1. Dàn ý phân tích đoạn 3 bài Bình ngô Đại cáo:

1.1. Mở bài

  • Giới thiệu ngắn gọn đôi nét về tác giả Nguyễn Trãi và phẩm Bình ngô Đại cáo
  • Giới thiệu khái quát nội dung cần nghị luận: Khổ 3 của tác phẩm Bình ngô Đại cáo

 

1.2. Thân bài

* Khẳng định nhân tố quan trọng hàng đầu trong cuộc khởi nghĩa đó là chủ soái Lê Lợi:

  • Là người anh hùng yêu nước thương dân, có lòng tự tôn dân tộc, sự căm ghét giặc ngoại xâm sâu sắc “Ngẫm thù lớn .......… không cùng sống”
  • Lòng kiên trì, bền bỉ “Nếm mật nằm gai .....… mười mấy năm trời” để xây dựng lực lượng
  • Khả năng thu phục quân hùng, biết coi trọng nhân tài “Cỗ xe cầu hiền ...… phía tả”
  • Lòng quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm dẫu còn nhiều gian khó “Tấm lòng ...… phía Đông”

* “Tường thuật” lại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn:

  • Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa:
    • Sự chênh lệch về mọi mặt so với quân giặc và quân ta
    • Thiếu người hiền tài ra giúp nước “Tuấn kiệt như sao buổi sớm/ Nhân tài như lá mùa thu”, thiếu binh sĩ tham gia khởi nghĩa giết giặc
    • Lương thực cạn kiệt, quân đội thưa thớt, giặc vẫn hoành hành ngang dọc ngày đêm => Khó khăn chồng chất khó khăn nhưng sĩ khí quân ta áp đảo kẻ thù, đồng lòng, đoàn kết, lạc quan.
  • Giai đoạn quân ta phản công:
    • Trận thắng đầu tiên mở ra trường kì thắng lợi thật vang dội: “Trận Bồ Đằng… chẻ tro bay”
    • Các trận thắng tiếp theo ở Đông Đô, Tây Kinh: “Ninh Kiều máu chảy thành sông… nhơ để ngàn năm” => Hình ảnh có phần ghê rợn nhưng diễn tả chân thực hình ảnh những trận đánh lịch sử
  • Hình ảnh quân ta hùng dũng, càng đánh lại càng hăng, đánh cho giặc tan tác, tuy thắng nhưng không đuổi cùng giết tận mà đã cho giặc một con đường lui, cấp thuyền, cấp ngựa cho chúng về nước => Tinh thần nhân nghĩa và kế sách hòa hoãn sáng suốt, tránh mối hiểm họa sau này của cha ông.
  • Hình ảnh của giặc:  
    • Hình ảnh kẻ thù xâm lược hiện lên mỗi tên mỗi vẻ, mỗi đứa mỗi cảnh, nhưng đều giống nhau ở một điểm: ham sống sợ chết, hèn nhát.
    • Hèn nhát “nghe hơi mà mất vía”, ham sống sợ chết “nín thở cầu thoát thân”, “bó tay để đợi bại vong… lực kiệt”… khác xa với hình ảnh ngang ngược hung hăng trước đó
    • Kẻ chịu”bêu đầu”, kẻ “đành bỏ mạng”, tên Vương Thông muốn gỡ thế nguy khốn nhưng “lửa cháy lại càng cháy”
    • “Liễu Thăng cụt đầu; Lương Minh bại trận tử vong; Lí Khánh cùng kế tự vẫn”…
    • Quân giặc đầu hàng, giẫm đạp lên nhau xin bỏ trốn…

* Nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ này:

  • Nghệ thuật cường điệu, phóng đại (Hình tượng thì phong phú đa dạng, kì vĩ mang tầm vóc thiên nhiên. Chiến thắng của ta thì “sấm vang chớp giật", “trúc chẻ tro bay", sạch không kình ngạc", "tan tác chim muông", "trút sạch lá khô", "sụt toang đê vỡ". Sức mạnh của ta thì “đá núi cũng mòn’, “nước sông phải cạn". Thất bại của địch thì “máu chảy thành sông", máu trôi đỏ nước", "thây chất đầy nội", "thây chất đầy đường". Khung cảnh chiến trường thì "sắc phong vân phải đổi", “ánh nhật nguyệt phải mờ")
  • Tác giả đã dựng lên bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với bút pháp nghệ thuật đậm chất anh hùng ca, từ hình tượng đến ngôn ngữ, từ màu sắc đến âm thanh, nhịp điệu.
  • Bút pháp tương phản, đối lập (thủ pháp tương phản để tạo thành hai mảng đen trắng đối lập giữa ta và địch, ta thì chiến thắng vang dội, còn kẻ thù thì thất bại thảm hại)
  • Giọng điệu khi hào hùng, sôi nổi khi nói đà phát triển của chiến thắng, khi đầy cảm khái thương tâm khi nói về thất bại của kẻ thù và sự tàn bạo của chiến tranh đối với con người.

