Trả lời:

Việc phân định biển giữa các quốc gia là một trong những việc quan trọng bậc nhất liên quan đến lợi ích quốc gia và an ninh khu vực cũng như quốc tế. Việc ảnh hưởng đến quá trình phân định biển có nhiều trường hợp, hoàn cảnh đặc biệt khác nhau, cụ thể:

1. Hoàn cảnh đặc biệt liên quan đến phân định biển

Trước Hội nghị Lahay năm 1930, phân định biển giữa các quốc gia được tiến hành thông qua đàm phán. Các phương pháp để xác định biển giới quốc gia trên bộ cũng thường được áp dụng để xác định biển giới quốc gia trên biển, ví dụ đường kéo dài biển giới quốc gia trên bộ, đường vuông góc với hướng chung của bờ biển, đường kinh tuyến/vĩ tuyến... Đến thế kỉ XX, thực tiễn quốc gia đã phát triển đáng kể liên quan đến lãnh hài nên một số quốc gia đã bắt đầu chủ động cân nhắc đến việc phân định biển thông qua cơ chế tài phán quốc tế.

Sự xuất hiện và định hình các hoàn cảnh đặc biệt ảnh hưởng đến quá trình phân định biển luôn gắn với quá trình cơ quan tài phán quốc tế giải quyết các tranh chấp về phân định biển. Vụ Grisbadama năm 1909 giữa Norway và Sweden là án lệ đầu tiên mà cơ quan tài phán đưa ra phán quyết phân định biển bằng phương pháp đường vuông góc so với xu hướng chung của bờ biển, đồng thời cân nhẳc đến thực tế là cả hai quốc gia đã cùng khai thác bãi cá nên việc trao nó cho một quốc gia sẽ không phù hợp với lịch sử của vùng.1

Sau đó, Công ước Giơnevơ 1958 khái quát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển trong thuật ngữ “các hoàn cảnh đặc biệt” và Điều 15 Công ước luật biển năm 1982 nhắc lại thuật ngữ này nhằm xác định trường hợp ngoại lệ, không ưu tiên áp dụng phương pháp đường trung tuyến trong phân định lãnh hải. Tuy Điều 74 và Điều 83 Công ước luật biển năm 1982 không đề cập đến “các hoàn cảnh đặc biệt” nhưng vẫn phải xem xét các yếu tố này khi phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Bởi lẽ, “gần như không thể đạt được một giải pháp công bằng trong bất cứ cuộc phân định nào mà không tính đến các hoàn cảnh liên quan của vùng phân định”. Hơn nữa, tất cả các báo cáo của ủy ban các chuyên gia và các văn bản trong quá trình đàm phán của các Hội nghị luật biển cũng cho thấy, “hoàn cảnh đặc biệt” là khái niệm hướng đến sự công bằng. Nguyên tắc công bằng và hoàn cảnh đặc biệt có quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc áp dụng nguyên tắc công bằng trong suốt quá trình phân định đòi hỏi phải cân nhắc kĩ mọi hoàn cảnh hiện có và phải dành cho từng hoàn cảnh một ý nghĩa thích hợp, cần thiết.

Thuật ngữ “các hoàn cảnh liên quan” cũng chính thức được đưa vào Luật biển quốc tế bởi phán quyết của ICJ trong vụ Thềm lục địa biển Bắc năm 1969 và sau đó, thuật ngữ này được sử dụng phổ biển trong các án lệ của cơ quan tài phán quốc tế cũng như trong quá trình làm việc của Hội nghị luật biển lần III nhằm đề cập đến những thực tế cần được xem xét trong quá trình phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Theo quan điểm của ICJ trong vụ phân định biển giữa Greenland và Jan Mayen năm 1993 và vụ Carmeroon - Nigeria năm 2002, mặc dù có sự khác nhau về nguồn gốc và tên gọi nhưng có một xu hướng tất yếu là đồng hóa “các hoàn cảnh đặc biệt” với “các hoàn cảnh liên quan” bởi vì chúng đều nhằm đạt được kết quả công bằng.

