1. Giáo dục con người và xây dựng môi trường xã hội có tính giáo dục

Nó có thể có nguyên nhân từ những khiếm khuyết về tính giáo dục của môi trường xã hội hoặc từ chính những hạn chế trong hoạt động giáo dục của xã hội. Để thay đổi dần “Phẩm chất tâm lý tiêu cực” đã có cũng như để phòng ngừa không cho phẩm chất này tiếp tục lan rộng, phát triển đòi hỏi cần phải khắc phục những khiếm khuyết, những hạn chế đó. Ở đây, cần phải xem xét bản thân hoạt động giáo dục và xem xét cả môi trường trong đó hoạt động giáo dục xảy ra (gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, cộng đồng làm việc ... và môi trường xã hội nói chung, trong đó bao gồm cả môi trường pháp lý). Sở dĩ như vậy vì giữa hai yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khiếm khuyết trong hoạt động giáo dục có thể do chính những hạn chế của môi trường xã hội. Môi trường xã hội tốt sẽ là điều kiện thuận lợi không chỉ cho hoạt động giáo dục của xã hội có hiệu quả mà còn cho cả quá trình tự rèn luyện của cá nhân. Nó cũng là điều kiện thuận lợi cho quá trình xã hội hoá cá nhân tự phát diễn ra theo hướng tích cực. Môi trường xã hội tốt là môi trường có điều kiện vật chất tốt và điều kiện tinh thần lành mạnh. Trong đó bao gồm cả môi trường pháp lý chặt chẽ và nghiêm minh. Từ đây dẫn đến các hướng tiếp theo của các biện pháp phòng ngừa tội phạm.

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc định hướng giáo dục con người và xây dựng môi trường xã hội có tính giáo dục được đề ra nham:

- Khắc phục những hạn chế trong hoạt động giáo dục trong các môi trường khác nhau, đặc biệt là môi trường gia đình và môi trường nhà trường. Trong gia đình mà bố mẹ kiếm sống bằng hành vi phạm pháp thì khó có thể đảm bảo con cái không như vậy, trái lại, một gia đình tốt sẽ là điều kiện thuận lợi cho phát triển nhân cách tốt của con cái; trong nhà trường mà không có kỉ cưong, hiện tượng vi phạm đạo đức và pháp luật của viên chức còn diễn ra thi khó có thể đảm bảo công tác giáo dục đạo đức cho học sinh có kết quả tốt ...;

- Khắc phục những “khiếm khuyết” có tính phản giáo dục của môi trường xã hội - những “khiếm khuyết” ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của giáo dục xã hội cũng như hạn chế việc tự tu dưỡng của cá nhân. Trong một xã hội mà tham những đã trở thành quốc nạn và việc chống không có hiệu quả thì khó có thể giáo dục ý thức chống tham những cũng như khi hiện tượng vi phạm luật giao thông đường bộ còn diễn ra phổ biến hàng ngày thì khó có thể giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông cho học sinh ...

Giáo dục và đặc biệt giáo dục lại con người là quá trình khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực tham gia liên tục của toàn xã hội. Bất cứ khiếm khuyết nào của môi trường giáo dục cũng như của hoạt động giáo dục đều ảnh hưởng xấu đến quá trình giáo dục con người. Việc khắc phục những khiếm khuyết này tuy khó khăn nhưng vẫn còn đơn giản hơn nhiều so với việc khắc phục hậu quả mà nó đã gây ra. Do vậy, có thể nói, việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc định hướng thứ nhất là hoạt động rất khó khăn và phức tạp nhung lại là hoạt động có ý nghĩa đặc biệt vừa có tính cơ bản và vừa có tính bao trùm. Tuy nhiên, các biện pháp phòng ngừa này cũng không có tính độc lập tuyệt đối với các biện pháp phòng ngừa khác. Có những nội dung của các biện pháp phòng ngừa thuộc định hướng thứ nhất có thể được tiến hành riêng biệt một cách tương đối nhưng cũng có những nội dung chỉ có thể thực hiện được trong tổng thể với các biện pháp khác. Khắc phục những hạn chế trong hoạt động giáo dục có thể thực hiện được một cách độc lập tương đối trong chừng mực nhất định. Trái lại, việc khắc phục những khiếm khuyết của môi trường giáo dục không thể không phụ thuộc vào các nhóm biện pháp khác như nhóm biện pháp phát triển kinh tế-xã hội hoặc nhóm biện pháp phát hiện và xử lý vi phạm cũng như tội phạm ...

2. Hạn chế, khắc phục mặt trái của quá trình phát triển kinh tế-xã hội

Trong nhiều công trình nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm, các tác giả đều thống nhất cho rằng phát triển kinh tế-xã hội là biện pháp phòng ngừa tội phạm cơ bản. Chúng tôi cho ràng trong các biện pháp phòng ngừa tội phạm có biện pháp mà nội dung của nó thuộc về vấn đề phát triển kinh tế-xã hội vì có nguyên nhân của tội phạm thuộc phạm vi này. Nhưng không thể vì thế mà đồng nhất biện pháp phòng ngừa tội phạm với việc phát triến kinh tế-xã hội nói chung và từ đó lại quá đề cao biện pháp này. Phát triển kinh tế-xã hội còn có thể làm phát sinh những hiện tượng, những quá trình mà những hiện tượng, những quá trình này lại chính là nguyên nhân của tội phạm. Ví dụ: Phát triển công nghiệp có thể đi liền với việc thất nghiệp của số người làm nông nghiệp bị “mất” đất sản xuất hoặc có thể đi liền với nguy cơ xảy ra tội phạm về môi trường ... Trong các nguyên nhân của tội phạm do quá trình phát triến kinh tế-xã hội làm phát sinh có nguyên nhân mà các tác giả khác có thể gọi là những “kẽ hở”. Đây chính là điều cần quan tâm khi nghiên cứu, khảo sát để xác định biện pháp phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Phát triển kinh tế-xã hội là chủ trương, chính sách, kế hoạch hoạt động chung của toàn xã hội. Các nhà tội phạm học có trách nhiệm góp phần xây dựng những nội dung cụ thể của kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội mà những nội dung đó có ý nghĩa trực tiếp đối với việc hạn chế, loại trừ nguyên nhân của tội phạm. Đồng thời các nhà tội phạm học cũng có trách nhiệm phải xác định được những ảnh hưởng xấu, những “kẽ hở” của chính kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội mà những ảnh hưởng xấu, những “kẽ hở” đó có thể trở thành nguyên nhân của tội phạm. Hai nhiệm vụ này có thể được các nhà tội phạm học thực hiện khi kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội đã và đang được tiến hành. Nhưng đúng ra, các nhà tội phạm học phải tham gia ngay từ khi xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội để kế hoạch đó đã có tính hoàn chỉnh ngay từ đầu. Điều này đòi hỏi các nhà tội phạm học phải có khả năng phân tích và dự đoán trên cơ sở kiến thức lý luận, kinh nghiệm thực tiễn và các kết quả khảo sát.

Như vậy, ở định hướng thứ hai, các biện pháp phòng ngừa tội phạm được đề ra có nội dung:

>> Xem thêm:  Các loại thực nghiệm điều tra ? Mục đích của thực nghiệm điều tra ?

- Để xuất ưu tiên thực hiện một số nhiệm vụ kinh tế - xã có liên quan trực tiếp đến nguyên nhân của tội phạm;

- Đề xuất các biện pháp hạn chế những ảnh hưởng xấu của các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội như tạo thêm việc làm, tổ chức đào tạo nghề cho số người làm nông nghiệp bị “mất” đất do quá trình phát triển công nghiệp, quá trình đô thị hoá cũng như khắc phục những “kẽ hở” của các kế hoạch này.

Trong hai nhóm đề xuất trên, các nhà nghiên cứu thường quan tâm nhiều đến nhóm đề xuất thứ nhất. Nhóm đề xuất này không chỉ dễ phát hiện hơn mà còn dễ được các nhà hoạch định và thực hiện chính sách kinh tế-xã hội chấp nhận vì nó phù hợp với xu hướng phát triển chung. Trái lại, nhóm đề xuất thứ hai không chỉ khó phát hiện hơn mà cũng khó thuyết phục các nhà hoạch định chính sách kinh tế-xã hội hơn vì về hình thức bên ngoài những đề xuất này có biểu hiện như là gây khó khăn cho quá trình phát triển kinh tế. Do vậy, ở định hướng thứ hai, các nhà nghiên cứu cần quan tâm nhiều hơn đến các “kẽ hở” của các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội để đề xuất biện pháp khắc phục, hạn chế tác động đến sự hình thành các yếu tố có thể tạo ra nguyên nhân của tội phạm.

3. Chống tội phạm, xử lý vi phạm và vấn đề tăng cường quản lý để ngăn ngừa vi phạm và tội phạm

Chống tội phạm tuy là hoạt động giải quyết sự việc tội phạm cụ thể đã xảy ra nhưng vẫn có ý nghĩa đối với việc phòng ngừa tội phạm nói chung. Mức độ tác động đến phòng ngừa tội phạm của hoạt động chống tội phạm phụ thuộc vào việc hoạt động này được thực hiện như thế nào. Do vậy, yêu cầu đặt ra cho đấu tranh chống tội phạm là:

"Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật... ” Xem: Khoản 1 Điều 3, Bộ luật hình sự.

Thực hiện được yêu cầu cần thiết này là tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động phòng ngừa tội phạm và đồng thời cũng là một loại hoạt động phòng ngừa tội phạm. Cụ thể:

- Phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh tội phạm đồng nghĩa với việc ngăn ngừa không để người phạm tội tiếp tục lặp lại hành vi phạm tội đà thực hiện do không có điều kiện (vì đã bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, phải chấp hành hình phạt tước tự do...). Trái lại, nếu tội phạm đã xảy ra mà không được phát hiện thì có nhiều khả năng chủ thể sẽ tiếp tục phạm tội và có thể ở mức độ nghiêm trọng hơn.

Phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh tội phạm còn có tác dụng răn đe, giáo dục người phạm tội, làm thay đổi “Phẩm chất tâm lý tiêu cực” của họ theo hướng tích cực qua việc tuyên và buộc người phạm tội phải chấp hành các hình phạt cũng như các biện pháp hình sự khác và ở nghĩa này thì chống tội phạm cũng đồng thời là phòng ngừa tội phạm. Trái lại, nếu tội phạm đã xảy ra mà không được phát hiện hoặc không được xử lý nhanh chóng, công minh thì có nhiều khả năng “Phẩm chất tâm lý tiêu cực”của người phạm tội được củng cố và trở nên bền vững hơn.

- Phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh mọi tội phạm sẽ tạo ra môi trường pháp lý nghiêm minh. Môi trường này vừa có tác dụng răn đe chung - răn đe bị phát hiện cũng như răn đe bị xử lý để ngăn ngừa tội phạm xảy ra bởi những người khác và vừa là môi trường tốt cho việc giáo dục ý thức tuân theo pháp luật cũng như ý thức tham gia tích cực vào hoạt động đấu tranh chống tội phạm của công dân nói chung và qua đó góp phần nâng cao hiệu quả của đẩu tranh chống tội phạm.

>> Xem thêm:  Thực nghiệm điều tra là gì ? Quy định mới về thực nghiệm điều tra

Với ba hướng ảnh hưởng đến phòng ngừa tội phạm trên đây, hoạt động chống tội phạm rõ ràng có vai trò quan trọng trong phồng ngừa tội phạm. Vai trò này của chống tội phạm phần nào đã được thể hiện qua việc BỘ LUẬT HÌNH SỰ Việt Nam khẳng định mục đích của hình phạt:

“... không chi nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ... có ỷ thức tuân theo pháp luật..., ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đau tranh phòng ngừa và chống tội phạm. ”

Do vậy, chống tội phạm phải được xem là một loại biện pháp phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, chúng ta không nên coi chống tội phạm là biện pháp phòng ngừa tội phạm cơ bản nhưng cũng không được xem nhẹ biện pháp phòng ngừa tội phạm này.

Chống tội phạm còn có ý nghĩa phòng ngừa tội phạm theo hướng thứ tư khi các biện pháp hình sự không chỉ bó hẹp là các hình phạt có tính truyền, thống mà còn được mở rộng thêm hệ thông hình phạt bô sung có tính phòng ngừa và các biện pháp có tính phòng ngừa mà trong luật hình sự Việt Nam hiện nay, các biện pháp này được gọi là các biện pháp tư pháp. Đây là các hình phạt bổ sung và các biện pháp khác có tính hình sự nhưng mục đích chính là nhằm phòng ngừa tội phạm. Theo Bộ luật hình sự Việt Nam, các hình phạt bổ sung có tính phòng ngừa gồm hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định (Điều 36); hình phạt cấm cư trú (Điều 37) và hình phạt quản chế (Điều 38). Các biện pháp tư pháp có tính phòng ngừa theo Bộ luật hình sự Việt Nam gồm biện pháp bắt buộc chữa bệnh (Điều 43); biện pháp giáo dục tại xã. phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng (Điều 70).

Với hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm như vậy việc chống tội phạm sẽ phát huy được vai trò phòng ngừa tội phạm khi áp dụng đúng và kịp thời các biện phâp phòng ngừa tội phạm này.

Chống tội phạm không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp đến phòng ngừa tội phạm mà kết quả của nó còn là cơ sở cho việc nghiên cứu nguyên: nhân của tội phạm để đề ra biện pháp phòng ngừa tội phạm thích hợp. Điều 27 BLTTHS đã thể hiện ý nghĩa này của chống tội phạm qua khẳng định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự như sau:

“Trong quá trình tiến hành 10 tụng hình sự, cơ quan điều tra, viện kiêm sát và toà án có nhiệm vụ tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa"

Chống tội phạm vừa là bộ phận không thể thiếu của phồng ngừa tội phạm nhưng đồng thời cũng là mật khác của.phòng ngửa tội phạm. Phòng tội phạm và chống tội phạm là hai mặt không tách rời của thể thống nhất.

Chống tội phạm có hiệu quả không thể tách rời việc chống các vi phạm pháp luật. Tính nghiêm minh của pháp luật không chỉ đòi hỏi “Mọi hành vi phạm tội phải đứợc phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật... ” mà còn đồi hỏi các vi phạm pháp luật khác cũng phải được phát hiện và xử lý kịp thởi, công minh. Tội phạm và vi phạm pháp luật là hai hiện tượng xã hội tiêu cực cùng tồn tại song song nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tội phạm có thể bắt nguồn từ vi phạm pháp luật: Có người phạm tội mà việc phạm tội của họ chỉ là sự ‘'phát triển” tiếp theo của các vi phạm hành chính hoặc vi phạm kỉ luật đã thực hiện trước đó. Đồng thời cũng có những tội phạm đã xảy ra trong hoàn cảnh đê tự giải quyết các vi phạm không được giải quyết bằng con đường hợp pháp một cách kịp thời. Phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng và đúng các vi phạm vừa góp phần xây dụng môi trường pháp lý nghiêm minh vừa loại trừ bớt một loại nguyên nhân của tội phạm. Như vậy, chống vi phạm pháp luật phải được xem như một biện pháp cần thiết củạ phòng ngừa tội phạm.

Tội phạm xảy ra luôn luôn gắn với tác động ở mức độ khác nhau của“tình huống tiêu cực” của môi trường xã hội. “Tình huống tiêu cực” của môi trường xạ hội không chỉ liên quan đến “phẩm chất tâm lý tiêu cực” của chủ thể mà còn giữ vai trò là một phần nguyên nhân của tội phạm khi tương tác với “phẩm chất tâm lý tiêu cực”. Do vậy, tác động đến môi trường xã hội để phòng ngừa tội phạm nhằm hai mục đích - mục đích góp phần thay đổi “phẩm chất tâm lý tiêu cực” theo hướng tích cực và mục đích loại trừ “Tình huông tiêu cực” của môi trường xã hội là một phần nguyên nhân của tội phạm khi tương tác với “phẩm chất tâm lý tiêu cực”. Để đạt đừợc cả hai mục đích này đòi hỏi sự tác động đến môi trường xã hội cũng phải có những hội dung khác nhau. Ngoài những biện pháp tác động đến môi trường xã hội chung đòi hỏi phải có những biện pháp tác động đến môi trường xã hội riêng cho mỗi mục đích. Đê đạt được mục đích loại trừ “Tình huống tiêu cực” của môi trường xã hội là một phần nguyên nhân của tội phạm khi tưcmg tảc với “phẩm chất tâm lý tiêu cực”, hoạt động phòng ngừa tội phạm cần hướng trước hết vào hoạt động quản lý thuộc các lĩnh vực mà ở đó tội phạm có thể xảy ra để đề ra biện pháp khắc phục các “khiếm khuyết" trong quản lý thuộc các lĩnh vực khác nhau. Các “khiếm khuyết" này có thể được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau nhưng có cùng tính chất như là yếu tố làm “dề dàng’’ việc phạm tội. Yếu tố này có thể xuất phát từ những hạn chế, sơ hở của văn bản pháp luật cũng như từ các yếu kém trong hoạt động quản lý nhà nước ở các lĩnh vực khác nhau (Những “kẽ hở” của các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội nói ở phần trên cũng là một loại yếu tố này).

Như vậy, ở định hướng thứ ba, các biện pháp phòng ngừa tội phạm được đề ra nhằm:

- Nâng cao hiệu quả hoạt động chống tội phạm và vi phạm;

>> Xem thêm:  Khám xét là gì ? Quy định pháp luật về khám xét người, khám xét chỗ ở ?

- Khắc phục các yếu kém, “khiếm khuyết" trong quản lý nhà nước ở các lĩnh vực.

Hai nhóm biện pháp phòng ngừa tội phạm trên đây có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nâng cao hiệu quả hoạt động chống tội phạm và vi phạm không chỉ có tác dụng giáo dục, răn đe mà còn giúp phát hiện sớm và đầy đủ các yếu kém, các “kẽ hở” trong quản lý nhà nước ở các lĩnh vực để có biện pháp khắc phục. Các nhà nghiên cứu tội phạm học cần phát hiện nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động chống tội phạm cũng như các “kẽ hở” trong quản lý vì hoạt động chống tội phạm kém hiệu quả cũng như sự tồn tại các “kẽ hở” trong quản lý đều là yếu tố “khuyến khích”, “tạo điều kiện” cho tội phạm xảy ra. Từ việc phát hiện này có thể đề xuất các biện pháp khắc phục để phòng ngừa tội phạm. Trong đó, cần tập trung vào việc hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện bộ máy tổ chửc, nâng cao năng lực và đạo đức công chức cũng như hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm tra...

4. Phòng ngừa tội phạm từ phía trách nhiệm của nạn nhân và của công dân nói chung

Trong các “Tình huống tiêu cực" có hai loại tình huống tương đối đặc biệt vì liên quan tới nạn nhân và liên quan tói công dân nói chung.

Nạn nhận trong tội phạm học được hiểu:

“Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức đã chịu thiệt hại về tính mạng, sức khóe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra.

Nạn nhân có thể liên quan đến nguyên nhân của tội phạm thông qua những xử sự cụ thể của cá nhân hoặc xử sự của các thành viên thuộc tổ chức. Những xử sự đó có thể là trái pháp luật hoặc không trái pháp luật. Nhưng các xừ sự đó đều có cùng tính chất là góp phần vào nguyên nhân làm phát sinh tội phạm. Những xử sự đó có thể là: mất cảnh giác, thờ ơ hoặc thiếu trách nhiệm ... trong việc bảo vệ đối tượng bảo vệ của luật hình sự hoặc có thê là xừ sự khác có tác động thúc đẩy, “khuyến khích” sự hình thành ý định phạm tội cũng như thực hiện ý định phạm tội đó ở người khác.

(Phản ứng của công dần đối với hành vi phạm tội cũng như đối với hành vị vi phạm pháp luật và thái độ của họ đối với người có hành vi phạm tội-hay hành vi vi phạm có ảnh hưởng nhất định đến tâm lý người phạm tội. Sẽ là áp lực tâm lý rất lớn có tác dụng kìm chế ý định phạm tội khi tất cả có thái độ sẵn sàng ngăn chặn tội phạm cũng như phát hiện tội phạm. Trái lại, tình trạng thờ ơ, thậm chí né tránh của số đông công dân trước hành vi phạm tội hiện nay đang “đóng góp” phần không nhỏ vào việc làm “dễ dàng” việc phạm tội.

Như vậy, ở định hướng thứ tư, các biện pháp phòng ngừa tội phạm được đề ra nhằm:

- Khắc phục tình trạng “vô tình tạo điều kiện" cho việc phạm tội của người khác đối với chính mình;

>> Xem thêm:  Chiến thuật hỏi cung bị can là gì ? Các bước tiến hành việc hỏi cung bị can

- Tăng cường các biện pháp “làm khó" cho việc thực hiện tội phạm để tự bảo vệ trước các hành vi phạm tội;

- Giáo dục ý thức trách nhiệm trong đấu tranh với tội phạm (cũng như vi phạm) cho tất cả công dân.

Tóm lại. phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân, thực hiện tổng thể các biện pháp gắn liền với các nhóm nguyên nhân của tội phạm để kiểm soát, hạn chế tác dụng và để loại trừ dần những nhóm nguyên nhân này. Chống tội phạm là một trong những hoạt động cần thiết đó nhưng không phải là biện pháp phòng ngừa tội phạm có tính ưu tiên vì không phải là biện pháp phòng ngừa tội phạm hữu hiệu nhất. Muốn phòng ngừa tội phạm có tính hiệu quả và bền vững cần phái ưu tiên các biện pháp phòng ngừa tội phạm tác động trực tiếp theo hướng loại trừ hoặc hạn chế tác dụng của các “Tình huống tiêu cực" của môi trường xã hội.

Nguyên nhân của tội phạm luôn là sự tương tác giữa các yếu tố “tiêu cực" thuộc vê môi trường xã hội và các yêu tô “tiêu cực" thuộc vê nhân cách của chủ thể. Việc loại trừ hoặc hạn chế tác dụng của các nguyên nhân của tội phạm không đòi hội nhất thièt phải tác động đồng thời và đều nhau lên tất cả các yểu tố này. Tính đồng bộ, tổng thể của các biện pháp phòng ngừa tội phạm là cân thiết nhưng tuỳ thuộc điều kiện cụ thể mà biện pháp phòng ngừa tội phạm có thể tập trung, ưu tiên hướng tới những yếu tố nhất định dễ tác động có hiệu quả hơn cả. Như vậy, các định hướng của biện pháp phòng ngừa tội phạm khi được cụ thể hoá có thể sẽ không nhất thiết phải giống nhau ở các địa phương và ở các thời điểm khác nhau cũng như đối với các nhóm tội khác nhau. Tuy nhiên, sự ưu tiên, tập trung vào một số yếu tố chỉ có tính tạm thời còn về nguyên tắc phải tiến hành đồng bộ hướng tới tất cả các yếu tố.

Các định hướng phòng ngừa tội phạm trên đây là các định hướng có tính lý thuyết. Việc nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa tội phạm theo phạm vi nhất định trong thực tế có thể tham khảo các định hướng này khi đề xuất các biện pháp phòng ngừa tội phạm nhưng đề xuất này phải dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu tình hình tội phạm và kết quả giải thích nguyên nhân của tội phạm. Việc đề xuất các biện pháp phòng ngừa không chỉ dừng lại ở việc đưa ra các biện pháp mà phải giải thích được cơ chế tác động của các biện pháp đến nguyên nhân của tội phạm cũng như tính khả thi của nó. Khi đề xuất các biện pháp phòng ngừa tội phạm cũng cần xác định được các biện pháp phòng ngừa tội phạm có tính chất chung và các biện pháp phòng ngừa tội phạm có tính đặc thù đồng thời cũng cần xác định thứ tự ưu tiên triển khai thực hiện các biện pháp đó.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)

>> Xem thêm:  Hỏi cung bị can là gì ? Phân tích quy định pháp luật về hỏi cung bị can ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Phân tích một biện pháp phòng ngừa tội phạm đã được áp dụng hiệu quả ?

Trả lời:

Phòng ngừa tội phạm là việc sử dụng hệ thống các biện pháp mang tính xã hội và nhà nước nhằm khắc phục những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, hạn chế và lọai trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội

Biện pháp phòng ngừa: phát động quần chúng xây dựng phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác và đấu tranh chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp ngăn ngừa tội phạm trong gia đình, nhà trường và xã hội. Củng cố các tổ dân phố, lực lượng bảo vệ chuyên trách, bán chuyên trách, các tổ chức đoàn thể quần chúng ở cơ sở phường, xã tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Khi phát hiện tội phạm, tố giác với cơ quan có thẩm quyền để ngăn chặn, xử lý hành vi phạm tội góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống.

Câu hỏi: Có thể nói tình hình tội phạm là bước đầu tiên trong việc đề ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm không? Vì sao?

Trả lời:

Tình hình tội phạm có xu hướng phức tạp và nghiêm trọng, phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi, liều lĩnh, vi phạm pháp luật còn xảy ra nhiều nếu không có biện pháp quyết liệt, để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật, cần xác định rõ trách nhiệm từng cấp từng ngành gắn với trách nhiệm người đứng đầu; phân tích tình hình trong và ngoài nước; tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đổi mới giáo dục pháp luật; thường xuyên kiểm tra, khắc phục kịp thời sơ hở, bất cập, thiếu sót, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước về kinh tế xã hội, an ninh trật tự; chỉ đạo lực lượng chức năng đẩy mạnh trấn áp tội phạm, tăng cường các biện pháp phòng tránh tội phạm, vi phạm pháp luật…

Đánh giá tình hình tội phạm cần phải xem xét các thiệt hại về nhiều mặt mà nó đã gây ra cho đời sống xã hội, phòng ngừa tội phạm luôn phải được coi trọng và ưu tiên trong các chương trình và kế hoạch quốc gia cũng như từng địa phương. Hiểu rõ được tình hình tội phạm sẽ giúp đề ra được các giải pháp phòng ngừa thiết thực và có hiệu quả nhất.

Câu hỏi: Tái hòa nhập xã hội có được coi là biện pháp phòng ngừa tội phạm không? Vì sao ?

Trả lời:

Có. Vì:

– Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp khác nhau của nhà nước, xã hội nhằm khắc phục, hạn chế và loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm để ngăn chặn và kiểm soát nó trong xã hội.

– Tái hòa nhập thường được đề cập đến các biện pháp tái hòa nhập xã hội được thiết kế đặc biệt để giúp người phạm tội được tha từ 1 cơ sở giam giữ và để giúp họ đối mặt với thách thức liên quan đến việc trở về cộng đồng. Hỗ trợ này bao gồm cả việc giải quyết những nhu cầu của người chưa thành niên và kiểm soát rủi ro người phạm tội có thể gây cho cộng đồng với nỗ lực ngăn cản họ tham gia vào hành vi phạm tội( phòng ngừa) hoặc làm giảm khả năng tái phạm của họ( phục hồi) .

Cụ thể, chủ động trong tiếp nhận, quản lý, giáo dục, giúp đỡ người được mãn hạn tù trở về. Công an xã, thị trấn nắm các thông tin như: lịch sử bản thân, hoàn cảnh gia đình, các mối quan hệ xã hội, vấn đề lao động, việc làm của các đối tượng để có biện pháp giáo dục phù hợp. Trong thời gian các đối tượng chịu sự quản lý, giáo dục tại địa phương, công an và các ban, ngành, đoàn thể bằng tình thương và trách nhiệm đã thường xuyên gặp gỡ, giáo dục, động viên, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của họ để có kế hoạch giúp đỡ, tạo điều kiện cho họ tiến bộ. Thông qua hoạt động của các tổ an ninh xã hội tại khu dân cư đã huy động sự chung tay của quần chúng nhân dân xây dựng nguồn qũy, giúp đỡ nhiều đối tượng trên địa bàn được vay vốn, tạo việc làm, ổn định cuộc sống và không tái phạm tội.

Trong đó công tác quản lý, giáo dục người được tha tù tái hòa nhập cộng đồng vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp quan trọng trong công tác phòng ngừa tội phạm, giúp đỡ người có quá khứ lầm lỗi vươn lên hòa nhập cộng đồng.