 

1.3. Kết bài:

  • Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật khổ 3 bài Bình Ngô đại cáo.
  • Nêu suy nghĩ, cảm xúc về đoạn trích.

 

2. Mẫu phân tích đoạn 3 bài Bình ngô Đại cáo:

2.1. Mẫu số 1

Nguyễn Trãi, bậc thi hào lỗi lạc của trên văn đàn văn học Việt Nam, với kiệt tác Bình ngô Đại cáo, nhà thơ đã để lại bản hùng ca thiên cổ cho thế hệ sau của dân tộc. Bình ngô Đại cáo không chỉ là một văn kiện để khẳng định nền độc lập của nước Đại Việt ta, một tuyên ngôn cho quyền được sống của con người mà nó còn tượng trưng như là khúc thiên sử thi về cuộc chiến đấu của nhân dân ta trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh xâm lược. Ở đó, ta thấy hiện lên rất chân thực và hào hùng nhiều trận chiến đi vào lịch sử, những trận đánh mà quân thù máu chảy đầu rơi hàng trăm năm sau vẫn còn khiếp sợ, cũng thấy rõ cái tinh thần cao cả, nhân văn của vua, tướng nhà Lê. Trong Bình ngô Đại cáo, trước hết phải nói đến nhân vật lớn nhất của cuộc kháng chiến đó là chủ soái Lê Lợi. Nguyễn Trãi miêu tả ông là vị lãnh tụ có tinh thần yêu nước thương dân, niềm tự hào dân tộc cao, thế nên ông căm ghét giặc Minh vì "mối thù to há đội trời chung/trăm giặc nước thề không cùng tồn tại", ghét đến độ khi đối đầu giữa ta và địch bắt một bên phải hy sinh. Đó cũng là lý do và là nền tảng ban đầu cho vị lãnh tụ Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chốn Lam Sơn, chọn nơi hoang dã làm căn cứ của mình, chờ thời cơ tiêu diệt kẻ thù. Hơn thế nữa, Lê Lợi cũng hội tụ rất nhiều yếu tố khác để làm người lãnh tụ đáng kính bao gồm sự kiên trì bền bỉ "Nếm mật nằm gai/chốc đà mười mấy năm trời" để xây dựng lực lượng, có khả năng thu phục quần hùng, biết coi trọng nhân tài "cỗ xe cầu hiền thường chăm chăm còn dành phía tả" và quan trọng nhất đó là lòng quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm dù có bao nhiêu gian khó "Tấm lòng cứu nước vẫn đăm đăm muốn tiến về phía đông", tiến về mặt trời, về một tương lai tươi sáng rực rỡ cho dân tộc.

Thế nhưng mặc dù có tướng tài, song nghĩa quân Lam Sơn lúc bấy giờ lại yếu kém về nhiều mặt so với quân giặc "Vừa lúc cờ nghĩa dấy lên/Chính là lúc quân thù đương mạnh", về tinh thần ta áp đảo đối phương, nhưng về mặt vật chất quân số rõ ràng ta đang ở thế yếu, bao nhiêu khó khăn chồng chất cứ đổ dồn từ buổi đầu dựng cờ khởi nghĩa làm Lê Lợi phải "đau đầu nhức óc". Thứ nhất là ta thiếu những hiền tài đứng ra cứu nước "Tuấn kiệt như sao buổi sớm/Nhân tài như lá mùa thu", thiếu cả binh sĩ tham gia khởi nghĩa đánh giặc "Trông người người lại càng vắng bóng, mịt mù như chốn bể khơi". Trong khi đó, quân giặc đang ngày đêm tàn sát nhân dân, vơ vét của cải, không chuyện ác nào không làm, nước đã mất đến nơi, đến độ khiến Lê Lợi lo lắng, mất ăn mất ngủ "vội vã như cứu người chết đuối". Lương thực đã cạn kiệt, quân đội thì thưa thớt, giặc lại tung hoành ngang dọc và làm việc "hung đồ ngang dọc", phải nói khó khăn chồng chất khó khăn. Nhưng bằng lòng quyết tâm yêu nước, tinh thần đánh giặc sâu sắc nghĩa quân đã dùng mọi giá để khắc phục khó khăn bước đầu. Hội tụ lực lượng, nâng cao tấm lòng ái quốc, gắn kết "nhân dân bốn bể một nhà", "tướng sĩ một lòng phụ tử". Vận dụng kinh nghiệm trong chiến đấu "dùng quân mai phục" và tinh thần dũng cảm hi sinh "lấy ít địch nhiều", "lấy yếu chống mạnh", làm cho các trận đánh của quân dân ta luôn khí thế sục sôi, thu về những chiến công hiển hách. Nguyên nhân xuất phát từ tấm lòng bất khuất và quyết tâm của nghĩa quân "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/Lấy chí nhân thay cường bạo", chứng minh một chân lý không thể lay chuyển là chính nghĩa nhất định sẽ thắng giặc. Những trận đầu tiên diễn ra trường kỳ thắng lợi rất vẻ vang "Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật/Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay", Nguyễn Trãi sử dụng những hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ để tạo thêm sức gợi về sự mạnh mẽ và chiến đấu quyết liệt qua các trận đánh của nghĩa quân. Trái với hình ảnh hào hùng của nghĩa quân thì quân thù lại trông thật thê thảm, kẻ "nghe hơi mà khiếp vía", kẻ thì "nín thở cầu thoát thân" thật khôi hài, lố bịch, cái bọn trước đây hung hăng ngang tàn là thế mà nay chả khác nào lũ chuột xấu xí, chui lủi. Thừa thắng xông lên, vừa hành quân đi đánh vừa nhập trận, quân ta lần lượt giành được các mục tiêu chiến lược ở Đông Đô, Tây Kinh. Giặc thất bại liên tiếp khiến "Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm/Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm", những hình ảnh có phần rùng rợn này không lột tả được một cách trung thực các cuộc đấu lịch sử, chiến tranh tất yếu phải đổ máu là vậy. Máu của ta và máu của địch đều đổ xuống, nhưng ta thắng nhờ vào lòng quả cảm, tinh thần hy sinh, quyết sống chết với quân thù. Quân địch trước thế khí dũng mãnh của nghĩa quân ta thì khí thế tan tác, kẻ chịu "bêu đầu", kẻ "đành bỏ mạng", tên Vương Thông muốn gỡ thế nguy khốn nhưng "lửa cháy lại càng cháy". Quân ta hăng lại thêm hăng, giặc chỉ còn đường "Bó tay để đợi bại vong, giặc đã sức cùng lực kiệt", bởi con đường phản luân thường đạo lý không bao giờ được đi xa. "Chẳng đánh mà người chịu khuất ta đây mưu phạt tâm công", trên tinh thần nhân đạo vốn ta đã định cho giặc một đường lui an toàn, đừng đầu hàng hay rút lui về nước thế nhưng chúng vẫn âm mưu cầu cứu viện để cứu vãn tình hình, càng ngoan cố không thôi. Chẳng thế mà lũ nhãi nhép chuột bọ Liễu Thăng, Tuyên Đức, Mộc Thạnh tiếp tục vấy vá, nhăm nhe xông vào nước ta lần nữa nhằm cứu vãn ván cờ đã gần đến hồi kết thúc. Nhưng cũng đâu có dễ như thế, vì "Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong/Ta sau lại đưa tướng chặn đường, tuyệt nguồn lương thực", để xem lũ giặc Minh sẽ hả hê, sung sướng cho đến lúc nào. Cái âm mưu thâm độc của giặc dẫn đến những hậu quả là "Liễu Thăng cụt đầu/Lương Minh bại trận tử vong/Lí Khánh cùng kế tự vẫn" như thế có phải là tự chuốc hoạ chỉ bởi cái lòng tham bẩn thỉu của mình không. Địch càng tổn thấy, mất mát bấy nhiêu, vậy sĩ khí quân ta cũng càng cao, nghĩa quân tràn đầy nhiệt huyết chiến đấu, hứng chí bừng bừng giống như tiếng ngựa phi, tiếng người chạy rầm rập vang động cả núi rừng, "Thuận đà ta đưa lưỡi đao tung phá", khiến quân giặc tan tác, "bí nước quay mũi giáo đánh nhau", đúng là chó cùng dứt giậu. Nghĩa quân chúng ta trên đà lớn mạnh.
"Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.

Tất cả là chuẩn bị cho trận chiến cuối cùng, quét sạch bóng quân thù, thế nên:
"Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ."

Quân địch phải hoảng hốt mà xin hàng nhưng không kịp, khắp nơi đâu đâu cũng là xác giặc chết "thây xếp đầy đường, máu chảy đỏ trời", những hình ảnh có tính khái quát, chỉ rõ sự khốc liệt của cuộc chiến lại vừa là nét oai hùng trong lịch sử đấu tranh của dân tộc. Cái sự khốc liệt và đau thương ấy Nguyễn Trãi phải lấy thiên nhiên ra mới có thể lột tả hết được: "Máu thay sắc phong vân phải chảy/Mặt trời thay ánh trăng phải mờ". Có thể thấy cái chết nào cũng thật đáng thương, trận đánh nào cũng khốc liệt và đau đớn, con người cũng là sinh linh mà chỉ một chốc hàng ngàn mạng bỏ đi thì trời đất cũng phải tối tăm vì không ai thích cảnh "thây chất thành núi, đồng cỏ nội bê bết máu đen". Cảnh quân giặc cuống cuồng xin hàng, giẫm đạp lên nhau rồi bỏ trốn rất thê thảm, tan tác, xuất phát từ tấm lòng nhân đạo "đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại" mà nghĩa quân ta đã giúp giặc con đường về nước "mở đường hiếu sinh", cấp thuyền, cấp tiền, cấp gạo cho chúng. Vừa khiến giặc phải e dè, kính sợ, lại giúp quân ta dưỡng sức, tránh thương vong nhiều hơn nữa để tập trung vào xây dựng đất nước. Nếu đuổi cùng diệt tận thì để lại mối thù lớn trong lòng địch, trước sau cũng có ngày chúng đến trả thù tiếp, lúc đó quân ta sẽ bị tổn thất, hoặc là lui một bước nữa, kế sách này của ông cha ta mãi luôn sáng suốt là thế.

Phần ba của Bình Ngô đại cáo đã tái hiện lại một cách chân thực, sinh động quá trình khởi nghĩa, đánh đuổi quân Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn. Bằng giọng văn rất đỗi hào hùng, bi tráng, tiết tấu nhanh, dồn dập, những hình ảnh thiên nhiên giàu sức gợi, mang tính biểu tượng cao như mặt trời, mặt trăng, sông, núi hùng vĩ. Những hình ảnh đầy nhiệt huyết, sĩ khí bừng bừng của nghĩa quân được miêu tả bằng những cụm tính từ ở sắc thái cao nhất, đem so sánh với hình ảnh thiên nhiên to lớn, bao la. Luận điệu thuyết phục, dẫn chứng có thực trong lịch sử càng làm tăng sức lôi cuốn, đem đến một thiên anh hùng ca, một khúc tráng ca bất tận, vang động cả một thời, khẳng định sức mạnh và chân lý của dân tộc, đất nước. Đoạn 3 bài Bình Ngô đại cáo đã mang đến cho chúng ta những cảm nhận chân thực về khí thế hào hùng, mạnh mẽ của nghĩa quân Lam Sơn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược.

 

2.2. Mẫu số 2

Nguyễn Trãi là một vị anh hùng dân tộc lẫy lừng của đất nước Việt Nam với những chiến công và sự hy sinh cao cả vì bảo vệ Tổ quốc. Tình yêu nước giống như ngọn lửa luôn âm ỉ cháy và thổi bùng trong ông, lớn lên trong thời kỳ nước mất nhà tan vì thế mà đã tôi luyện và hình thành nên Nguyễn Trãi với một lòng nồng nàn yêu nước. Không chỉ thế, Nguyễn Trãi cũng nổi tiếng về tài năng trên lĩnh vực văn chương với nhiều tác phẩm xuất sắc. Hầu hết, những tác phẩm của ông luôn nói về tình yêu đất nước nồng nàn và lý tưởng cao đẹp. Điều đó được phản ánh sâu sắc trong bài Bình Ngô đại cáo, mà điển hình ở đây là đoạn 3 của tác phẩm. Bình ngô Đại cáo đoạn 3 giúp chúng ta thấu hiểu thêm cuộc chiến chống quân xâm lược trường kỳ của lịch sử dân tộc Việt Nam. Nguyễn Trãi đã cho chúng ta thấy điều đó khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ thuở đầu sơ khai. Và hình ảnh đầu tiên xuất hiện là chủ tướng Lê Lợi:

“Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh”.

Cách sống gần gũi đồng bào, xuất phát nơi suối, chốn rừng cũng bước ra từ nhân dân nhưng vì mến nghĩa mà đứng lên ngôi. Vị lãnh tụ mang theo trong mình tấm lòng căm thù giặc sâu sắc, há đội trời chung, thề không cùng sống với bao nhiêu trăn trở, suy tư đau đớn nhức óc, quên ăn vì giận, những thao thức và nỗi băn khoăn về sự nghiệp giải phóng dân tộc. Vượt qua những ngày tháng gian khổ, thấm nhuần đạo lý sống ở đời, người chiến sĩ cách mạng đã trở thành linh hồn của cuộc khởi nghĩa. So với địch, tướng sĩ Lam Sơn khi đó hoàn toàn thua thiệt. Đúng lúc khởi nghĩa là lúc quân thù đang lớn mạnh, nhân tài và vũ khí của địch cũng khan hiếm nên cả quân tiếp viện, lực lượng trực tiếp chiến đấu lẫn hậu cần đều thiếu thốn, nguy hiểm. Vậy điều gì đã giúp Lê Lợi và cộng sự của ông chiến thắng? Đó không phải là:

"Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về đông;

Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chăm còn dành về phía tả".

Người anh hùng nhận mệnh to trời ban nếu không gặp khó khăn thì cũng tìm ra được con đường đấu tranh. Vì thế, có tinh thần đoàn kết nhân dân bốn cõi một nhà, tướng sĩ một lòng trung thành; có sách lược lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều và người ta có trí tuệ, có chí nhân thì:

Trọn hay:

"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo".

Chính nhờ vậy mà mỗi ngày, mỗi ngày lực lượng kháng chiến một đông, lại khéo chớp thời cơ nên quân ta đã có nhiều cuộc tấn công liên tiếp giành thắng lợi vang dội. Trong phạm vi hạn chế của bài thơ, song với sự khéo léo tài tình của mình, Nguyễn Trãi đã tái hiện nó một cách sinh động ở mọi khía cạnh, để người xem có thể dễ dàng nhận thấy cục diện của cuộc chiến. Trước hết phải nói về các trận chiến ác liệt, nối dài và trải rộng trên nhiều miền. Mở màn là chiến dịch là trận Bồ Đằng, miền Trà Lân ở xứ Nghệ, lại đánh vào Tây Kinh xứ Thanh, rồi tiếp tục trở về Đông Đô với hai trận Ninh Kiều và Tốt Động, giải phóng thành công Thăng Long. "Thằng nhãi con Tuyên Đức" là vua nhà Minh lúc bấy giờ đã động bình cứu viện, song nghĩa quân Lam Sơn vẫn đánh bại bọn giặc trong nhiều trận chiến quyết liệt, mạnh mẽ:

"Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế,

Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu,

Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong,

Ngày hăm tám, thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn".

Có thể nói, trong một đoạn văn dài người đọc không thể rời mắt, những trận đánh như sấm vang chớp giật, trúc chẻ tro bay, thừa thắng ruổi dài mà xông lên, cứ thuận đà mà:

"Đánh một trận sạch không kình ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông".

Quân tướng thì khí thế hừng hực, quyết chiến, quyết thắng thật oai hùng:

"Sĩ khí đã hăng

Quân thanh càng mạnh.

Sĩ tốt kén người hùng hổ

Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh

Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,

Voi uống nước, nước sông phải cạn".

Ta ở trong tư thế chủ động tấn công, lấn chiếm cả chiến trường. Từ không khí đến cảnh tượng đều để lại thật nhiều ấn tượng:

"Ghê gớm thay sắc phong vân phải đổi,

Thảm đạm thay ánh nhật nguyệt phải mờ".

Nhìn lại từ buổi đầu khởi nghĩa mà thấy thật là một kì tích, một sức mạnh thật phi thường. Nhưng quá trình tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa đã không dừng lại ở việc ca ngợi chiến thắng của chúng ta, mà còn tái hiện một cách sinh động và chân thật hơn những thất bại của quân thù. Cứ nghĩ đến cảnh Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường/Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước ta không khỏi rùng mình. Nếu ta chủ động chắc giặc sẽ lâm vào bị động và thất bại. Chứng cứ liên tục gỡ thế hiểm, phá trận chiến, chỉ để chờ bại vọng, sức cùng lực kiệt ....... Lũ giặc cả tướng liên quân đều suy sụp về tinh thần, kiệt quệ về sức lực nghe tiếng mà hoảng loạn, nín thở cầu thoát thân, kẻ chặt đầu, kẻ bỏ mạng, thất bại ê chề, người sống sót vẫn ....... Thất bại nhục nhã, thảm hại đó là kết quả tất yếu của bọn giặc. Tuy nhiên, đường sống do Nguyễn Trãi – Lê Lợi vạch nên lúc bấy giờ cũng được soi tỏ. Ta chiến thắng nhưng phải biết điểm dừng, không đẩy địch vào chỗ khốn cùng mà trái lại còn mở đường ra cho chúng một con đường sống, cũng là để giúp dân nghỉ ngơi, giữ sức khoẻ. Ta đã cấp cho giặc thuyền và ngựa để quay về. Vì thế thắng lợi của chúng ta là thắng lợi của tinh thần dân tộc, của lòng quả cảm, nhân văn. Cũng bởi vậy mà kẻ thù đã thua lại còn phục, sẵn sàng lột áo giáp ra đánh, trói tay tự xin hàng, quỳ dâng tờ tạ tội, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu giúp, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc, về đến đất mà vẫn tim đập chân run. Giọng điệu sôi sục, khí phách, ngôn ngữ đậm chất hình tượng, bút pháp tương phản, giàu tính sử thi, Đại cáo bình Ngô đã làm sống lại những trang sử oanh liệt và vẻ vang của dân tộc. Niềm tự hào, hãnh diện không chỉ là ở các chiến công mà còn ở sức mạnh của cả dân tộc đoàn kết một lòng để làm nên chiến thắng vang dội. Sáng ở đoạn cuối giọng điệu có phần xúc động, mang không khí mừng vui phấn khởi khi nói lại vấn đề quan trọng nhất, đó là nền độc lập và cảnh thái bình.

Vậy là từ nay đã chấm dứt cảnh chiến tranh, ác liệt, sẽ không còn những năm tháng tối tăm, tủi nhục dưới ách quân thù. Lời tuyên bố độc lập được vang lên đầy kiêu hãnh, đem lại sự sung sướng và hạnh phúc cho muôn triệu con dân. Bao khao khát bấy lâu nay, giờ cả giang sơn rạng rỡ, rồi mặt trời và càn khôn cũng sáng rực. Dân tộc từ nay có thể ngẩng đầu tự hào và hướng về một ngày mai tươi sáng, một kỷ nguyên xây dựng đất nước thịnh vượng, thái bình. Đã sáu trăm năm trôi qua, lịch sử cũng đã lùi vào quá khứ, song Đại cáo bình Ngô còn nguyên vẹn sức sống như thuở ban đầu. Bản văn kiện lịch sử mang tầm vóc tư tưởng lớn, một luận văn tổng kết lịch sử giữ nước hết sức sâu sắc và cũng là một áng văn chương tiêu biểu dưới ngòi bút thần Nguyễn Trãi. Tác phẩm cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho biết bao thế hệ người Việt Nam về lòng yêu nước, về ý chí chiến đấu bảo vệ và dựng xây Tổ quốc.

 

2.3. Mẫu số 3

Sau khi đánh xong giặc Minh, Nguyễn Trãi thay mặt cho Lê Lợi làm lễ cáo để thông báo cho toàn bộ nhân dân biết trận đánh thành công. Bài cáo không những khẳng định được chủ quyền đất nước và tố cáo tội ác của giặc Minh mà còn thể hiện quá trình từ đấu tranh anh dũng đến thắng lợi của nhân dân Đại Việt. Đặc biệt vai trò lãnh đạo và ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Minh của vua Lê Lợi được thể hiện rõ ràng. Hình ảnh của vị lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn và những khó khăn trong buổi đầu dấy nghiệp. Nguyễn Trãi đã phản ánh chân thực giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bằng bút pháp tự sự kết hợp với trữ tình. Mở đầu phần ba tác giả nêu bật một số thách thức mà bản thân vua Lê Lợi nói riêng và nhân dân Đại Việt nói chung đang đối diện:

“Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.

Những trằn trọc trong cơn mộng mị,

Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi

Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,

Chính lúc quân thù đang mạnh.”

Đại từ ta mở đầu đoạn thơ ba như một lời khẳng định chắc nịch, đanh thép và thể hiện đúng tâm trạng của người thủ lĩnh Lê Lợi. Hơn ai hết, là một vị tướng dẫn quân ra chiến trường, cũng là một bậc chúng tôi trung, ông thấu hiểu hơn ai hết nỗi căm thù giặc đến tận gốc rễ, mà ngay trong bài thơ đã khẳng định hùng hồn: căm thù và thề không cùng chung sống. Nhưng nếu cứ giữ trong lòng ngọn lửa hận, ông sẽ nhanh chóng trở nên mù quáng và cực đoan, bởi thế, vị thủ lĩnh ấy không chỉ ôm trong mình sự căm thù niềm đau, mà còn dồn nén, chất chứa biết bao nhiêu niềm ưu tư, trăn trở, đến nỗi "đau lòng nhức óc", "nếm mật nằm gai", "quên ăn vì đói", những trăn trở về kế sách chiến tranh, và cũng cả những âu lo về khó khăn thử thách trên chặng đường phía trước sắp phải vượt qua. Bước đầu kháng chiến những khó khăn là muôn vàn không thể nào kể xiết, nhân tài ví như lá mùa thu, kẻ tài trí gánh vác việc lớn thiếu thốn, chỉ có quân chủ lực cùng sát cánh trường kì và cả sự chênh lệch mênh mông về binh lực so với đối phương, ấy thế nhưng nó đã trở thành đòn bẩy để bao người lính đoàn kết, anh dũng kháng chiến. Đoạn thơ thể hiện những khó khăn và ý chí quyết tâm của vua Lê Lợi. Vì không chấp nhận được cảnh nhân dân trở thành nô lệ cho bọn giặc Minh quỷ dữ kia mà người anh hùng Lê Lợi đã quyết ở chốn hoang dã, nếm mật nằm gai mà chờ ngày dấy cờ khởi nghĩa. Vua Lê căm thù giặc, đau lòng đến nhức óc, mộng mị cũng trằn trọc chỉ vì một mục tiêu đánh bại quân Minh.Cuối cùng thì ông trời không phụ lòng người, không phụ những hy sinh trong khó khăn, gian khổ của nghĩa quân Lam Sơn, đại sự đã thành công. 

“Gươm mài đá, đá núi cũng mòn

Voi uống nước, nước sông phải cạn.

Đánh một trận, sạch không kình ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông.”

Hình ảnh thiên nhiên được dùng trong 4 câu thơ như một cách nói ẩn dụ và khắc tạc chiến công vĩ đại cùng khí thế oai hùng mà nghĩa quân Lam Sơn đã tạo ra. Hình ảnh gươm mài đá, đá núi cũng mòn, và voi uống nước, nước sông không thể cạn, như muốn nhấn mạnh cho ta về tinh thần bền bỉ đấu tranh, ý chí kiên cường chịu đựng hi sinh gian khổ của những người chiến sĩ nghĩa quân Lam Sơn, đồng thời chỉ ra cho họ một chân lí trong kháng chiến. Đó là kháng chiến trường kỳ, chúng ta cũng phần nào hiểu được chân lý mà nhà thơ luôn tin tưởng, đó là các cuộc đấu tranh cho chính nghĩa luôn luôn dành chiến thắng vẻ vang. Các cụm từ miêu tả với động từ mạnh mẽ "sạch không bọt, tan tác bồ câu" đã cho thấy ý chí tiến công, chiến đấu và lòng quả cảm, kiên cường của những người tham gia chiến trận, chúng ta không chỉ giành chiến thắng mà còn là chiến thắng oanh liệt, làm sạch danh dự và sự kiêu căng, ngạo mạn của kẻ thù:

“Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!

Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.

Suối Lãnh Câu, máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc

Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.

Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,

Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng

Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh

Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,

Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run”.

Cuối cùng, tác giả đã kết thúc đoạn ba của bài thơ với một giọng văn đầy từ hào khi kể về các thắng lợi vang dội và oanh liệt của nghĩa quân trong cuộc chiến đấu chống quân Minh xâm lược. Những thắng lợi góp phần ghi danh sử sách nghìn năm còn lại, về một thời kì dân tộc, chiến sĩ của quân đội chúng ta đã chiến đấu và chiến thắng, từ đó mà bồi đắp nên tinh thần yêu nước anh dũng, kiên cường cho nhiều thế hệ - cũng là vẻ đẹp riêng biệt của con người Việt Nam lịch sử. Mở đầu cho chuỗi chiến tích lịch sử oai hùng của Nghĩa quân lam Sơn là chiến thắng Bồ Đằng, Trà Lân, rồi ra các vùng Trần Trí, Sơn Thọ, Lý An, . .. và cứ thế, mạch thơ trở nên sôi động, đậm chất tráng ca khi liệt kê hàng loạt những chiến công hiển hách của vị chủ tướng Lê Lợi:

"Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế

Ngày hai mươi, trận Mã An, Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hai lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong

Ngày hăm tám, thượng thư Lí Khanh cùng kế tự vẫn".

Quân địch đã thất bại một cách ê chề dưới tay quân và dân ta, phải tìm đến bước đường cùng là “kế tự vẫn”. Trong vòng chưa đầy một tháng, nước Nam đã sạch bóng quân thù.  Qua đó khắc họa một cách chân thực nhất diễn biến của cuộc khởi nghĩa. Từ những ngày đầu chuẩn bị kháng chiến, tìm kiếm, lên kế hoạch sách lược chiến đấu cho đến thời điểm cuộc chiến tranh nổ ra, những chiến tích oanh liệt mà quân và dân ta đã làm được. Sau cùng là niềm kiêu hãnh tự hào sâu sắc về tinh thần quật cường, vượt mọi gian khó của nghĩa quân Lam Sơn. Chúng ta đã buộc quân Minh xâm lược phải nhận sự thất bại trong ê chề, hoảng loạn chạy trốn không kịp về phương Bắc, nước Nam sạch bóng quân thù.

Bình ngô Đại cáo cho ta thấy một bút lực và tài học vô song của ức Trai. Cáo là một thể văn cổ điển rất trang nghiêm, để thông báo cho toàn dân một sự kiện quan trọng. Tổng kết lại có thể thấy trong phần ba của bài cáo, Nguyễn Trãi phân thành ba phần nội dung quan trọng, thứ nhất là khắc hoạ hình ảnh nghĩa quân Lam Sơn từ những ngày đầu kháng chiến gian nan, vất vả mới có thể thắng giặc. Tiếp đến, là sự tự hào và hãnh diện của tác giả khi không chỉ đánh thắng được giặc, mà còn khiến chúng thua một cách tâm phục không phục bằng việc kể ra những thất bại thảm hại, nhục nhã của quân địch. Bằng giọng văn rất đỗi hào hùng, bi tráng, tiết tấu nhanh, dồn dập, những hình ảnh thiên nhiên giàu sức gợi, mang tính biểu tượng cao như mặt trời, mặt trăng, sông, núi hùng vĩ. Những hình ảnh đầy nhiệt huyết, sĩ khí bừng bừng của nghĩa quân được miêu tả bằng những cụm tính từ ở sắc thái cao nhất, đem so sánh với hình ảnh thiên nhiên to lớn, bao la. Luận điệu thuyết phục, dẫn chứng có thực trong lịch sử càng làm tăng sức lôi cuốn, đem đến một thiên anh hùng ca, một khúc tráng ca bất tận, vang động cả một thời, khẳng định sức mạnh và chân lý của dân tộc, đất nước. Những câu thơ dài cùng với đại thi hào Nguyễn Trãi đã toát lên khá rõ ràng tinh thần đó. Nguyễn Trãi đã làm nên một Bình ngô Đại cáo “hùng văn thiên cổ”, xứng đáng với danh xưng bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc Việt. Bình ngô Đại cáo trở thành bản tổng kết hào hùng của lịch sử dân tộc nước nhà trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược thời bấy giờ. Những dòng thơ cuối cùng, là dòng thơ kết lại, là dòng xúc cảm đã được lắng đọng, kìm nén, là bút lực lớn nhất mà nhà thơ thể hiện, đó là sự tin yêu và khát khao về một đất nước, non sông sẽ còn mãi. 

Hy vọng bài viết trên của Luật Minh Khuê đã cung cấp cho quý bạn đọc những kiến thức hữu ích, trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi!