Các biểu hiện này chỉ được mô tả ưong một số cấu thành tội phạm. Cụ thể: Các biểu hiện này được mô tả trong cấu thành tội phạm cơ bản nếu có ý nghĩa quyết định đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi; hoặc các biểu hiện này được mô tả trong cấu thành tội phạm tăng nặng nếu làm tăng tính chất nguy hiểm của hành vi.

1. Khái niệm mặt khách quan của tội phạm

Bộ luật Hình sự quy định:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ Luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa (Điều 8).
Như vậy, một trong những nguyên tắc quan trọng được thể hiện trong khái niệm tội phạm đó là " nguyên tắc hành vi", tội phạm phải là hành vi của con người. Hành vi nói chung hay hành vi phạm tội nói riêng thực chất thể hiện chính bản chất của con người, là sự tồn tại của chính con người đó trong hiện thực khách quan. Để có thể nhận thức về hành vi và chủ thể của hành vi đó, cần thiết phải xem xét tổng thể các yếu tố được biểu hiện ra bên ngoài, hay nói cách khác đó chính là mặt khách quan của tội phạm.
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài thế giới khách quan bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giũa hành vi và hậu quả, công cụ phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội.
Những dấu hiệu trong mặt khách quan thường được mô tả chi tiết trong các điều khoản phần các tội phạm cụ thể. Một phần, vì các dấu hiệu trong mặt khách quan biểu hiện ra bên ngoài dễ nhận biết hơn các yếu tố khác. Mặt khác, giữa các tội phạm khác nhau chúng khác nhau chủ yếu ở các dấu hiệu trong mặt khách quan.

2. Về công cụ, phương tiện phạm tội

Phương tiện phạm tội là đối tượng được chủ thể của tội phạm sử đụng khi thực hiện hành vi phạm tội của mình. Công cụ phạm tội là dạng cụ thể của phương tiện phạm tội.

Phương tiện phạm tội (trong đó có công cụ phạm tội) được mô tả trong cấu thành tội phạm cơ bản của một số tội phạm. Ví dụ: Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 242 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) là tội phạm cấu thành tội phạm cơ bản có dấu hiệu phương tiện phạm tội. Cụ thể, khoản 1 điểm a Điều 242 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đòi hỏi phương tiện phạm tội phải là chất độc, chất nổ... Trong nhiều cấu thành tội phạm khác, phương tiện phạm tội được phản ánh là dấu hiệu của cấu thành tội phạm tăng nặng. Ví dụ: điểm d khoản 2 Điều 168 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định phương tiện phạm tội là vũ khí; điểm d khoản 2 Điều 178 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định phương tiện phạm tội là chất nguy hiểm về cháy, nổ...

Như vậy, việc xác định phương tiện phạm tội có thể có ý nghĩa trong việc định tội hoặc trong việc định khung hình phạt tăng nặng.

Đối với những tội phạm mà phương tiện phạm tội không được phản ánh trong cấu thành tội phạm cơ bản cũng như ttong cấu thành tội phạm tăng nặng, việc xác định tính chất của phương tỉện phạm tội vẫn cần thiết khi quyết định hình phạt vì tính chất của phương tiện phạm tội là yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Do vậy, Điều 52 BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015, SỬA ĐỔI BỔ SUNG NĂM 2017 đã quy định phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

3. Về phương pháp, thủ đoạn phạm tội

Phương pháp, thủ đoạn phạm tội là cách thức thực hiện hành vi phạm tội, trong đó có cách thức sử dụng công cụ, phương tiện. Ở một số tội phạm, biểu hiện này được phản ánh là dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản hoặc của cấu thành tội phạm tăng nặng. Ví dụ: Điều 181 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định thủ đoạn phạm tội là dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản của tội cưỡng ép kết hôn. Cụ thể, thủ đoạn phạm tội của tội này là thủ đoạn hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải,... Tương tự như vậy, điểm d khoản 2 Điều 168 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định thủ đoạn nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của tội cướp tài sản...

Như vậy, việc xác định tính chất của thủ đoạn phạm tội có thể có ý nghĩa trong định tội hoặc trong việc định khung hình phạt.

Đối với những tội phạm mà thủ đoạn phạm tội không được phản ánh trong cấu thành tội phạm cơ bản cũng như trong cấu thành tội phạm tăng nặng, việc xác định tính chất của thủ đoạn phạm tội vẫn cần thiết khi quyết định hình phạt vì tính chất của thủ đoạn phạm tội là yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Do vậy, Điều 52 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã quy định một số thủ đoạn phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.(1)

4. Về thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội

Tính nguy hiểm cho xã hội của một số hành vi có thể phụ thuộc vào thời gian xảy ra (trong năm). Ví dụ: Thời gian thuộc mùa sinh sản có thể ảnh hưởng đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đánh bắt thủy sản hoặc săn bắt thú rừng trái phép. Do vậy, luật hình sự có thể quy định thời gian phạm tội là dẩu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản.

Địa điểm và hoàn cảnh phạm tội có thể được phản ánh ở một số tội phạm là dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ. Ví dụ: Điều 188 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định địa điểm phạm tội (qua biên giới) là dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội buôn lậu; Điều 124 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định hoàn cảnh phạm tội (hoàn cảnh khách quan đặc biệt) là dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ; điểm c khoản 4 Điều 188 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định lợi dụng hoàn cảnh (thiên tai, chiến tranh...) để phạm tội là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng của tội buôn lậu V.V..

5. Những biểu hiện khác trong mặt khách quan của tội phạm

Công cụ, phương tiện phạm tội: Là những đối tượng vật chất được chủ thể sử dụng để tác động vào đối tượng tác động của tội phạm trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội.
Thủ đoạn phạm tội: Là cách thức thực hiện tội phạm một cách tinh vi khôn khéo, có sự tính toán.
Trong đa số các tội danh trong Bộ luật Hình sự, công cụ, phương tiện phạm tội và phương pháp, thủ đoạn phạm tội là tình tiết định khung tăng nặng. Thủ đoạn phạm tội là tình tiết định tội của tội ngược đãi, hành hạ cha mẹ vợ chồng con cái.
Thời gian phạm tội: Thời gian phạm tội là căn cứ xác định tái phạm hay tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung tăng nặng hoặc tình tiết tăng nặng.
Địa điểm phạm tội: Là tình tiết định tội của một số tội như: Tội trốn khỏi nơi giam, tội hoạt động phỉ.
Hoàn cảnh phạm tội: Là tình tiết định tội của tội đầu cơ như phạm tội trong hoàn cảnh thiên tai, chiến tranh, và là tình tiết định khung tăng nặng của một số tội khác.

6. Ý nghĩa về mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm- tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự. Các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm là những dấu hiệu phản ánh nội dung của các yếu tố của tội phạm. Nhưng không phải tất cả các dấu hiệu của bốn yếu tố đều được đưa vào cấu thành tội phạm. Có những dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cả các cấu thành tội phạm, nhưng cũng có những dấu hiệu có thể có trong cấu thành tội phạm của tội này nhưng lại không có trong cấu thanh tội phạm của những tội khác. Những dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cra các cấu thành tội phạm được kể đến như: Dấu hiệu hành vi thuộc yếu mặt khách quan của tội phạm; dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm; dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm. Ngoài ra những dấu hiệu khác của bốn yếu tố cấu thành tội phạm đều là những dấu hiệu không bắt buộc trong mọi cấu thành tội phạm như dấu hiệu hậu quả, dấu hiệu mục đích phạm tội, dấu hiệu cộng cơ phạm tội...
Như vậy, theo quy định của luật hình sự Việt Nam, bất cứ tội phạm nào dù ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biết nghiêm trọng, dù bị quy định bởi hình phạt nào từ cảnh cái, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn hay đến mức tù chung thân, tử hình thì luôn luôn là thể thống nhất giữa biểu hiện bên ngoài- mặt khách quan và những quan hệ tâm lí bên trong- mặt chủ quan của tội phạm. Những hành vi đó đều là hoạt động của con người cụ thể, xâm phạm hoặc nhăm xâm hại những quan hệ xã hội nhất định. Sự thống nhất của bốn yếu tố này là hình thức cấu trúc, thể hiện đầy đủ nội dung chính trị, xã hội của tội phạm. Nếu về mặt nội dung chính trị, xã hội, những hành vi phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì về mặt cấu trúc, bốn yếu tố cấu thành tội phạm cũng có những nội dung biểu hiện khác nhau. Chính sự khác nhau này quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.