Tuy nhiên, “các hoàn cảnh đặc biệt’’ không thể là thước đo duy nhất và là yếu tố tự bản thân nó có ảnh hưởng trong phân định biển. Ngược lại, “các hoàn cảnh đặc biệt” phải được vận hành trong khuôn khổ của các nguyên tắc công bằng và đường cách đều. Mục đích của việc tính đến “các hoàn cảnh đặc biệt” không phải là để “làm lại tự nhiên” hoặc “xóa đi sự công bằng mà là để đạt được sự công bằng hơn”. Chính vì vậy, việc xác định một “hoàn cảnh đặc biệt” sẽ tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của vùng biển phân định có hoàn cảnh ấy. Không có một giới hạn pháp lý nào về việc định ra các hoàn cảnh đặc biệt. Vì vậy, tiêu chuẩn để xác định một yếu tố có phải là “hoàn cảnh đặc biệt” hay không chính là kết quả không công bằng mà người ta có thể thấy khi so sánh kết quả áp dụng đường cách đều tạm thời với kết quả áp dụng đường cách đều đã được điều chỉnh. Tóm lại, “các hoàn cảnh đặc biệt” là các thực tế mà sự tồn tại của nó làm cho đường cách đều trở thành đường phân định không công bằng và cần phải có một sự tiếp cận riêng để xóa bỏ ảnh hưởng không công bằng thông qua việc điều chỉnh đường cách đều tạm thời hoặc áp dụng phương pháp phân định khác với phương pháp cách đều.

>> Xem thêm:  Công pháp quốc tế là gì ? Khái niệm công pháp quốc tế được hiểu như thế nào ?

2. Một số hoàn cảnh đặc biệt ảnh hưởng đến quá trình phân định biển

2.1 Các hoàn cảnh địa lý

- Hình dạng của các bờ biển:

Trong phân định biển, việc tính đến hình dạng của các bờ biển nhằm tránh sự bất công bằng nảy sinh do áp dụng phương pháp cách đều một cách chặt chẽ. Trên thực tế, hình dạng của bờ biển là yếu tố được các thẩm phán xem xét đến trong tất cả các vụ việc phân định biển bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới đường cách đều. Tính chất đặc biệt của hình dạng bờ biển bao gồm các hoàn cảnh như: Bờ biển đối diện hay liền kề; bờ biển lồi hay lõm; hướng chung của bờ biển. Hướng chung của bờ biển được xác định là hoàn cảnh liên quan trong vụ Tunisia - Libya năm 1982 và vụ vịnh Main năm 1984. Hoàn cảnh này cũng được đặc biệt lưu ý trong vụ Guinea - Guinea Bissau năm 1985, khi Tòa cho rằng hình dạng tổng thể của bờ biển Tây Phi cần phải được tính đến. Tuy nhiên, hiện nay Tòa án và trọng tài có xu hướng áp dụng phương pháp cách đều trong giai đoạn đầu tiên của phân định, bất kể hình dạng của bờ biển. Như vậy, sự phân biệt giữa bờ biển đối diện hay liền kề chỉ có giá trị hạn chế trong phân định biển.

Trong khi đó, hình dạng bờ biển lồi hay lõm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phân định biển. Đặc biệt, trong vụ thềm lục địa Biển Bắc năm 1969, ICJ cho rằng phương pháp cách đều sẽ không công bằng ở những nơi mà bờ biển lõm bởi nó có thể tạo ra ảnh hưởng làm biển dạng đường phân định. Quan điểm này được nhắc lại trong vụ Libya - Malta năm 1985, vụ Bangladesh - Myanmar năm 2012 và Bangladesh - India năm 2014? Trên thực tế, việc xác định tính lồi lõm của bờ biển còn tùy thuộc vào tỉ lệ của bản đồ hoặc địa lý vĩ mô, ví dụ liệu bờ biển của quốc gia láng giềng thứ ba có được tính đến trong việc đánh giá hình dạng của các bờ biển liên quan hay không.

- Cách tính tỉ lệ

Trong phân định biển, khái niệm về tính tỉ lệ có nguồn gốc từ yêu sách của Đức trong vụ Thềm lục địa Biển Bắc năm 1969. Theo khái niệm này, phân định biển phải được tiến hành bằng việc tính đến tỉ lệ giữa chiều dài đường bờ biển và diện tích các vùng biển được trao cho mỗi quốc gia. Theo quan điểm của ICJ trong vụ thềm lục địa Biển Bắc năm 1969, có ba đặc điểm địa lý đòi hỏi phải tính đến yểu tố tỉ lệ, đó là:

- Các bờ biển đối diện; (ii) hình dạng bờ biển đặc biệt lồi, lõm;

- Chiều dài gần như là bằng nhau của các bờ biển liên quan. Trong các hoàn cảnh này, việc áp dụng đường cách đều sẽ làm giảm diện tích thềm lục địa của Đức (bờ biển lõm) so với các quốc gia láng giềng. Vì vậy, yếu tố tỉ lệ được tính đến để xóa đi ảnh hưởng bất công bang do việc sử dụng đường cách đều. Cũng cần phải lưu ý rằng, trong vụ việc này, tính tỉ lệ đã không được Tòa coi là một nguyên tắc riêng biệt của phân định biển mà chỉ là một yếu tố để đảm bảo quá trình phần định phù hợp với các nguyên tắc công bằng. Hơn nữa, tính tỉ lệ vẫn là một yếu tố “cuối cùng” được Tòa xem xét để kiểm ưa tính công bằng của đường phân định.

Tuy nhiên, ưong tất cả các án lệ sau này, tòa án và trọng tài đều viện dẫn đến tính tỉ lệ, bất kể là giữa các bờ biển kề cận và không có hoàn cảnh lồi lõm hay giữa các bờ biển đối diện, bất kể hoàỉi cảnh địa lý hoàn toàn khác so với vụ Thềm lục địa Biển Bắc năm 1969 (vụ Barbados - Trinidad & Tobago năm 2006; Guyana - Suriname năm 2007; Romani - Ukraine năm 2009; Banglandesh - Myanmar năm 2012)... Hơn nữa, Tòa án và trọng tài cũng mở rộng chức năng của tính tỉ lệ. Cụ thể, yểu to tỉ lệ được áp dụng để kiểm tra sự công bằng của đường phân định đã được đề xuất (vụ Lybia - Malta năm 1985; Saint Pierre - Miquelon năm 1992...), hoặc để điều chỉnh đường cách đều tạm thời (vụ vịnh Main năm 1984; Libya - Malta năm 1985...), hoặc như bước thứ ba trong quá trình phân định (vụ Romania - Ukraine năm 2009; Nicaragua - Colombia năm 2012...). Tuy nhiên, việc áp dụng rộng rãi khái niệm về tính tỉ lệ cũng đặt ra yêu cầu phải luật hóa các tiêu chí khách quan để tính toán chiều dài các bờ biển và diện tích bề mặt biển hoặc để đánh giá mối liên hệ hợp lý giữa chiều dài bờ biển với các vùng biển thuộc yề quốc gia.

- Các đường cơ sở

Trên cơ sở Điều 15 Công ước luật biển năm 1982, Điều 12 và Điều 24 Công ước Giơnevơ 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp, Điều 6 Công ước Giơnevơ 1958 về Thềm lục địa thì việc lựa chọn đường cơ sở và các điểm cơ sở là nền tảng để vẽ đường cách đều tạm thời. Tuy nhiên, thực tiễn phân định biển tại cơ quan tài phán quốc tế cho thấy, việc sử dụng đường cơ sở hoặc các điểm cơ sở do các bên đơn phương thiết lập để làm cơ sở cho phân định biển có thể dẫn đến kết quả không công bằng. Vì vậy, các quốc gia phải thỏa thuận với nhau hoặc thông qua cơ quan tài phán quốc tế để lựa chọn các điểm cơ sở có liên quan nhằm mục đích phân định biển. Ví dụ, đảo Filfla được sử dụng làm điểm cơ sở trong hệ thống đường cơ sở thẳng của Malta nhưng đã không được ICJ sử dụng làm cơ sở để xác định đường phân định biển trong vụ Lybia - Malta năm 1985. Cách tiếp cận tương tự cũng được ICJ áp dụng trong vụ Eritrea - Yemen năm 1999 và vụ Qatar - Bahrain năm 2001? Trong vụ Romania - Ukraine năm 2009), ICJ đã phân biệt rõ ràng giữa đường cơ sở dùng để đo chiều rộng các vùng biển và đường cơ sở dùng để phân định biển là hai vấn đề khác nhau. Việc kiểm tra tính hợp pháp của đường cơ sở và các điểm cơ sở do các quốc gia đơn phương tuyên bố sẽ góp phần ngăn chặn kết quả không công bằng nảy sinh từ việc áp dụng tự do các đường cơ sở thẳng và đường cơ sở quần đảo.

- Sự hiện diện của các đảo

Mặc dù, sự hiện diện của đảo ở trong vùng phân định luôn được thừa nhận là hoàn cảnh liên quan nhưng thực tiễn quốc tế đa dạng đến mức khó có thể cụ thể hóa một quy tắc chung liên quan đến mức độ ảnh hưởng của đảo trong phân định biển. Cơ quan tài phán quốc tế sẽ quyết định ảnh hưởng của đảo trong phạm vi khuôn khổ của các nguyên tắc công bằng. Nhìn chung, có bốn mô hình mà cơ quan tài phán quốc tế trao hiệu lực cho đảo:

- Hiệu lực đầy đủ: Khi đảo tạo thành một phần không tách rời của hình thái bờ biển (các đảo thuộc quần đảo Dahlak trong vụ Eritrea - Yemen năm 1999...);

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

- Không có hiệu lực: Khi đảo nhỏ, không cấu thành hình thái chung của bờ biển (Đảo Djerba trong vụ Tunisia - Lybia năm 1982; đảo Bijagos và Southern trong vụ Guinea - Guinea Bissaun năm 1985...);

- Khoảnh vòng đảo: Khi bất cứ danh nghĩa nào do đảo tạo ra cũng nằm trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ bờ biển đất liền của một trong các bên (Đảo Chanel trong vụ thềm lục địa Anh - Pháp năm 1977; đảo Serpents trong vụ Romania - Ukraine năm 2009...);

- Hiệu lực một phần: Khi việc trao hiệu lực đầy đủ cho đảo tạo ra đường phân định không cân xứng (Đảo Scilly trong vụ thềm lục địa Anh - Pháp năm 1977; đảo Kerkennah trong vụ cấu trúc của đáy biển, các yếu tố địa mạo liên quan đến hình dạng và hình thái của đáy biển. Nhìn chung, các yếu tố này ít được các quốc gia và cơ quan tài phán quốc tế trao cho ảnh hưởng đáng kể đối với vị trí của các đường phân định. Các lý do cho thực tế này có thể là vì theo UNLCLOS 1982, các quốc gia ven biển có thể yêu sách vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đến 200 hải lý, bất kể địa chất và địa mạo của vùng. Ngoài ra, việc áp dụng chỉ một đường phân định cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hoặc áp dụng phương pháp hình học cũng góp phần hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố địa chất và địa mạo trong phân định biển.

- Sự hiện diện của các quốc gia thứ ba

Sự hiện diện của các quốc gia thứ ba có thể là một hoàn cảnh đặc biệt ảnh hưởng đến quá trình phân định biển bởi vì vùng phân định có thể liên quan đến danh nghĩa pháp lý của quốc gia thứ ba. Từ các án lệ quốc tế cho thấy có hai khả năng mà cơ quan tài phán tiếp cận trong trường hợp này:

Thứ nhất, cơ quan tài phán quốc tế vẫn vẽ một đường trong vùng phân định - nơi mà có thể liên quan đen danh nghĩa pháp lý của các quốc gia thứ ba. Cách tiếp cận này đã được Tòa áp dụng trong vụ thềm lục địa Anh - Pháp năm 19771 và vụ Nicaragua - Colombia năm 2012, mặc dù không tránh khỏi việc kết quả phân định của Tòa có ảnh hưởng đến các đường phân định biển đã được ký kết trước đó giữa Anh và Colombia với các quốc gia láng giềng.

Thứ hai là cơ quan tài phán quốc tế sẽ cắt vùng mà có thể liên quan đến các yêu sách của bên thứ ba ra khỏi phạm vi tài phán của mình. Theo cách tiếp cận này, cơ quan tài phán quốc tế chỉ đơn giản dừng đường phân định ở điểm mà một quốc gia thứ ba có thể trở thành bên liên quan. Cách tiếp cận này đã được áp dụng trong vụ Tunisia - Lỷbia năm 1982; Lybia - Malta năm 1985; Eritrea - Yemen năm 1999... Tuy nhiên, việc xác minh sự liên quan của quốc gia thứ ba là vấn đề hết sức phức tạp nên thường được Tòa kiểm tra bằng cách vẽ một đường cách đều ở giai đoạn đầu tiên của quá trình phân định.

2.2 Các yếu tố phi địa lý

- Các yếu tố kinh tế

Các yếu tố kinh tế bao gồm sự tồn tại của nguồn tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, khí đốt, cá... và các yếu tố kinh tế - xã hội, ví dụ như sự phụ thuộc về kinh tế của các quốc gia vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự thịnh vượng về kinh tế của quốc gia... Trên thực tế, các quốc gia thường viện dẫn cả hai yếu tố này bởi vì chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhìn tổng thể từ các án lệ quốc tế, các yếu tố kinh tế không cỏ nhiều ảnh hưởng đến đường phân định biển bởi vì chúng thường thay đổi theo thời gian. Ví dụ như trong vụ Cameroon - Nigeria năm 2002, ICJ đã tuyên bố: “Các giếng dầu bản thân nó không dược xem như là các hoàn cảnh liên quan để thỏa mãn việc điều chỉnh hay chuyển dịch đường phân định tạm thời. Chỉ trong trường hợp dựa trên một thỏa thuận rõ ràng hay ngầm định giữa các bên thì chúng mới có thể được tính đến”.1

Ở giai đoạn tiến hành phân định, trừ vụ Greenland - Jan Mayen năm 1993, cơ quan tài phán quốc tế không đưa ra bất kì phán quyết nào mà trong đó đã tính đến sự hiện diện của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bất kể trong phân định thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh tế hoặc phân định hai vùng này bằng một đường duy nhất. Trong một số trường hợp, ví dụ như trong vụ vịnh Main năm 1984 và vụ Saint Pierre - Miquelon năm 1992, yếu tố kinh tế chỉ được tính đến sau cùng nhằm kiểm tra sự công bằng của đường phân định đã được vẽ. Nhìn chung, trong bất cứ trường hợp nào, các yếu tố kinh tế chỉ đóng vai trò thứ yếu nhằm kiểm fra liệu các đường phân định đã được thiết lập có tạo ra kết quả “hoàn toàn bất công bằng” hay không.

Trong thỏa thuận giữa các quốc gia, yếu tố kinh tế cũng không tác động trực tiếp đến vị trí của đường phân định thềm lục địa cũng như đường phân định duy nhất cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Thay vào đó, trong một số thỏa thuận, các quốc gia đã giải quyết các vấn đề kinh tế một cách linh hoạt bằng việc xây dựng một số điều khoản về tài nguyên khoáng sản chung hoặc bằng việc thiết lập các chế độ họp tác phát triển chung.

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế

- Hành vi của các bên

Trong thực tiễn quốc tế, hành vi của các bên có ảnh hưởng rất hạn chế đến đường phân định biển. Các phán quyết liên quan đến phân định biển cho thấy, cơ quan tài phán quốc tế thường không dựa trên cơ sở hành vi của các bên để chấp nhận sự tồn tại của đường phân định tạm thời (de facto), trừ khi có thỏa thuận rõ ràng hoặc ngầm định giữa các bên. Nhất quán với cách tiếp cận này, trong vụ Nicaragua - Honduras năm 2007, ICJ cho rằng hành vi của Honduras và Nicaragua “chưa hình thành thỏa thuận ngầm định có hiệu lực giữa các bên về việc thiết lập đường biển giới tạm thời”.

Cho đến nay, cơ quan tài phán quốc tế chỉ rõ ràng tính đến hành vi của các bên là một hoàn cảnh đặc biệt trong phân định thềm lục địa giữa Tunĩsa - Lybia năm 1982. Cụ thể, trong vụ việc này, một đường tạm thời (de facto) - kết quả của những đặc nhượng về thăm dò và khai thác dầu mỏ, khí đốt xa bờ đã được cả hai quốc gia cấp phép - đã được ICJ xem như là hoàn cảnh đặc biệt trong phân định biển giữa hai quốc gia. Mặt khác ICJ cũng nhấn mạnh rằng, bằng chứng rõ ràng về một thỏa thuận ngầm định “phải là bắt buộc”.1 Phán quyết này dường như gợi ý rằng, chỉ khi hành vi của các bên có thể chứng minh sự hiện diện của một tạm ước hoặc một đường tạm thời (de facto), hoặc một thỏa thuận về áp dụng một phương pháp cụ thể thì những thực tế như vậy mới có thể được Tòa tính đến là hoàn cảnh đặc biệt trong phân định biển. Đây cũng là quan điểm của ITLOS trong vụ Bangladesh - Myanmar năm 2012.

Tuy nhiên, cách tiếp cận nêu trên của ICJ cũng có thể dẫn đến nguy cơ các quốc gia sẽ đưa ra ý tưởng về sự hữu hiệu và chiếm giữ vào trong luật phân định biển. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa là đương nhiên và vốn có, vì vậy, ý tưởng về sự hữu hiệu sẽ không phù họp với đặc trưng cơ bản về quyền pháp lý của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa. Hơn nữa, nếu hành vi của các bên được trao quá nhiều ảnh hưởng đến phân định biển thì điều đó có thể sẽ khuyến khích các hành vi đơn phương chiếm giữ thềm lục địa. Với những vấn đề nêu trên, việc thừa nhận hành vi của các bên là hoàn cảnh đặc biệt trong phân định biển như phán quyết vụ Tunisia/Lybia năm 1982 chỉ là ngoại lệ và chúng không thể là sự áp dụng chung trong luật phân định biển.

- Các quyền lịch sử

Thuật ngữ “các quyền lịch sử” có thể được định nghĩa là các quyền đối với các vùng đất và biển nhất định mà một quốc gia có được thông qua quá trình sử dụng liên tục, lâu dài và công khai, được các quốc gia khác mặc nhiên thừa nhận, mặc dù các quyền này thông thường sẽ không thuộc về quốc gia đó theo luật quốc tế chung. Theo quan điểm của Tòa trọng tài trong vụ Philipines - Trung Quốc (2016): “Các quyền lịch sử có thể bao gồm chủ quyền, nhưng có thể tương đương bao gồm các quyền hạn chế hơn, ví dụ như quyền đánh cá hoặc quyền tiếp cận, đó là những quyền mà thiếu một yêu sách chủ quyền”. Ngược lại, “danh nghĩa lịch sử” được sử dụng để đề cập một cách rõ rệt tới chủ quyền lịch sử đối với các vùng đất hoặc biển”. Như vậy, khác với “danh nghĩa lịch sử”, các quyền lịch sử không có tính chất đặc quyền và có thể tương thích, phù hợp với một danh nghĩa biển thuộc về một quốc gia khác. Một trong các ví dụ minh chứng cho điều này là khoản 1 Điều 51 Công ước luật biển năm 1982 quy định rằng, quốc gia thực hiện chủ quyền đối với các vùng nước quần đảo phải “thừa nhận các quyền đánh bắt hải sản truyền thống” của các quốc gia khác.

Do việc thực hiện các quyền không đặc quyền này có thể phù hợp với danh nghĩa chủ quyền của một quốc gia khác, cho nên chủ quyền hoặc quyền tài phán đối với vùng biển được nêu có thể bị tranh chấp. Vì vậy, trong trường hợp này việc phân định biển được đặt ra nhằm thiết lập các đường phân tách giữa các quốc gia liên quan.

Trên thực tế, các quyền lịch sử hiếm khi được cơ quan tài phán tính đến để điều chỉnh đường cách đều tạm thời. Trong vụ Tunisia - Lybia năm 1982, các quyền lịch sử đã được ICJ cho là có liên quan đến phân định khi tuyên bố rằng: “Các quyền lịch sử phải được tôn trọng và được bảo tồn như chúng đã luôn luôn là như thế do việc sử dụng lâu dài”. Tuy nhiên, trong giai đoạn tiến hành phân định, Tòa thấy rằng không cần thiết phải quyết định về tính hiệu lực của các quyền lịch sử của Tunisia bởi vì đường phân định do Tòa vẽ ra đã trao cho Tunisia sở hữu đầy đủ vùng mà có tồn tại quyền lịch sử ấy. Trọng tài trong vụ Eritrea - Yemen năm 1999 đã không tính đến chế độ đánh cá truyền thống dựa trên các cơ sở rằng, sự tiếp cận tự do đối với đánh cá - vốn là nền tảng của chế độ đỏ - không phụ thuộc vào việc phân định biển. Vì vậy, họng tài đã đưa ra một giải pháp khả thi khác, đó là tách các chế độ đánh cá truyền thống ra khỏi vấn đề phân định biển. Nếu sự tự do tiếp cận với các nguồn tài nguyên là lợi ích thực sự ẩn chứa đằng sau các quyền lịch sử thì những lợi ích đó có thể được bảo vệ bằng một thỏa thuận đảm bảo cho sự tiếp cận như vậy không phụ thuộc vào phân định biển.

Trong thực tiễn quốc gia, đáng lưu ý là Hiệp định năm 1976 giữa Ấn Độ và Sri Lanka đã giải quyết vấn đề các quyền lịch sử, mà không điều chỉnh đường phân định. Cụ thể, các bên đã thiết lập một giai đoạn chuyển giao về nghề cá và trao một lượng đáng kể cá cho quốc gia khác có liên quan. Giải pháp này dường như cung cấp một hướng dẫn thực tế để giải quyết vấn đề về quyền lịch sử trong phân định biển.

- Các yếu tố an ninh, hàng hải và môi trường

Nhìn chung, các yếu tố an ninh, hàng hải và môi trường không có ảnh hưởng trực tiếp hoặc có rất ít ảnh hưởng đối với đường phân định biển. Ví dụ, ICJ đã chú ý đến yếu tố an ninh như là một hoàn cảnh liên quan trong các vụ Libya - Malta năm 1985, vụ Greenland - Jan Mayen năm 1993 và vụ Romania - Ukraine năm 2009.1 Tuy nhiên, khi tiến hành phân định, Tòa cho rằng lợi ích an ninh không ảnh hưởng đến vị trí của đường phân định trong các vụ việc trên bởi vì các đường phân định do Tòa vẽ ra đều “không quá gần với bờ biển của bất cứ bên nào để làm cho vấn đề về an ninh trở thành một cân nhắc đặc biệt”. Như vậy, Tòa đã coi lợi ích an ninh như là một vấn đề về khoảng cách.

Các yếu tố hàng hải có ảnh hưởng đển một vài đoạn đường phân định lãnh hải trong vụ Eritrea - Yemen năm 1999 (giai đoạn 2) hoặc được đề cập một cách rõ ràng trong vụ Guyana - Suriname năm 2007. Ngoài các trường hợp này, án lệ quốc tế hàu như không đề cập đến sự ảnh hưởng của các yếu tố hàng hải đối với đường phân định. Thực tiễn quốc gia cũng có đề cập đến ảnh hưởng của các yếu tố hàng iiải nhưng chủ yếu là trong phân định lãnh hải. Tương tự, mặc dù bảo vệ môi trường biển là một vấn đề quan trọng nhưng khi giải quyết các vụ việc phân định biển, cơ quan tài phán quốc tế dường như ít chú ý đến các yếu tố môi trường. Ví dụ, trong vụ vịnh Main năm 1984, ICJ đã loại bỏ yếu tố sinh thái, môi trường như là một tiêu chí chủ yếu trong phân định biển bởi vì nó không phù hợp với “tiêu chí trung bình” khi vẽ một đường duy nhất cho phân định cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Tóm lại, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển là “các hoàn cảnh đặc biệt” được xác định dựa trên cơ sở các nguyên tắc công bằng. Các hoàn cảnh đặc biệt tồn tại khi sự hiện diện của chúng làm cho đường cách đều trở thành đường phân định không công bằng. Mặc dù về lý thuyết, danh sách các “hoàn cảnh đặc biệt” là không có giới hạn nhưng thực tiễn đã chứng minh rằng, các yếu tố địa lý ven biển luôn có vai trò thiết yếu trong phân định biển, đặc biệt là hình thái của bờ biển, chiều dài bờ biển và sự hiện diện của đảo ở trong vùng phân định. Mặt khác, không có yếu tố nào trong các yếu tố trên luôn luôn cấu thành “các hoàn cảnh đặc biệt” và thậm chí, một số yếu tố nêu trên có sự liên quan chỉ trong việc phân định những vùng biển nhất định.

>> Xem thêm:  Quần đảo là gì ? Quốc gia quần đảo là gì ? Vùng nước quần đảo được hiểu thế nào ?

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)

>> Xem thêm:  Vùng nước quần đảo là gì ? Chế độ pháp lý vùng nước quần đảo