Tội phạm là thể thông nhất giữa những biểu hiện ra bên ngoài (mặt khách quan) và diễn biến tâm lý bên trong của người thực hiện hành vi phạm tội (mặt chủ quan). Không thể coi là tội phạm nếu chỉ có một trong hai yếu tố trên đây hoặc hai yếu tố đó mặc dù có nhưng lại không nằm trong thể thống nhất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

* Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến bên trong phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra.

* Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm: Lỗi, động cơ, mục đích phạm tội. Trong đó lỗi là dấu hiệu được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm (dấu hiệu bắt buộc). Động cơ mục đích chỉ được quy định trong một số cấu thành tội phạm cơ bản hoặc là dấu hiệu định khung.

Tội phạm là thể thông nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan, giữa hai yếu tố này có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau. Thông qua những dấu hiệu trong mặt khách quan của tội phạm là căn cứ quan trọng để xác định những dấu hiệu trong mặt chủ quan của tội phạm, thông qua diễn biến, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, của hậu quả làm căn cứ để xem xét đánh giá hình thức và mức độ lỗi, động cơ, mục đích phạm tội.

Pháp luật hình sự không quy tội khách quan, tức là không chỉ dựa vào những biểu hiện bên ngoài mà còn phải dựa và những diễn biến tâm lý bên trong của người thực hiện hành vi phạm tội.

Ngược lại, những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm cho phép xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mặc dù có thể một hành vi tương tự, gây ra những hậu quả giống nhau nếu thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý thì có tính chất mức độ nguy hiểm cao hơn so với lỗi vô ý, và đều là lỗi cố ý thì cố ý trực tiếp có tính chất, mức độ nguy hiểm cao hơn lỗi cố ý gián tiếp...

 

1. Mặt khách quan của tội phạm là gì?

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài thế giới khách qua bao gồm: hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội.

Việc xác định những biểu hiện thuộc mặt khách quan của tội phạm có vai trò quan trọng trong việc truy cức tráhc nhiệm hình sự và xác định hình phạt.

 

1.1 Hành vi khách quan

Hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể. Hành vi khách quan có các đặc điểm sau:

- Có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội.

- Có tính trái pháp luật hình sự.

- Là hành vi có ý thức và ý chí.

Các hình thức của hành vi khách quan của tội phạm:

- Hành động phạm tội: Hành động phạm tội là hình thức biểu hiện của hành vi phạm tội để làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, qua đó gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Hành động phạm tội được thể hiện thông qua việc chủ thể thực hiện một hoặc nhiều hành vi mà luật hình sự cầm thực hiện.

- Không hành động phạm tội: Không hành động phạm tội là hành vi là, biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động gây thiệt hại cho khách thể qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật hình sự yêu cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để làm.

 

1.2 Hậu quả của tội phạm

Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Để xác định mức độ hậu quả của tội phạm, cần phải xác dịnh mức độ làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm. 

Hậu quả của tội phạm được biểu hiện ở dạng như: thiệt hại vât chất; thiệt hại về thể chất; thiệt hại tinh thần; thiệt hại về phi vật chất.

Việc xác định hậu quả của tội phạm có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc định tội và định khung hình phạt. 

 

1.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm là mối quan hệ giữa các hiện tượng trong đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vi khách quan) làm phát sinh một hiện tượng khác là kết quả (là hậu quả của tội phạm). Cụ thể:

- Hành vi phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian.

- Hành vi phải chứa đựng khả năng thực tế, mầm mống nội tại, nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả.

- Hậu quả xảy ra phải là hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi.

Mối quan hệ nhân quả được thể hiện ở các dạng sau:

- Mối quan hệ nhân quả đơn trực tiếp: là mối quan hệ nhân quả chỉ có một hành vi phạm tội là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả.

- Mối quan hệ nhân quả kép trực tiếp: là mối quan hệ nhân quả có nhiều hành vi phạm tội làm nguyên nhân, trong đó, mỗi hành vi đều đã chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả.

 

1.4 Những biểu hiện khác trong mặt khách quan của tội phạm

Những biểu hiện khác trong mặt khách quan bao gồm: công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội.

- Công cụ, phương tiện phạm tội là những đối tượng vật chất được chủ thể sử dụng để tác động vào đối tượng tác động của tội phạm tỏng quá trình thực hiện hành vi phạm tội.

- Thủ đoạn phạm tội là cách thức thực hiện tội phạm được biểu hiện thông qua việc thực hiện hành vi dưa trên sự tính toán của người phạm tội.

- Thời gian phạm tội là một thời điểm hoặc một khoảng thời gian nhất định mà hành vi phạm tội diễn ra, được hiểu là thời kỳ cụ thể nhất định phản ánh bằng các sự kiện chính trị - xã hội.

- Địa điểm phạm tội là giới hạn lãnh thổ nhất định mà ở đó tội phạm bắt đầu thực hiện, tội phạm kết thúc hoặc hậu quả của tội phạm xảy ra.

- Hoàn cảnh phạm tội là tổng hợp tất cả những tình tiết khách quan xung quanh việc thực hiện tội phạm, là bối cảnh xã hội cụ thể khi tội phạm diễn ra.

 

2. Mặt chủ quan của tội phạm là gì?

Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến, trạng thái tâm lý bên trong của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội bao gồm: lỗi, động cơ và mục đích phạm tội.

 

2.1 Yếu tố lỗi

Lỗi được xác định là những biểu hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và đối với hậu quả do hành vi ấy gây ra. Xác định tính của lỗi của hành vi khi hành vi thoả mãn các điều kiện sau:

- Phải có hành vi trái pháp luật, tức là chủ thể đã thực hiện một hoặc một số hành vi mà Bộ luật hình sự cấm hoặc không làm theo những quy định mà Bộ luật hình sự quy định.

- Người thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự phải có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tức là, chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật phải có năng lực để nhận thức về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả của hành vi gây ra cho xã hội và có khả năng để điều khiển hành vi của mình.

Căn cứ vào năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của chủ thế, lỗi được chia thành hai loại: lỗi cố ý và lỗi vô ý. Cụ thể hơn, lỗi được chia thành các loại sau:

- Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó mà mong muốn hậu quả xảy ra.

- Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhân thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

- Lỗi vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

- Lỗi vô ý do cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

 

2.2 Động cơ phạm tội

Động cơ phạm tội chỉ được đặt ra đối với lỗi cố ý, trong các tôi phạm thực hiện với lỗi vô ý, người phạm tội không có hoạt động có định hướng mục đích đến việc thực hiện tội phạm, ở người phạm tội không có động lực thực hiện hiện tội phạm. Động cơ phạm tội được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội.

Trong phần lớn các trường hợp phạm tội, động cơ phạm tội được xác định là tình tiết định khung tăng nặng hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, việc xác định được động cơ phạm tội có ý nghĩa trong việc xác định khung hình phạt hoặc quyết định hình phạt.

 

2.3 Mục đích phạm tội

Mục đích phạm tội là yếu tố chỉ đặt ra đối với lỗi cố ý. Mục đích phạm tội của người phạm tội quyết định đến ý chí của người đó nhằm hướng ý chí đến việc thực hiện tội phạm. Mục đích phạm tội là cái mốc mà người phạm tội mong muốn đặt đến khi thực hiện tội phạm.

Giữa mục đích phạm tội và hậu quả của tội phạm luôn có mối quan liên hệ chặt chẽ với nhau, có thể nói, hậu quả của tội phạm là sự phản ánh của mục đích phạm tội.

Tuy nhiên, trên thực tế cũng có những trường hợp hậu quả xảy ra hoặc không xảy ra nhưng không phản ánh đúng mục đích của người phạm tội. Bời mục đích phạm tội là ý thức chủ quan, là thái độ tâm lý của người phạm tội và luôn tồn tại với lỗi cố ý trực tiếp. Còn hậu quả của tội phạm là biểu hiện khách quan, là kết quả của hành vi tội phạm gây ra dưới sự tác động của nhiều yếu tố như tình huống, hoàn cảnh khách quan, yếu tố ngoại cảnh,...

 

3. Mối quan hệ giữa mặt chủ quan và mặt khách quan của tội phạm

Tội phạm là một thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan. Nếu mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan của tôi phạm là thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội, liên quan với việc thực hiện tội phạm. Không thể coi là tội phạm nếu chỉ có một trong hai yếu tố trên hoặc có cả hai yêu tố nhưng lại không nằm trong thể thống nhất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Một người khi thực hiện hành vi bị coi là tội phạm chỉ khi hành vi đó là kết quả lựa chọn của hoạt động tâm lý bên trong, tức là thể hiện đầy đủ ý chí và lý trí của người phạm tội. Do đó, mặt chủ quan không tồn tại độc lập mà luôn gắn liền với mặt khách quan của tội phạm. Thông qua những biểu hiện ra bên ngoài, chúng ta có thể chứng minh diễn biến trạng thái tâm lý bên trong của người phạm tội. Tức là, thông qua những dấu hiệu của mặt khách quan của tội phạm (diễn biến, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và hậu quả của hành vi gây ra) để xác định những dấu hiệu trong mặt chủ quan của tội phạm (mức độ lỗi, động cơ, mục đích phạm tội).

Pháp luật hình sự không quy tội khách quan mà phải căn cứ vào cả những biểu hiện bên ngoài cũng như những diễn biến tâm ký bên trong của chủ thể thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, giữa mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm có mối quan hệ mật thiết với nhau.

Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ tới Luật Minh Khuê qua số tổng đài 19006162 để được hỗ trợ tư vấn nhanh chóng. Trân trọng!