chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.

1. Hành vi áp đặt cho các doanh nghiệp khác điều kiện kí kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ

Là việc áp đặt những điều kiện tiên quyết mà khách hàng phải chấp nhận trước khi kí kết hợp đồng. Các điều kiện được đặt ra có nội dung hạn chế cạnh tranh, cụ thể:

- Buộc khách hàng muốn kí kết hợp đồng phải hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá khác; hạn chế mua, cung ứng dịch vụ khác không liên quan trực tiếp đến cam kết của bên nhận đại lí theo quy định của pháp luật về đại lí. Pháp luật của nhiều nước gọi hành vi này là giao dịch độc quyền. Hành vi này được mô tả là việc doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường liên quan đưa ra điều kiện tiên quyết buộc các đối tác trong hợp đồng phải hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá hoặc hạn chế mua, cung ứng dịch vụ khác không liên quan đến nghĩa vụ của họ theo pháp luật về đại lí nếu họ muốn kí kết hợp đồng. Trong khoa học pháp lí và kinh tế học, việc phân tích bản chất hạn chế cạnh tranh của hành vi được thực hiện dựa vào những dấu hiệu sau:

1.1 Dấu hiệu về hình thức

Khách hàng buộc phải cam kết sẽ hạn chế sản suất, phân phối hàng hoá khác; hạn chế mua, cung ứng dịch vụ khác. Trong hành vi này, có sự xuất hiện của hai loại sản phẩm:

a) sản phẩm là đối tượng của hợp đồng mà các bên sẽ giao kết nếu điều kiện kí kết được thoả mãn, và

b) sản phẩm khác mà điều kiện kí kết đề cập. Có một vấn đề đặt ra là sản phẩm bị hạn chế có bắt buộc phải là sản phẩm cùng loại với sản phẩm là đối tượng của hợp đồng hay không?

Luật cạnh tranh chưa khẳng định rõ về tính chất cùng loại của hai sản phẩm nói trên. Kinh nghiệm của các nước khi giải quyết vẩn đề này là pháp luật cùa họ không buộc hai sản phẩm này phải cùng loại với nhau. Trong trường hợp chúng cùng loại, có nghĩa là điều kiện hạn chế sản xuất và phân phổi, cung ứng được đưa ra làm giảm mức độ cạnh tranh trên thị trường liên quan bằng cách giảm số lượng sản phẩm cạnh tranh cùng loại hoặc gây khó khăn cho đối thủ trọng việc tiêu thụ sản phẩm.

Nếu chúng không cùng loại thì các điều kiện kí kết hợp đồng nói trên được đặt ra hòng lợi dụng vị thế trên thị trường của sản phẩm này để hỗ trợ cho chiến lược phát triển thị trường của sản phẩm khác mà doanh nghiệp hay các đơn vị có liên quan đến doanh nghiệp đang xây dựng.

Nội dung của điều kiện đưa ra là khách hàng phải thực hiện một trong hai yêu cầu là hạn chế việc sản xuất hoặc cung ứng sản phẩm, dịch vụ khác, biểu hiện thông qua sự thu hẹp sản lượng hoặc chấm dứt việc sản xuất, cung ứng sản phẩm đã được xác định; hoặc hạn chế việc phân phối hoặc mua hàng hoá, dịch vụ khác. Cho dù nội dung của thoả thuận có là thế nào đi nữa thì kết quả của nó cũng đưa đến sự hạn chế cạnh tranh trong những thị trường liên quan của sản phẩm là đối tượng của hợp đồng hoặc thị trường liên quan của những sản phẩm bị hạn chế.

1.2 Điều kiện được đưa ra là yêu cầu tiên quyết mà khách hàng phải đáp ứng để được kí kết hợp đồng.

Như đã phân tích trong các nội dung trước Luật cạnh tranh dùng dấu hiệu này như một cơ sở để xác định tính áp đặt của hành vi vi phạm, qua đó chứng minh về sự lạm dụng của doanh nghiệp có quyền lực thị trường. Tính chất áp đặt của hành vi được mô tả bằng tình trạng bất lực của khách hàng trong việc lựa chọn cách ứng xử trước hợp đồng mà mình muốn kí kết. Nội dung này đòi hỏi phải phân biệt sự áp đặt với một lời đề nghị. Theo đó, một lời đề nghị chỉ đặt khách hàng vào tình trạng có thể lựa chọn (có thể chấp nhận) mà không phải là việc có được kí kết hợp đồng hay không. Khảo sát pháp luật cạnh ttanh của Canada, họ có cách tiếp cận khác với Việt Nam về giao dịch độc quyền. Trước hết, tính áp đặt không chỉ là sự thể hiện quyền lực để buộc khách hàng phải tuân theó ý chí của doanh nghiệp có quyền lực thị trường mà còn bao gồm cả các điều khoản dành những thuận lợi cho khách hàng (mang tính mua chuộc) để ngăn cản việc tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ khác.(1) Theo đó, những lợi ích mà doanh nghiệp hứa hẹn như một sự dụ dỗ cũng có thể là cănmguyên làm cho các đại lí khó có lựa chọn một cách xử sự công bằng giữa các doanh nghiệp mà họ đang là người phân phối. Ngoài ra, Luật cạnh tranh Canada còn đòi hỏi hành vi thiết lập các giao dịch độc quyền phải là hành vi mang tính hệ thống. Điều đó có nghĩa là sự hạn chế sản xuất, phân phối, cung ứng hoặc mua hàng hoá, dịch vụ khác của khách hàng không mang tính riêng lẻ theo từng vụ việc mà là một quá trình đủ để kết. Ịuận khách hàng sệ chỉ phân phối, sản xuất, cung ứng sản phẩm cho doanh nghiệp đã thực hiện hành vi áp đặt. Cách tiếp cận của pháp luật Canada có thể là những kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam khi chi tiết hoá pháp luật và việc thực thi luật cạnh ttanh.

1.3 Dấu hiệu thứ ba là dấu hiệu về sự bất hợp lí của hành vi vi phạm

Theo đó yêu cầu mà doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền đưa ra cho khầch hàng'không liên quan trực tiếp đến cam kết của bên nhận đại lí theo quy định của pháp luật về đại lí. Theo quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005, đại lí thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lí và bên đại lí thoả thuận việc bên đại lí nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lí hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lí cho khách hàng để hưởng thù lao. Trong hoạt động đại lí, bên đại lí có quyền lựa chọn và kí kết họp đồng đại lí cho một hoặc nhiều bên giao đại lí tuỳ theo nhu cầu và khả năng kinh doanh của mình và tuỳ theo hình thức đại lí. Do đó, việc hạn chế phân phối trong hoạt động đại lí đối với bất cứ sản phẩm của doanh nghiệp nào là quyền của bên phân phổi chứ không phải là quyền đặt để của doanh nghiệp giao đại lí. Troựg các hình thức đại lí được pháp luật Việt Nam quy định có hình thức đại lí độc quyền, đại lí độc quyền là hình thức đại lí mà tại một khu vực nhất định bên giao đại lí chỉ £Íao cho một đại lí mua, bán một hoặc một số mặt hàng nhất định. Khi kí kết họp đồng hình thành đại lí phân phối độc quyền, các doanh nghiệp là bên giao đại lí không có quyền lực độc quyền cung ứng sản phẩm cho bên đại lí, mà ngược lại, các đại lí độc quyền trở thành người phân phối duy nhất sản phẩm của doanh nghiệp trong phạm vi thị trường được xác định. Với cách nhận dạng như trên về đại lí độc quyền đã loại trừ khả năng các doanh nghiệp áp đặt hệ thống phân phối độc quyền của riêng mình, chỉ phân phối sản phẩm do doanh nghiệp cung cấp nhằm gây khó khăn cho đối thủ trong việc tham gia tiêu thụ sản phẩm hoặc tham gia thị trường. Nói tóm lại, nếu chiếu theo các quy định pháp luật hiện hành về đại lí thương mại thì mọi hành vi buộc các đại lí hạn chế sản xuất hoặc phân phổi sản phẩm khác mà không phải xuất phát từ những cam kết tự nguyện của các đại lí thì hành vi đó đã là vi phạm pháp luật thương mại.

2. Hành vi buộc khách hàng mua bán hàng hoá, dịch vụ phải chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp

đến đối tượng của hợp đồng.

Hành vi này được hiểu là việc doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh gắn việc mua bán hàng hoá, dịch vụ là đối tượng của họp đồng với việc phải mua hàng hoá, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ định trước hoặc thực hiện thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng. Với cách hiểu như trên, có hai vấn đề cần làm rõ là:

2.1 Các điều kiện ký kết hợp đồng

Để xác định sự vi phạm, cần căn cứ vào nội dung của hợp đồng. Nếu như ở nhóm hành vi thứ nhất, cơ sở để xác định hành vi vi phạm là- các điều kiện kí kết hợp đồng được đưa ra khi tiến hành đàm phán với khách hàng, những điều kiện này thường không tồn tại trong hợp đồng mua bán thì đối với hành vi mua bán có ràng buộc, nội dung ràng buộc thể hiện ngay trong các điều khoản của hợp đồng mua bán giữa các bên liên quan. Vì thế, chứng cứ mà cơ quan có thẩm quyền dựa vào đó kết luận về sự vi phạm là bản hợp đồng thể hiện nội dung ràng buộc.

2.2 Nội dung ràng buộc là khách hàng phải mua thêm hàng hoá, dịch vụ khác từ người cung cấp

hoặc người được chỉ định

Hoặc phải thực hiện thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng. Trong lí luận của pháp luật cạnh tranh, tính chất của sự hạn chế cạnh ttanh được nhìn nhận từ nội dung ràng buộc bao gồm các nghĩa vụ mà khách hàng phải gánh chịu nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng, điển hình là việc phải mua thêm hàng hoá, dịch vụ khác từ chính doanh nghiệp đã áp đặt hoặc từ người khác được doanh nghiệp chỉ định. Việc bán kèm hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền đã bóp méo quan hệ cạnh tranh trên thị trường liên quan của sản phẩm bán kèm. Ngoài ra, sự ràng buộc còn bao gồm những nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng.

Thứ ba, về mặt hậu quả, hành vi này phải dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia, mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác. Đây là một trong những điểm mới của Luật cạnh tranh năm 2018 so với Luật cạnh tranh năm 2004. Dấu hiệu hậu quả của hành vi được chuyển hóa một cách rõ rệt trong cẩu trúc hành vi. Theo đó, không phải mọi hành vi “bán kèm” đều được coi là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh. Hành vi bán kèm này chỉ bị xử lí khi nó có nguy cơ ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia, mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác. Điều này khiến cho hành vi quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 27 giống với hành vi quy định tại điểm e khoản 1 Điều 27. Trên thực tế, việc phân biệt các hành vi này cũng chỉ mang tính chất tương đối.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật cạnh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật cạnh tranh - Công ty luật Minh Khuê