhầm lẫn với nhau nên việc phân biệt hai thuật ngữ này là khá quan trọng.

Tại Điệu 149 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về thời hiệu như sau:

Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.

Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.

Theo Điều 144 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 144. Thời hạn

1. Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác.

2. Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.

Như vậy có thể thấy thời hiệu khác thời hạn ở những điểm cơ bản sau:

- Đơn vị tính:

>> Xem thêm: Các loại thời hiệu theo quy định của luật dân sự hiện nay ?

Thời hạn: bất kỳ đơn vị nào (ngày, tháng, năm…) hoặc một sự kiện có thể xảy ra.

Thời hiệu: năm

- Điểm bắt đầu và kết thúc:

Thời hạn: Ngày băt đầu của thời hạn không tính vào thời hạn

Thời hiệu: Ngày bắt đầu của thời hiệu có tính vào thời hiệu.

- Gia hạn:

Thời hạn: thời hạn đã hết có thể gia hạn, kéo dài thời hạn.

Thời hiệu: thời hiệu hết thì không được gia hạn, không được rút ngắn hoặc kéo dài( do thời hạn do pháp luật quy định).

- Hậu quả pháp lí:

Thời hạn: chủ thể tham gia giao dịch dân sự đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi nào đó.

>> Xem thêm: Thời hiệu là gì ? Ý nghĩa quy định về thời hiệu là gì ? Cách phân loại thời hiệu ?

Thời hiệu: không phải gánh chịu hậu quả pháp lý.

- Phân loại:

Thời hạn: Dựa vào chủ thể quy định có 3 loại: Thời hạn do luật định; Thời hạn thỏa thuận theo ý chí của các bên; Thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định khi xem xét, giải quyết các vụ việc cụ thể.

– Thời hiệu: Bao gồm 4 loại: Thời hiệu hưởng quyền dân sự; Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự; Thời hiệu khởi kiện; Thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự.

3. Khi nào thì áp dụng thời hiệu?

Khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự 2015 có quy định như sau:

Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc.

Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.

Như vậy, có thể thấy nếu các bên đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu thì Tòa án sẽ không xem xét đến vấn đề thời hiệu. Khi một chủ thế yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu thì yêu cầu phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc.

Tuy nhiên, trong trường hợp người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu từ chối áp dụng thời hiệu thì Tòa án sẽ không áp dụng thời hiệu.

So với Bộ luật dân sự trước đây, quy định về thời hiệu trong Bộ luật dân sự năm 2015 có một số điểm mới như sau:

Thứ nhất, việc kết thúc thời hiệu chỉ dẫn đến những hậu quả pháp lý nếu có những điều kiện do luật quy định.

>> Xem thêm: Pháp luật hiện hành quy định về đặt cọc mua bán nhà ? Tư vấn mua bán nhà chung cư ?

Thứ hai, thời hiệu có thể được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc luật khác có liên quan.

Thứ ba, một hoặc các bên có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu nhưng yêu cầu áp dụng thời hiệu phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

5 sao của 1 đánh giá
Liên hệ Luật Minh Khuê

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Cảm ơn bạn đã nhận xét!

Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày

Dịch vụ nổi bật