1. Quy định chung của pháp luật về thời hiệu

Thời hiệu là là một phạm trù pháp lý được ghi nhận thành một chế định trong Bộ luật Dân sự. Có quan điểm cho rằng, thời hiệu cũng như thời hạn, có nguồn gốc sâu xa từ quy luật "‘'sinh, lão, bệnh, tử” - tức là bất kỳ điều gì với hành vi hay đời sống con người đều có hạn định về mặt thời gian. Pháp luật ghi nhận thời hiệu cho thấy, Nhà nước mong muốn đảm bảo sự ổn định trong giao dịch dân sự nhất định, tức là các chủ thể sẽ được phép ứng xử trong một khoảng thời gian nhất định để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Hơn nữa, khi hết một khoảng thời gian nhất định, nếu các chủ thể không có bất kỳ ý kiến thể hiện thông qua hành vi của mình thì cho thấy về mặt ý chí, các chủ thể không có sự phản đối.

Theo các công trình còn lưu lại, thời hiệu trong pháp luật cổ cũng có sự ghi nhận. Điển hình như thời Lý - Trần có ghi nhận thời hiệu cho việc kiện tụng và chuộc lại đất như sau:

“5 hay 10 năm”, nếu ruộng bỏ hoang thì thời hiệu là 1 năm”...

Sau đó, trong Luật Gia Long hay đặc biệt luật dưới thời phong kiến Pháp thuộc đều có ghi nhận những khoảng thời gian có tính chất tương đương. Tức là, khi các khoảng thời gian nhất định mà hết, các chủ thể có thể được hưởng quyền nhất định hoặc chấm dứt một nghĩa vụ hoặc mất quyền khởi kiện.

Tựu chung lại, thời hiệu là một khoảng thời gian mà cho thấy một số đặc điểm riêng biệt:

Thứ nhất, đây là một khoảng thời gian mà nhà làm luật ấn định và ghi nhận trong các quy phạm pháp luật. Điều đó cho thấy, không tồn tại sự thoả thuận để có thể xác định thời hiệu ở đây. Nói một cách khác, các chủ thể trong các quan hệ dân sự sẽ không có quyền để thoả thuận về thời hiệu. Thời hiệu là một khoảng thời gian có điểm bắt đầu và điểm kết thúc. Điểm bắt đầu có thể theo một mốc tính bởi đơn vị thời gian hoặc theo một mốc xảy ra sự kiện. Điểm kết thúc cũng có thể theo cách thức xác định này. Nhà làm luật ghi nhận các mốc này trong các quy phạm pháp luật.

Thứ hai, khi khoảng thời gian mà luật định kết thúc sẽ làm xuất hiện các hậu quả pháp lý nhất định. Tức là, hết khoảng thời gian này, nhà làm luật ghi nhận những hậu quả pháp lý liên quan trực tiếp tới quyền, nghĩa vụ nhất định của các chủ thể. Đây là đặc điểm đặc trưng so sánh với các khoảng thời gian khác mà không phải là thời hiệu. Những hậu quả pháp lý thường thấy như làm phát sinh quyền cho các chủ thể, chấm dứt nghĩa vụ cho các chủ thể hoặc mất quyền khởi kiện giải quyết vụ án dân sự hoặc mất quyền yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự.

Thừa nhận những điểm đặc trưng mang tính bản chất của thời hiệu này nên ngay trong Bộ luật Dân sự hiện hành ghi nhận khái niệm thời hiệu như sau:

“Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định” (Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Trong khuôn khổ của khoảng thời gian đó, chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc khi kết thúc khoảng thời gian đó thì chủ thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, được miễn chấp hành bản án hoặc mất quyền khởi kiện. Thời hiệu được phân loại theo hiệu quả pháp lí phát sinh.

Thời hiệu được chia làm 5 loại cụ thể:

>> Xem thêm:  Các loại thời hiệu theo quy định của luật dân sự hiện nay ?

1) Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: không truy cứu trách nhiệm hình sự nếu tính từ ngày phạm tội đã qua những thời hạn: 5 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ 2 năm tù trở xuống hoặc hình phạt khác nhẹ hơn; 10 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm; 15 năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

2) Thời hiệu thi hành bản án hình sự: không buộc người bị kết án phải chấp hành bản án, nếu tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đã qua những thời hạn: 5 năm đối với các trường hợp xử phạt từ năm năm tù trở xuống; 10 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên năm năm đến mười lăm năm; 15 năm đối với trường hợp xử phạt tù từ trên mười lăm năm đến hai mươi năm;

3) Thời hiệu hưởng quyền dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự;

4) Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự là thời hạn mà khi kết thúc nó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn thực hiện nghĩa vụ đó;

5) Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện, nếu thời hiệu đó kết thúc thì chủ thể mất quyền khởi kiện. Tuy nhiên, riêng đối với thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không áp dụng đối với các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

2. Khái niệm và ý nghĩa của thời hiệu ?

Trong giao lưu dân sự chủ thể tham gia quan hệ dân sự được hưởng các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Sự ổn định của các quan hệ dân sự là một trong những mục đích điều chỉnh của pháp luật dân sự. Mặt khác, đổi tượng của giao lưu dân sự chủ yếu là tài sản để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh, cho nên tài sản luôn có sự biến đổi về hình thức và tính năng, tác dụng, do vậy cùng với sự thay đổi về thời gian thì tài sản có thể không còn tồn tại. Khi có hành vi vi phạm đến quyền tài sản của mình, người khởi kiện phải chứng minh nguồn gốc tài sản, loại tài sản, hình thức của tài sản... tuy nhiên, với thời gian càng lâu thì việc chứng minh càng gặp khó khăn và nhiều trường hợp không thể chứng minh được. Do vậy, pháp luật quy định một thời hạn nhất định cho sự phát sinh, tồn tại hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, thời hạn này được gọi là thời hiệu.

Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định (Điều 149 BLDS năm 2015). Như vậy, thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định, các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự không thể thoả thuận để kéo dài hoặc rút ngắn thời hạn này.

Thời hiệu đóng vai trò quan ttọng trong việc ổn định các quan hệ dân sự. Nếu không quy định thời hiệu, mỗi chủ thể tham gia vào quan hệ dân sụ luôn bị đe doạ bởi tranh chấp có thể xảy ra, làm ảnh hưởng đến quyền lợi và đời sổng của họ. Hơn nữa, thời gian làm cho quá trình chứng minh các căn cứ phát sinh quan hệ dân sự trở nên phức tạp. Khi giải quyết các tranh chấp dân sự, toà án cần phải tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ để xác định sự thật khách quan nên nểu thời gian đã qua đi quá lâu, quá trình thu thập chứng cứ khó bảo đảm chính xác (giải quyết các tranh chấp về thừa kể mở trước ngày 10/9/1990 - ngày Pháp lệnh thừa kể có hiệu lực pháp luật là những ví dụ thực tế xác định khó khăn này). Đối với các tổ chức, việc quy định thời hiệu buộc các đơn vị này phải kiểm soát và có trách nhiệm trong mọi hoạt động, trong sản xuất kinh doanh, bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể, của Nhà nước.

>> Xem thêm:  Thời hiệu khởi kiện vụ án là gì ? Thời hiệu khởi kiện, thời hạn yêu cầu giải quyết vụ án là bao lâu ?

3. Nguyên tắc áp dụng thời hiệu

Thời hiệu là thời hạn do luật định nên đương nhiên phải được áp dụng theo đúng nguyên tắc mà nhà làm luật yêu cầu. Những nguyên tắc được ghi nhận hiện nay bao gồm:

Thứ nhất, nguyên tắc chung áp dụng thời hiệu là tuân thủ nghiêm túc các quy định trong Bộ luật Dân sự hiện hành cũng như các luật khác có liên quan. Mỗi lĩnh vực có đặc thù riêng nên có thể sẽ được Nhà nước điều chỉnh bằng một luật riêng nhất định và mỗi luật này có thể sẽ có các quy định về thời hạn riêng. Theo đó, nếu trong mỗi luật khác có liên quan đã ghi nhận về thời hiệu thì ưu tiên áp dụng loại thời hiệu này. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định thì áp dụng theo thời hiệu ghi nhận trong Bộ luật Dân sự. Nguyên tắc này được cụ thể hoá trong luật hiện hành là Khoản 1 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, nguyên tắc mang tính ưu tiên bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể khi áp dụng thời hiệu. Nguyên tắc này có ý nghĩa rất lớn vì trong nhiều trường hợp, khi hết thời hiệu thì về nguyên tắc chung sẽ làm phát sinh hậu quả pháp lý nhất định. Ví dụ trường hợp hết thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ án dân sự, về nguyên tắc chủ thể đã mất quyền khởi kiện nhưng nếu cả nguyên đơn và bị đơn đều không yêu cầu áp dụng thời hiệu thì Toà án sẽ không coi là hết hạn mà vẫn giải quyết như vụ việc vẫn còn hạn khởi kiện. Nội hàm nguyên tắc này được thể hiện qua các nội dung:

Một là, toà án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Toà án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Như vậy, nếu hết thời hạn thời kiện mà các bên không yêu cầu thì Toà án cấp sơ thẩm vẫn giải quyết như vụ án thông thường. Đặc biệt, nếu sau khi Toà án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định đối với vụ việc mà mới yêu cầu áp dụng thời hiệu thì cũng không giải quyết theo yêu cầu vụ việc này. Ví dụ như: Thời hiệu để các chủ nợ (người có quyền yêu cầu thanh toán nợ) yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản là 03 năm kể từ ngày người để lại di sản chết. Khi hết thời hiệu 03 năm này mà chủ nợ mới khởi kiện ra Toà án yêu cầu người thừa kế thanh toán mà người thừa kế không yêu cầu áp dụng thời hiệu thì Toà án vẫn giải quyết như bình thường.

Hoặc vẫn cùng trường hợp này, sau khi Toà án cấp sơ thẩm ra bản án rồi mà người thừa kế mới có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện thì Toà án sẽ từ chối, không áp dụng quy định về thời hiệu để giải quyết vụ án nữa.

Hai là, khi có yêu cầu áp dụng thời hiệu mà người được hưởng lợi từ chối áp dụng thì Toà án cũng không áp dụng nữa mà vẫn xét xử giải quyết như bình thường. Ví dụ như, khi hết 06 tháng kể từ thời điểm người chiếm hữu hợp pháp đối với con gia súc đi lạc, người chiếm hữu hợp pháp trở thành chủ sở hữu mới của con gia súc đi lạc này. Tuy nhiên, người chiếm hữu hợp pháp từ chối áp dụng thời hiệu này để không trở thành chủ sở hữu của con gia súc đi lạc. Trường hợp này pháp luật cho phép người chiếm hữu hợp pháp có được quyền này. Tuy vậy, nhà làm luật giới hạn là nếu vì trốn tránh thực hiện nghĩa vụ vì bản thân người chiêm hữu hợp pháp đang buộc phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ và từ chối trở thành chủ sở hữu con gia súc vì muốn trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ này thì nhà làm luật không cho phép.

Ghi nhận hai nguyên tắc này, nhà làm luật cũng đã cụ thể hoá trong khoản 1 và khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Phân tích cách phân loại thời hiệu hiện nay

Căn cứ vào quy định tại Điều 150 BLDS thời hiệu gồm ba loại: thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu khởi kiện. Xét về tổng thể thì các loại thời hiệu này có mối liên quan với nhau bởi quyền của một chủ thể bao giờ cũng tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể khác. Hơn nữa, một ttong những quyền năng của chủ thể có quyền là quyền yêu cầu chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của họ. Do vậy, nếu một chủ thể mất quyền khởi kiện thì nghĩa vụ chấm dứt.

* Thời hiệu hưởng quyền dân sự: Là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó, chủ thể được hường quyền dân sự (khoản 1 Điều 150 BLDS năm 2015). Ở đây, thời hiệu là một sự kiện

pháp lí làm phát sinh quyền dân sự cho chủ thể nhưng không phải bất cứ quyền dân sự nào cũng có thể được xác lập theo thời hiệu mà chỉ trong những trường hợp được pháp luật quy định. Ví dụ: Điều 230 BLDS năm 2015 quy định thòi hiệu làm phát sinh quyền sở hữu tài sản của người chỉếm hữu do người khác đánh roi, bỏ quên là 1 năm.

* Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự: Là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn việc thực hiện nghĩa vụ (khoản 2 Điều 150 BLDS năm 2015).

Khác với thời hiệu hưởng quyền dân sự cho phép chủ thể hưởng quyền khi kết thúc thời hạn luật định thì trong thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự, người có nghĩa vụ được miễn trừ nghĩa vụ tương ứng với thời điểm kết thúc thời hạn. Khi một chủ thể tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó (nghĩa vụ tồn tại độc lập với các trái vụ) thì họ phải thực hiện nghĩa vụ trong thời hạn do pháp luật quy định. Nếu hết thời hiệu thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ chấm dứt.

Xuất phát từ đặc điểm của pháp luật về thời hiệu, từ đặc điểm của các quyền nhân thân không gắn với tài sản của cá nhân, tổ chức, pháp luật quy định thời hiệu hưởng quyền dân sự không được áp dụng đối với trường hợp chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu toàn dân không có căn cứ pháp luật và các quyền nhân thân không gắn với tài sản.

* Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện (khoản 3 Điều 150 BLDS năm 2015). Tuy nhiên, nếu các bên không yêu cầu toà án áp dụng thời hiệu thì toà án tiếp tục công nhận quyền và nghĩa vụ của các bên (khoản 2 Điều 149 BLDS năm 2015).

Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thòi hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu toà án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu (khoản 4 Điều 150 BLDS năm 2015).

Trong quan hệ dân sự, người có nghĩa vụ phải tự nguyện thực hiện nghĩa vụ đối với người có quyền. Người có quyền có thể yêu cầu toà án buộc người có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ của họ thông qua các biện pháp cưỡng ché phù hợp với quy định của luật tố tụng dân sự. Quyền yêu cầu toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình chỉ được thực hiện trong thời hạn xác định khi các quyền này bị xâm phạm. Kết thúc thời hạn đó mà chủ thể không thực hiện quyền khởi kiện thì bị mẩt quyền khởi kiện (trừ khoản 2 Điều 149 BLDS năm 2015).

Bộ luật dân sự không quy định thời hiệu khởi kiện chung cho các quan hệ dân sự mà chỉ xác định các nguyên tắc chung nhất về thời hiệu khởi kiện. Bộ luật chỉ quy định thời hiệu khỏi kiện cho từng trường hợp riêng biệt. Ví dụ: Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm đối với động sản và ba mươi năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế (Điều 623 BLDS năm 2015), thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 2 năm

(khoản 1 Điều 132 BLDS năm 2015) và có những trường hợp thời hiệu khởi kiện không bị hạn chế (khoản 3 Điều 132 BLDS năm 2015).

5. Cách tính thời hiệu theo luật dân sự

Cũng giống như thời hạn, thời hiệu được xác định theo cách thức cụ thể sau:

Thời điểm bắt đầu của thời hiệu sẽ là ngày đầu tiên của thời hiệu. Nếu thời hiệu được tính bằng đơn vị ngày thì ngày bắt đầu thời hiệu chính là ngày được ấn định thời hiệu. Ví dụ như: thời hiệu khởi kiện yêu cầu thanh toán nghĩa vụ tài sản của người có quyền tài sản với người để lại di sản tính từ ngày người để lại di sản chết. Như vậy, ngày bắt đầu tính thời hiệu là ngày người để lại di sản chết. Như vậy, dù thời hiệu tính theo đơn vị tuần, tháng hay năm thì thời điểm bắt đầu đều được tính theo đơn vị ngày và là ngày đầu tiên của thời hiệu.

Thời điểm kết thúc thời hiệu là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu. Ví dụ như, thời hiệu là 06 (sáu) tháng thì thời điểm kết thúc là kết thúc ngày thứ 30 cuối cùng của tháng thứ sáu của khoảng thời gian này. Ghi nhận cách tính cụ thể này, Bộ luật Dân sự hiện hành đã quy định cụ thể tại Điều 151 của Bộ luật.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự về thời hiệu, thời hạn ... cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê