- 1. Top các mẫu viết bài phân tích bài thơ Viếng lăng Bác chọn lọc hay nhất
- Mẫu 1: Bài phân tích đầy đủ, cảm xúc sâu sắc
- Mẫu 2: Bài phân tích ngắn gọn, dễ học
- Mẫu 3: Bài phân tích nâng cao, giàu cảm nhận
- Mẫu 4: Bài phân tích ngắn nhất
- Mẫu 5: Bài phân tích bài thơ Viếng lăng Bác đầy đủ, chi tiết nhất
- 2. Dàn ý viết bài phân tích bài thơ Viếng lăng Bác
1. Top các mẫu viết bài phân tích bài thơ Viếng lăng Bác chọn lọc hay nhất
Mẫu 1: Bài phân tích đầy đủ, cảm xúc sâu sắc
Bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh với giọng điệu trang nghiêm mà tha thiết. Tác phẩm được sáng tác khi đất nước vừa thống nhất, tác giả từ miền Nam ra thăm lăng Bác, mang theo bao xúc động dâng trào.
Mở đầu bài thơ là lời giới thiệu giản dị mà chân thành: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Cách xưng hô “con – Bác” gợi nên mối quan hệ gần gũi như ruột thịt. Người con từ miền Nam xa xôi ra thăm Bác với tất cả lòng kính yêu và biết ơn. Hình ảnh hàng tre hiện lên trong sương sớm vừa thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Tre là biểu tượng của dân tộc Việt Nam, kiên cường, bất khuất, luôn đứng thẳng dù trải qua bao bão táp mưa sa.
Đến khổ thơ thứ hai, hình ảnh “mặt trời” được sử dụng đầy sáng tạo. Mặt trời của thiên nhiên là nguồn sáng của sự sống, còn “mặt trời trong lăng” chính là Bác – người đã soi đường, dẫn lối cho dân tộc. Hình ảnh dòng người nối tiếp nhau vào lăng được ví như “tràng hoa” dâng lên Bác, thể hiện lòng biết ơn và niềm kính trọng vô hạn của nhân dân.
Khi vào trong lăng, nhà thơ xúc động trước hình ảnh Bác nằm trong giấc ngủ bình yên. Bác được ví như “vầng trăng sáng dịu hiền”, gợi vẻ đẹp thanh cao, giản dị. Dù biết Bác sống mãi trong lòng dân tộc như “trời xanh”, tác giả vẫn không khỏi xót xa, đau đớn trước sự thật Bác đã đi xa.
Khổ thơ cuối thể hiện ước nguyện chân thành của nhà thơ. Điệp từ “muốn làm” lặp lại nhiều lần cho thấy khát khao mãnh liệt được ở lại bên Bác. Những ước nguyện giản dị như làm con chim, đóa hoa, cây tre đều thể hiện lòng trung hiếu, sự gắn bó bền chặt với Người.
Bài thơ đã khép lại nhưng dư âm còn vang mãi trong lòng người đọc. Viếng lăng Bác không chỉ là tiếng lòng của riêng Viễn Phương mà còn là tình cảm chung của cả dân tộc Việt Nam đối với Bác Hồ kính yêu.
Mẫu 2: Bài phân tích ngắn gọn, dễ học
Viếng lăng Bác là bài thơ giàu cảm xúc của Viễn Phương, thể hiện tình cảm thiêng liêng của người con miền Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài thơ được viết trong dịp tác giả ra thăm lăng Bác sau ngày đất nước thống nhất.
Mở đầu bài thơ là lời xưng hô thân mật “con – Bác”, thể hiện tình cảm gần gũi. Hình ảnh hàng tre bát ngát gợi lên sức sống bền bỉ và tinh thần kiên cường của dân tộc Việt Nam.
Ở khổ thơ thứ hai, hình ảnh “mặt trời” là ẩn dụ cho Bác – nguồn sáng vĩnh cửu của dân tộc. Dòng người vào lăng được ví như “tràng hoa”, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân.
Khổ thơ thứ ba diễn tả cảm xúc khi vào trong lăng. Bác nằm trong giấc ngủ bình yên, như “vầng trăng sáng dịu hiền”. Dù tin rằng Bác sống mãi, tác giả vẫn không khỏi đau xót.
Khổ thơ cuối là những ước nguyện giản dị nhưng tha thiết: muốn làm chim, làm hoa, làm cây tre để mãi ở bên Bác. Qua đó thể hiện lòng trung thành và kính yêu vô hạn.
Bài thơ có giọng điệu trang nghiêm, tha thiết, hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Mẫu 3: Bài phân tích nâng cao, giàu cảm nhận
Viếng lăng Bác của Viễn Phương là bản hòa ca xúc động về tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài thơ không chỉ là lời viếng mà còn là lời tri ân sâu sắc của người con miền Nam đối với vị lãnh tụ kính yêu.
Ngay từ câu thơ đầu, tác giả đã tạo được ấn tượng bằng cách xưng hô “con – Bác”. Đây không chỉ là cách gọi thân thương mà còn thể hiện mối quan hệ máu thịt giữa Bác và nhân dân. Hình ảnh hàng tre vừa mang tính tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho sức sống dân tộc.
Hình ảnh “mặt trời” trong khổ thơ thứ hai là một sáng tạo độc đáo. Nếu mặt trời thiên nhiên đem lại ánh sáng cho muôn loài thì Bác chính là “mặt trời” soi sáng con đường cách mạng. Hình ảnh “tràng hoa” thể hiện dòng người nối tiếp nhau với tấm lòng thành kính.
Đến khổ thơ thứ ba, cảm xúc lắng lại trong không gian trang nghiêm của lăng. Hình ảnh “vầng trăng” gợi vẻ đẹp thanh cao, trong sáng của Bác. Sự đối lập giữa lý trí và cảm xúc thể hiện qua hai câu thơ cuối khổ đã làm nổi bật nỗi đau xót của nhà thơ.
Khổ thơ cuối là điểm nhấn cảm xúc của bài thơ. Điệp từ “muốn làm” thể hiện ước nguyện tha thiết được hóa thân thành những điều bình dị để mãi ở bên Bác. Đó là biểu hiện cao đẹp của lòng trung hiếu và sự gắn bó thủy chung.
Với ngôn ngữ giản dị, hình ảnh giàu sức gợi và cảm xúc chân thành, Viếng lăng Bác đã trở thành một trong những bài thơ hay nhất viết về Bác Hồ, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc.
Mẫu 4: Bài phân tích ngắn nhất
Viếng lăng Bác là bài thơ thể hiện tình cảm sâu sắc của Viễn Phương đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài thơ mở đầu bằng lời xưng hô gần gũi, hình ảnh hàng tre biểu tượng cho dân tộc. Hình ảnh “mặt trời” và “tràng hoa” thể hiện sự kính trọng, biết ơn. Hình ảnh Bác trong giấc ngủ bình yên gợi niềm tiếc thương vô hạn. Cuối bài, ước nguyện làm chim, làm hoa, làm cây tre thể hiện lòng trung thành và mong muốn được ở bên Bác mãi mãi. Bài thơ giản dị mà sâu sắc, giàu cảm xúc và ý nghĩa.
.jpg)
Mẫu 5: Bài phân tích bài thơ Viếng lăng Bác đầy đủ, chi tiết nhất
Đến với bài thơ "Viếng Lăng Bác" của nhà thơ Viễn Phương, độc giả sẽ thấy được tình cảm vô cùng chân thành, yêu thương nhưng cũng đầy xót xa của tác giả khi có dịp đến thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị cha già kính yêu của toàn dân tộc Việt Nam.
Năm 1976, sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, Nam Bắc hòa chung một nhịp đập, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội cũng được khánh thành. Viễn Phương nhân dịp này ra thăm miền Bắc và vào viếng Bác Hồ. Ông đã sáng tác bài thơ Viếng lăng Bắc và in trong tập "Như mây mùa xuân" (thơ 1978).
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.
Mở đầu bài thơ là lời giới thiệu: "Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác". Cách xưng hô (con-bác) thể hiện một sự thân thương, ngọt ngào và đậm chất Nam Bộ. "Con" ở miền Nam xa cách, không quản ngại đường xá vượt hàng ngàn cây số đến đây với mục đích muốn được gặp Bác Hồ - vị cha già đáng kính. Tác giả dùng từ "thăm" thay vì từ "viếng" nhằm giảm nhẹ nỗi đau thương, mất máy nhưng chẳng thể nào che đi được sự ly biệt không ai mong muốn. Hình ảnh đầu tiên mà "con" nhìn thấy là "hàng tre bát ngát". Cây tre vốn là loài cây quen thuộc, đã trở thành biểu tượng cho những đức tính, phẩm chất con người Việt. Khi kết hợp với hình ảnh "bão táp mưa sa" - ẩn dụ cho sự khó khăn gian khổ trong cuộc đời. Tác giả muốn khẳng định phẩm chất của con người Việt Nam cũng giống như cây tre kia, dù trải qua muôn vàn khó khăn nhưng vẫn không hệ bị vùi dập, vẫn đứng ngay thẳng, hiên ngang, sừng sững với đất trời.
Và đến khổ thơ thứ hai:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân...
Hai câu thơ đầu được tạo nên bởi hình ảnh "mặt trời". "Ngày ngày mặt trời điq ua trên lăng" - đó là mặt trời tự nhiên chuyển động theo quy luật tuần hoàn của thời gian, là chân lý hiển nhiên không thể phản bác. "Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ" - hình ảnh ẩn dụ, ví Bác như "mặt trời" có sức lan tỏa, soi sáng cuộc đời của người dân Việt Nam. Bác tỏa sáng sự sống tươi mưới, thổi hồn vào đất, cây cỏ và mọi vạn vật trải dài trên đất nước hình chữ S. Chẳng thể có mỹ từ nào miêu tả được hết lòng biết ơn vô hạn của nhân dân dành cho Người. Nếu có mặt trời của tự nhiên cũng phải nhường chỗ cho đêm tối. Thì ánh sáng phát ra từ mặt trời Bác là bất tận. Ánh sáng ấy dù có nhưu thế nào đi chăng nữa cũng chẳng thể lụi tàn. Mà trở thành điểm tựa vững chắc cho dân tộc Việt. Hai câu thơ tiếp theo là sự liên tưởng đến hình ảnh dòng người đang nối dài, háo hức, xúc động được vào thăm Bác. Cụm từ "ngày ngày: được điệp lại lần hai tạo nên một ước muốn về một cõi bất tử. "Tràng hoa" là hình ảnh ẩn dụ cho những người dân từ khắp mọi miền tổ quốc đang hội tụ về nơi này, vào trong thăm Bác. Ngày qua ngày, từng dòng người vẫn nối tiếp nhau vào trong lăng. Dù Người đã ra đi, nhưng hình ảnh người vẫn còn hiện diện mãi trên bầu trời kia, nhân dân vẫn dành cho Người một niềm tiếc thương vô hạn, một nỗi nhớ không thể nguôi ngoai.
Hình ảnh Bác nằm trong lăng được Viễn Phương khắc họa đầy chân thực:
Bác nằm trong giấc ngủ bình tên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nói ở trong tim!
Cuộc đời của Hồ Chủ tịch chưa lúc nào là yên bình khi mà đất nước, nhân dân đang phải chịu ách đô hộ của kẻ thù xâm lược. Đến nay, khi đã giành lại độc lập, Nam Bắc cùng chung một nhịp đập thì Bác lại ra đi mãi mãi. Điều ấy đã để lại niềm tiếc thương vô hạn. Nhà thơ dường như chỉ muốn tạm quên đi nỗi tiếc thương ấy: "Bác nằm trong giấc ngủ bình yên". Dường như Bác chỉ nằm trong một giấc ngủ vô tận mà thôi. Với lòng yêu thương, ngưỡng mộ, khổ thơ thứ ba là lời thương xót vô tận và ước muốn của nhà thơ. Bác như "vầng trăng sáng dịu hiền" - hình ảnh biểu tượng cho vẻ đẹp của Bác lúc này vô cùng thanh thản, yên bình. Người quả thật không hề mát đi mà chỉ đang chìm vào một giấc ngủ vô tận mà thôi, Người vẫn còn sống mãi với nhân dân, với non sông đất nước. Mạch cảm xúc của bài thơ bỗng nhiên lắng xuống ở hai câu thơ cuối. Dẫu biết trời xanh là mãi mãi - trời xanh là biểu tượng cho sự trường tồn bất tử của Bác. Bác mãi sống trong lòng người dân Việt Nam. Dẫu biết là vậy mà sao mỗi lần chỉ nghĩ đến thôi, cảm giác "nhe nhói ở trong tim" không thể nào chịu được - vẫn thấy xót xa, nuối tiếc vô cùng. Vì không thể trốn tránh sự thật rằng Người đã ra đi mãi mãi. Những người con của đất nước này đã không còn được gặp lại Người. Đó chính là niềm tiếc nuối của biết bao con người.
Ở khổ thơ cuối cùng, Viễn Phương đã bộc lộ niềm mong muốn vô tận:
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này
Điệp từ "muốn" lặp đi lặp lại ba lần như khẳng định ước muốn của nhà thơ. Đó là một ước muốn mãnh liệt, niềm khao khát cháy bỏng của nhà thơ. Ước nguyện đó được ở lại bên canh Người - một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, chỉ để làm "một con chim hót", "một đóa hoa" "một cây tre trung hiếu". tất cả chỉ đều là những vật nhỏ bé, tầm thường nhưng lại là mong muốn của tác giả.
Bởi vì chim hót sẽ ru giấc ngủ ngon cho Bác, hoa sẽ tỏa ngát hương thơm và cây tre và một cây tre nhỏ sẽ mãi trung hiếu với nơi này. Nhịp thơ ở đây chậm rãi so với các khổ thơ trước. Sự chậm rãi ấy như muốn kéo dài thêm giây phút sắp phải chia xe. Kết lại bài thơ, hình ảnh cây tre lại một lần nữa xuất hiện. Cây tre là biểu tượng của con người Việt Nam, biểu tượng cho ý chí và sức mạnh của dân tộc. Tác giả muốn ở lại bên lăng Hồ Chủ tịch trở thành một cây tre trung thành với Bác, với lý tưởng mà Người đã chỉ lối. Qua đói, nhà thơ càng muốn khẳng định một điều, đó là sự tin tưởng, sự trung thành của mỗi người dân Việt Nam vào Bác, vào lý tưởng và chân lý mà Bác đem tới cho chúng ta.
Cả khổ thơ cuối đã thể hiện niềm mong ước cháy bỏng của tác giả, cũng chính là mong ước của mỗi người con đất Việt. Đó là luôn được ở bên cạnh Người để làm một điều gì đó đóng góp cho giấc ngủ của Người được yên giấc, cũng từ đó thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối vào bác và lý tưởng mà Bác đã chọn.
"Bác Hồ - người là niềm tin thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại". hình ảnh Người luôn mãi sắt son và bất tận theo thời gian. Bài thơ thật đẹp, thật đáng quý, đáng yêu bởi những cảm xúc tự tận đáy lòng được viết ra của tác giả. Không cầu kỳ, hoa mỹ, không lộng lẫy phô trường. "Viếng lăng Bác" là những tình cảm lớn lao trong một trái tim bình dị đã chạm đến cảm xúc người đọc theo cách tự nhiên như thế.
2. Dàn ý viết bài phân tích bài thơ Viếng lăng Bác
Mở bài
Giới thiệu khái quát về bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương. Đây là tác phẩm được viết trong niềm xúc động sâu sắc khi tác giả có dịp ra thăm lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sau ngày đất nước thống nhất. Bài thơ thể hiện tình cảm thành kính, thiêng liêng và niềm thương nhớ vô hạn của một người con miền Nam đối với vị cha già của dân tộc.
Thân bài
Trước hết, bốn câu thơ đầu là lời giới thiệu giản dị mà giàu cảm xúc. Cách xưng hô “con – Bác” gợi nên tình cảm gần gũi, thân thương như tình cha con ruột thịt. Hình ảnh “hàng tre bát ngát” hiện lên vừa quen thuộc vừa giàu ý nghĩa biểu tượng. Tre là biểu tượng cho dân tộc Việt Nam với sức sống bền bỉ, kiên cường, dù “bão táp mưa sa” vẫn đứng thẳng hàng, qua đó thể hiện phẩm chất bất khuất của con người Việt Nam.
Tiếp đến, tám câu thơ sau diễn tả cảm xúc của tác giả khi hòa vào dòng người vào viếng lăng Bác. Hình ảnh “mặt trời” được sử dụng sáng tạo: mặt trời của thiên nhiên và “mặt trời trong lăng” – ẩn dụ cho Bác Hồ, nguồn sáng soi đường cho dân tộc. Dòng người nối tiếp nhau vào lăng được ví như “tràng hoa” dâng lên Bác, thể hiện lòng biết ơn và kính trọng vô hạn. Khi vào trong lăng, hình ảnh Bác hiện lên trong “giấc ngủ bình yên”, giữa “vầng trăng sáng dịu hiền”, gợi cảm giác thanh thản, cao đẹp mà gần gũi. Dù tin rằng Bác sống mãi như “trời xanh”, tác giả vẫn không giấu được nỗi đau xót, tiếc thương thể hiện qua cảm giác “nghe nhói ở trong tim”.
Cuối cùng, bốn câu thơ kết thể hiện ước nguyện chân thành và tha thiết của tác giả trước khi rời lăng. Điệp từ “muốn làm” lặp lại nhiều lần nhấn mạnh khát khao được ở lại bên Bác. Những ước nguyện giản dị như làm con chim, đóa hoa, cây tre đều mang ý nghĩa đẹp đẽ: góp phần làm đẹp, làm vui và canh giữ giấc ngủ cho Người. Đây không chỉ là mong ước riêng của nhà thơ mà còn là tấm lòng chung của mỗi người dân Việt Nam đối với Bác.
Kết bài
Khẳng định giá trị của bài thơ Viếng lăng Bác là sự kết tinh của tình cảm chân thành, sâu sắc và thiêng liêng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với giọng điệu trang nghiêm mà xúc động, hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng, tác phẩm đã chạm đến trái tim người đọc, để lại dư âm sâu lắng về lòng biết ơn và niềm kính yêu vô hạn đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.
