1. Mở đầu vấn đề 

Tự do hóa và toàn cầu hoá làm nổi rõ đặc tính của hoạt động kinh tế trong những thập kỷ gần đây. Do kết quả của tám vòng đàm phán từ khi thành lập Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), thuế nhập khẩu đã được giảm tới mức thấp nhất trong lịch sử, từ khoảng 35% xuống còn 4%.

Sự tương thuộc và toàn cầu hoá ngày càng tăng của kinh tế thế giới đẩy nhanh nhu cầu pháp lý quốc tế tác động đến việc xét xử ngày một nhiều gấp bội. Sự cần thiết đặc biệt thiết lập ra những qui tắc cạnh tranh xuất phát từ thực tế là các qui tắc quốc gia về cạnh tranh không thể ngăn cản các xuất khẩu hoạt động và ngăn cản hiệu lực của các qui tắc cạnh tranh nước ngoài không bị cấm đoán trong phạm vi một nước.

Các công cụ song phương và đa phương chủ yếu để đảm bảo tất cả các nhà điều hành kinh tế có được lợi ích kinh tế từ việc giảm bớt hoặc xoá bỏ trên phạm vi toàn cầu hay khu vực những rào cản thương mại bằng thuế quan và phi thuế. Nếu khác đi, lợi ích đó có thê bị xói mòn bởi những hành động do cam kết hay do Nhà nước.

 

2. Khái niệm qui tắc canh tranh

Cạnh tranh (Competition) được định nghĩa là một quá trình đấu tranh qua lại giữa các chủ thể kinh tế. Trong quá trình đó, mục tiêu chính đó là chiếm lĩnh thị phần khách hàng, tăng mức tiêu thụ, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đây là một quá trình khốc liệt đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chiến lược cụ thể, nếu không sẽ bị đào thải khỏi thị trường. 

hay nói một cách đơn giản, cạnh tranh chính là toàn bộ nỗ lực của doanh nghiệp để cố gắng giành lấy khách hàng hoặc khách hàng của doanh nghiệp khác bằng cách cung cấp các sản phẩm khác nhau, giao dịch tốt hơn, chất lượng phục vụ tốt hơn…

Vậy ta có thể rút ra một số đặc điểm của cạnh tranh như sau:

Cạnh tranh mang bản chất là mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế với nhau. Hiểu một cách đơn giản, nói đến cạnh tranh là nói đến một quá trình nỗ lực có sự tham gia nhiều chủ thể kinh tế cùng chung một mục tiêu. Nếu trong thị trường chỉ có một chủ thể kinh tế, sẽ không xảy ra cạnh tranh. Đồng thời, thị trường có nhiều chủ thể kinh tế, tuy nhiên các chủ thể kinh tế lại không có cùng mục tiêu thì cạnh tranh và sức ép của cạnh tranh cũng thấp. Mục tiêu cạnh tranh cơ bản của các doanh nghiệp là tồn tại và phát triển, tối đa hóa lợi nhuận, cao hơn nữa là gia tăng thị phần, mở rộng thị trường, dẫn đầu thị trường ngách… Mục tiêu cạnh tranh chung của người tiêu dùng là tối đa hóa sự tiện lợi hay mức độ thỏa mãn khi tiêu dùng sản phẩm.

Trong cạnh tranh, các chủ thể kinh tế luôn phải tuân thủ một số các quy tắc, ràng buộc chung được quy định bằng văn bản hay các “luật lệ bất thành văn” đến từ hệ thống pháp luật của quốc gia; đặc điểm và nhu cầu thị hiếu của khách hàng hay thông lệ, tập quán kinh doanh trên thị trường… Tất cả nhằm mục đích đảm bảo tính lành mạnh trong cạnh tranh.

Phương pháp cạnh tranh. Khi nhắc đến phương pháp cạnh tranh, chắc hẳn ta sẽ nghĩ đến bán giá thấp, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ hậu mãi. Tuy nhiên, trên thực tế còn rất nhiều phương pháp khác như: đa dạng dòng sản phẩm, thúc đẩy xúc tiến bán hàng...

Theo nghĩa rộng nhất, thuật ngữ “qui tắc cạnh tranh” bao gồm những qui tắc chống độc quyền (anti-trust), viện trợ của Nhà nước, độc quyền Nhà nước và các doanh nghiệp quốc doanh.

 

3. