1. Phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo - mẫu 1
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, bên cạnh bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn có hai áng thiên cổ hùng văn cũng được xem là hai bản tuyên ngôn cho nền độc lập, cho chủ quyền lãnh thổ của dân tộc ta - đó là Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Ở mỗi thời điểm cùng với hoàn cảnh khác nhau tác động đến, những góc nhìn khác nhau của mỗi tác giả thế nhưng tựu chung lại, những "bản tuyên ngôn" này đều thể hiện một tư tưởng đầy tiến bộ và đúng đắn. Nếu như ở Nam quốc sơn hà là một lời khẳng định chắc nịch về chủ quyền lãnh thổ, bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh lại thể hiện về quyền con người, quyền được hưởng độc lập, tự do mà không một thế lực nào có thể xâm phạm tới. Với Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã đặt vào đó tư tưởng phải chăm lo cho dân, yêu dân và gắng hết sức dẹp trừ bạo loạn để nhân dân có được một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Tư tưởng này của ông được thể hiện rõ ràng nhất ở đoạn đầu tiên của tác phẩm.
Ngay mở đầu tác phẩm, lý tưởng chủ đạo của toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Trãi thể hiện một cách rõ ràng:
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
Hai mục tiêu chiến đấu cao cả và có ý nghĩa thiêng liêng nhất của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đó chính là vì việc nhân nghĩa. Việc nhân nghĩa ấy lúc này chính là "yên dân" và "trừ bạo". Bởi được kế thừa tư tưởng từ Nho giáo, nhân nghĩa với Nguyễn Trãi chính là làm cho người dân có một cuộc sống yên ổn, hạnh phúc. Lấy nhân dân làm gốc chính là một quy luật, là tài sản vô giá cũng như là sức mạnh, sinh khí của một quốc gia - đây cũng chính là điều mà ông đã theo đuổi cả đời. Việc nhân nghĩa đó còn là trừ bạo, trừng trị những kẻ đã hành hạ, cướp bóc khiến nhân dân mất đi cuộc sống no ấm, rơi vào cảnh khốn khó lầm than. Hiểu rộng hơn, việc trừ bạo chính là hành động đứng lên chống lại những kẻ xâm lược bờ cõi quốc gia. Tác giả đã khẳng định một lần nữa ta là bên chính nghĩa, còn địch là những kẻ phi nghĩa và vạch trần sự xảo trá của chúng. Yên dân và trừ bạo tưởng chừng như là hai vấn đề chẳng liên quan tới nhau thế nhưng thực chất chúng đều là những vấn đề cần được giải quyết đồng thời cùng lúc, thống nhất với nhau bởi phải diệt trừ những kẻ tàn bạo, xâm lăng thì cuộc sống của nhân dân mới yên ấm được. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong tác phẩm này thực sự là một tinh thần lớn, một tinh thần chính nghĩa được xuất phát bởi một tình yêu thương và tấm lòng thiết tha mong cho những người dân nước Việt được sống trong sung túc, đủ đầy và hạnh phúc.
Tư tưởng nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi đã trở thành một lý tưởng xã hội, trở thành một chân lý đúng đắn suốt ngàn đời nay: phải chăm lo cho nhân dân thì cuộc sống, đất nước mới được bình yên. Tác giả không chỉ nói đến nhân nghĩa một cách chung chung mà đã đưa ra được điều cốt lõi và giá trị nhất của nó. Bên cạnh đó, nhân nghĩa trong tư tưởng của Nguyễn Trãi còn gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền đất nước và khẳng định tinh thần độc lập của dân tộc:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Đến Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.
Nếu như ở Nam quốc sơn hà ra đời 400 năm trước, Lý Thường Kiệt chỉ nói tới lãnh thổ và chủ quyền độc lập để xác định các yếu tố của một quốc gia độc lập thì tới Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã bổ sung thêm các yếu tố về văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán và nhân tài - những yếu tố cần thiết nữa để tạo nên một quốc gia độc lập. Đây chính là một điểm sáng của sự sáng tạo cũng như tài năng của tác giả. Với mỗi quốc gia, nền văn hiến chính và một thứ không thể thay đổi, không thể xoá bỏ hay nhầm lẫn với bất kì một nơi nào. Nước Đại Việt cũng có một nền văn hiến từ rất lâu đời, núi sông bờ cõi cũng đã được phân chia rõ ràng và cũng có phong tục tập quán khác biệt. Nguyễn Trãi chỉ ra điều này bởi ông muốn nhấn mạnh rằng nước Đại Việt có những sự riêng không thể nhầm lẫn, thay đổi hay trộn lẫn với bất kì một quốc gia hay nền văn hoá nào khác được. Ngoài ra, để lập luận của mình càng trở nên chặt chẽ, Nguyễn Trãi đã đặt các triều Đại "Triệu, Đinh, Lý, Trần" ngang hàng với "Hán, Đường, Tống, Nguyên" ở Trung Quốc để cho người đọc thấy được sự tồn tại song song của các triều đại, một lần nữa khẳng định mạnh mẽ chủ quyền. Đây là một sự đối sánh vô cùng tinh tế, thể hiện tài năng cũng như một niềm tự hào dân tộc, niềm yêu nước mãnh liệt của đại thi hào của dân tộc. Một yếu tố quan trọng cuốc cùng mà ông nhắc tới chính là nhân tài để khẳng định rằng dù thời thế có đổi thay, khi yếu khi mạnh thế nhưng đấng hào kiệt thì lúc nào cũng có. Câu thơ ngắn gọn nhưng lại đanh thép, thể hiện sức mạnh con người của nước Đại Việt cũng như một lời nhắc nhở, răn đe với những kẻ có ý đồ muốn xâm chiếm nước ta. Với các yếu tố trên, tác giả đã khái quát một cách rõ nét nhất về một nền độc lập toàn diện của đất nước ta.
Ngay sau khi đưa ra và phân tích năm yếu tố của một quốc gia có độc lập chủ quyền, Nguyễn Trãi lại đưa ra thêm những bằng chứng đầy sức thuyết phục để khẳng định nền độc lập quốc gia, đó chính là sự thất bại của phương Bắc trong các cuộc chiến với mưu đồ xâm chiếm, đô hộ nước ta:
Vậy nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cứ còn ghi.
Tác giả đã tổng hợp lại những chiến tích đầy hiển hách, oanh liệt của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến để chống quân xâm lược, giữ gìn nền độc lập của đất nước. Bằng việc liệt kê ra những chứng cứ đầy rõ ràng, thuyết phục cùng với những lời lẽ hào hùng, thể hiện sự tự tôn dân tộc chúng ta đã thấy được ý thức dân tộc của Nguyễn Trãi cũng như sự căm thù với những kẻ lăm le xâm lược bờ cõi của ta. Chỉ với một đoạn thơ ngắn nhưng tác giả đã khẳng định một cách mạnh mẽ rằng Đại Việt là một quốc gia có đầy đủ những yếu tố của một quốc gia độc lập, tự chủ, chẳng hề có sự thua kém với bất kỳ quốc gia nào. Con người nước Đại Việt sẽ luôn đồng sức, đồng lòng đứng lên để chống lại quân giặc, bảo vệ dân tộc vì chính nghĩa, vì lẽ phải, vì một cuộc sống ấm no của nhân dân nên bất kể kẻ nào muốn xâm lược cũng sẽ phải chịu một kết quả thảm hại.
Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là một tác phẩm vừa mang tính hào hùng vừa có những cảm hứng trữ tình hiếm thấy ở một tác phẩm chính luận. Đoạn trích nói riêng và tác phẩm Bình Ngô đại cáo nói chung có những giá trị vô cùng sâu sắc, có ý nghĩa đối với đất nước ta. Tác phẩm đã khẳng định nền độc lập, chủ quyền của đất nước cũng như cho người đọc hiểu thêm về chủ quyền lãnh thổ, tinh thần dân tộc của cha ông ta ngày trước để ngày càng bồi đắp lên lòng yêu nước, sự tự hào dân tộc trong mỗi người.
2. Phân tích đoạn 1 Bình ngô đại cáo - mẫu 2
Từ xưa đến nay trong Nho giáo, nhân nghĩa vốn là một tư tưởng cốt lõi, đó là sự hi sinh, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau giữa người với người. Kế thừa tư tưởng ấy nhưng Nguyễn Trãi đã có những sự sáng tạo, mở rộng hơn tư tưởng này. Trong tác phẩm Bình Ngô đại cáo - một áng thiên cổ hùng văn của ông tuyên bố về nền độc lập tự do của dân tộc, ông đã đưa tư tưởng nhân nghĩa của mình trở thành tư tưởng cốt lõi xuyên suốt. Tư tưởng này được thể hiện rõ ràng nhất ngay ở đoạn đầu tiên:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Việc nhân nghĩa với Nguyễn Trãi không chỉ dừng lại ở việc yêu thương, đùm bọc giữa con người với nhau mà đã được nâng lên, trở thành những hành động vì nhân dân, mong cho dân được bình yên, sống trong cảnh thái bình, hạnh phúc. Trong tư tưởng của ông, việc nhân nghĩa được thể hiện ở hai khía cạnh đó là "yên dân" và "trừ bạo". Bởi để nhân dân có thể yên tâm lao động, sản xuất, yên tâm sinh sống thì trước nhất, quan trọng nhất là phải tiêu diệt kẻ xâm lăng, để đất nước được yên bình. Đây không chỉ là một tư tưởng của cá nhân mà nó đã trở thành một tinh thần chính nghĩa được xuất phát bởi sự yêu thương và tấm lòng luôn canh cánh, lo lắng cho nhân dân nước Đại Việt.
Sau khi đưa ra tư tưởng nhân nghĩa làm tiền đề, tác giả đã tiếp tục khẳng định chủ quyền của dân tộc bằng các yếu tố văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán và con người - những yếu tố của một quốc gia độc lập:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc - Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.
Nước Đại Việt ta từ bao đời nay đã có nền văn hiến của mình, đã có những phong tục tập quán riêng cùng với truyền thống, văn hoá được gây dựng từ bao đời chẳng thể lẫn đi đâu được. Từng câu của Nguyễn Trãi là những sự khẳng định đầy chắc nịch rằng nước ta và Trung Quốc là hai đất nước khác nhau, mang phong tục tập quán, những nền văn hiến khác nhau. Ngoài ra, để thêm phần thuyết phục, tác giả đã đặt các triều đại của nước ta sánh ngang với Hán, Đường, Tống, Nguyên của Trung Quốc. Điều đó cho thấy rằng tuy lãnh thổ của ta có nhỏ hơn thế nhưng tinh thần của dân tộc ta là không hề nhỏ, không bao giờ chịu nhún nhường, khuất phục trước kẻ mạnh, kẻ ác. Bên cạnh đó, tác giả cũng khẳng định rằng cho dù mỗi thời kỳ có sự mạnh yếu khác nhau thế nhưng những đấng hào kiệt nước ta thời nào cũng có - đó chính là nhân tố góp phần xây dựng một nước Đại Việt có độc lập, chủ quyền.
Cuối cùng, để những lập luận của mình càng thêm phần thuyết phục hơn nữa, Nguyễn Trãi đã đưa ra bằng chứng về việc những kẻ xâm lăng tàn bạo, ngang ngược luôn phải chịu thua trước tinh thần chiến đấu, tinh thần bảo vệ nền độc lập của dân tộc ta:
Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét, chứng cớ còn ghi.
Từng chiến công hiển hách của dân tộc đã được Nguyễn Trãi liệt kê lại một cách đầy tự hào, đầy cảm xúc. Những kẻ xưng bá xưng vương ấy đều phải chịu những thất bại cay đắng bởi sự xâm lược phi nghĩa sẽ chẳng bao giờ thắng được cái chính nghĩa. Qua từng câu chữ, người đọc cảm nhận được niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh dân tộc, sức mạnh của sự đoàn kết bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc. Nguyễn Trãi cũng một lần nữa khẳng định sự chính nghĩa sẽ luôn là ánh sáng trên con đường đấu tranh của dân tộc và sẽ luôn chiến thắng.
Đoạn thơ tuy ngắn gọn nhưng đã bao hàm được tư tưởng nhân nghĩa cốt lõi của tác giả cũng như khẳng định được nền độc lập, chủ quyền của dân tộc. Cùng với những ngôn từ mạnh mẽ, tứ thơ hùng hồn và một tâm hồn, một trái tim yêu nước yêu dân Nguyễn Trãi đã để lại một kiệt tác thể hiện tinh thần dân tộc của ông.
Hy vọng bài viết trên của Luật Minh Khuê đã cung cấp cho quý bạn đọc những kiến thức hữu ích, trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi.