1. Phân chia di sản thừa kế theo luật dân sự ?

Xin chào Luật sư ! Ông bà nội có cho ba em một mảnh đất khi chưa lấy vợ 2. Khi ba em lấy vợ 2, em bị đuổi ra khỏi nhà, từ đó em không về nhà nữa. Năm nay em 29 tuổi, ba em có 2 người con với vợ 2. Như vậy em có được hưởng quyền thừa kế tài sản không ?
Mong Luật sư tư vấn giúp em!

Luật sư tư vấn:

Việc hưởng di sản do ba bạn để lại áp dụng theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định :

Trường hợp ba bạn có để lại di chúc , thì chia thừa kế theo di chúc:

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo quy định tại Điều 659 Bộ luật dân sự 2015 về phân chia di sản theo di chúc được thực hiện như sau:

Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.”

Về nguyên tắc, di sản thừa kế sẽ được phân chia theo ý chí của người để lại di chúc, trừ trường hợp quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự 2015:

“Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”

Do đó, trong trường hợp người lập di chúc không cho con chưa thành niên, cha,mẹ, vợ chồng hoặc con thành niên mà không có khả năng lao động hưởng phần di sản hoặc cho những người này hưởng ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật thì họ vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Ở đây nếu ba bạn lập di chúc mà không cho bạn hưởng phần di sản này thì bạn cũng không năm trong trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nên bạn sẽ không được chia.

Trường hợp thứ hai khi ba bạn mất không để lại di chúc thì phần di sản đó sẽ được chia thừa kế theo pháp luật:

Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Theo Điều 650 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật bao gồm:

“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây theo Điều 651 Bộ Luật Dân sự 2015 :

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy nếu ba bạn mất đi không để lại di chúc thì bạn vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên khi yêu cầu phân chia di sản bạn vẫn được hưởng 1 phần di sản mà ba bạn để lại.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Hướng dẫn cách phân chia di sản thừa kế do ông bà để lại ?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê. Hiện nay gia đình đang ở nhà là do ông bà để lại, ông bà mất không để lại di chúc. Ông bà có 4 người con trai và một người con gái. Một người con trai thì đã qua đời( nhưng vẫn còn vợ và con cái).
Như vậy nhờ Luật sư tư vấn giúp tôi là nếu bán ngôi nhà thì tài sản sẽ được chia như thế nào ạ ?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.
Người gửi: N.T

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai trực tuyến: 1900.6162

Trả lời:

Theo như nội dung thư mà bạn yêu cầu, ông bà không có lập di chúc. Ông bà có 4 người con trai và 1 người con gái. 1 người con trai đã qua đời (nhưng vẫn có vợ và con). Vì bạn không nêu rõ là ông bà bạn mất từ thời điểm nào vì thế nếu còn thời hiệu khởi kiện về thừa kế, bạn có thể khởi kiện yêu cầu tòa án chia thừa kế. Nếu đã hết thời hiệu khởi kiện, bạn có thể yêu cầu Tòa án tiến hành chia tài sản chung theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

Những tranh chấp sau thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện:

– Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là tranh chấp ai có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó.

– Tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu là tranh chấp về tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình nhưng do người khác quản lý, chiếm hữu tài sản đó.

– Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai là tranh chấp ai có quyền sử dụng đất đó.

Trong trường hợp này, vì không có di chúc nên di sản thừa kế của ông bà bạn sẽ được chia theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, di sản của ông bà bạn (số tiền bán căn nhà) để lại sẽ được chia cho các con của ông bà với những phần di sản bằng nhau. Với trường hợp người con đã chết của ông bà bạn, vì bạn chưa nêu rõ người con này có chết trước hay chết cùng thời điểm với ông bà bạn hay không vì thế sẽ có các trường hợp sau đây xảy ra:

Trường hợp 1: người con này có chết trước hay chết cùng thời điểm với ông bà bạn thì con của người này sẽ tiến hành thừa kế thế vị theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015:

Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Trường hợp 2: người con này chết sau thời điểm mở thừa kế của ông bà bạn thì người con này vẫn được hưởng di sản thừa kế như những người thừa kế khác của ông bà bạn.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài luật sư tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Cách chia di sản thừa kế theo pháp luật ?

Thưa Luật sư, em có một câu hỏi mong Luật sư giải đáp như sau: Em A (15 tuổi) đạt được giải thể thao và được thưởng 5000 đô la Mỹ. Nhưng em A bị mắc bệnh hiểm nghèo và em A đã lập di chúc để lại toàn bộ số tiền thưởng cho quỹ từ thiện cho bệnh nhân ung thư. Di chúc này được lập thành văn bản và có 2 người làm chứng.

Di sản thừa kế của A sẽ được chia thế nào biết ngoài tiền thưởng 5000 đô la, A còn có tài sản khác khoảng 50 triệu đồng. A có 2 em trai ruột, ba mẹ ruột và ông bà ngoại, ông bà nội ruột ? Vậy di sản thừa kế của A sẽ được chia như thế nào?

Luật sư có thể tư vấn giúp em được không ạ. Em xin chân thành cảm ơn !

Cách chia di sản thừa kế theo pháp luật ?

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về thừa kế, gọi:1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di chúc bằng văn bản có người làm chứng như sau:

Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì di chúc của A có 2 người làm chứng, tức là đã thỏa mãn điều kiện về hình thức di chúc bằng văn bản có người làm chứng. Tuy nhiên để di chúc của A hợp pháp thì còn cần phải thỏa mãn một số điều kiện quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

" 1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực...."

Vì A mới 15 tuổi nên di chúc của A phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Nếu bố mẹ của A chưa đồng ý thì di chúc này của A không được coi là hợp pháp và tài sản của A sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Căn cứ theo điểm a khoản 1 điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 thì di sản của A sẽ được chia đều cho cha đẻ, mẹ đẻ của A.

Nếu bố mẹ của A đã đồng ý với di chúc của A, tức là di chúc này hợp pháp và có hiệu lực thì quỹ từ thiện cũng sẽ được hưởng di sản. Tuy nhiên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc thì bố mẹ của A vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật. Như vậy có nghĩa là, tổng di sản của A có là 5000 đô la Mỹ + 50 triệu đồng= 163 546 013.05 VND , bố mẹ của A mỗi người sẽ được hưởng thừa kế 54 515 337.68 VND, số tiền đưa vào quỹ từ thiện sẽ là số tiền còn lại.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Thủ tục chia di sản thừa kế là bất động sản ?

Xin hỏi trình tự thủ tục phân chia di sản thừa kế khi di sản là bất động sản nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chỉ có trong sổ địa chính quản lý tại UBND xã. Thì tiến hành phân chia di sản thế nào vì văn phòng công chứng chỉ phân chia di sản khi có bìa đỏ. Khi phân chia di sản thì trong văn bản phân chia người được thừa kế có được tặng cho luôn cho người thuộc hàng thừa kế thứ 2 trong văn bản đó không ?
Xin trân trọng cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế tài sản, gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo điều 609 Bộ luật dân sự 2015 quy định quyền thừa kế của cá nhân:

Điều 609. Quyền thừa kế

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

- Theo khoản 1 Điều 188 Luật đất đai 2013 quy định điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất:

"Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất."

- Theo Điều 101 luật đất đai 2013 quy định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất:

"Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Theo đó, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Trong trường hợp tài sản là đất thì phải tuân theo pháp luật về đất đai. Di sản là đất đai không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chỉ có trong sổ địa chính quản lý tại UBND xã thì căn cứ theo Điều 188 Luật đất đai 2013 thì mảnh đất này không có tranh chấp, không bị kê biên thi hành án và đang trong thời gian sử dụng thì được quyền thừa kế và hưởng thừa kế.

Bên cạnh đó, bạn có thể xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 101 Luật đất đai 2013 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất. Theo đó, khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ tiến hành việc phân chia di sản. Khi việc phân chia di sản hoàn thành và không có bất cứ tranh chấp nào phát sinh mà bạn muốn tặng cho người thuộc hàng thừa kế thứ 2 thì theo quy định tại Điều 459 Bộ luật dân sự 2005:

Điều 459. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Quy định về phân chia di sản thừa kế ?

Thưa luật sư, Anh chị em trong nhà bây giờ mong muốn mẹ con tôi mua đất khác để thay đổi nhà thờ ông bà sau này. Nhà ở hiện nay ba mẹ tôi xây dựng lại và khi đó ba tôi có làm giấy chứng nhận không mua bán đổi cho không cầm cố thế chấp và tiền xây dựng 100% do ba mẹ tôi bỏ ra ( có giấy tờ đính kèm).

Bây giờ mẹ tôi đã mua 1 miếng đất khác và mong muốn chuyển đổi với miếng đất hiện tại. Mẹ tôi sẽ giao thêm tiền để xây dựng là 150.000.000 vnđ. Nhưng hiện tại có chị gái cùng cha khác mẹ của ba tôi không chấp nhận ?

Tôi mong muốn nhận được sự tư vấn của luật sư. Rất cảm ơn.

Quy định về phân chia di sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Bạn không nêu rõ việc ông bà bạn có để lại di chúc hay không nên giả sử trong trường hợp ông bà bạn đứng tên trong sổ đỏ nhưng sau khi ông bà bạn mất không để lại di chúc thì di sản thừa kế của ông bà để lại sẽ được chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về những người thừa kế theo pháp luật như sau:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Đồng thời Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau về thời hiệu:

"Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này..."

Như vậy, nếu ông bạn bạn mất trong khoảng thời gian 30 năm thì những người thừa kế hoàn toàn có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế. Bạn lưu ý người chị gái cùng cha khác mẹ của bố bạn cũng là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất do đó cô gái này vẫn hoàn toàn có đầy đủ các quyền tài sản đối với khối tài sản mà cô đó được nhận thừa kế.

Còn nếu ông bạn mất đã trên 30 năm thì di sản thuộc về người đang quản lý phần di sản đó và người này có toàn quyền đối với khối tài sản này mà không cần phải có sự đồng ý của bất kỳ ai về việc định đoạt khối tài sản này.

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bố mẹ bạn bỏ 100% tiền để xây dựng công trình do đó trong trường hợp này bạn nên yêu cầu mẹ mình thương lượng, thỏa thuận, yêu cầu những người đồng thừa kế xem xét, trả lại cho mẹ mình số tiền này.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn lập, viết, soạn thảo di chúc và quy định về di chúc trực tuyến qua tổng đài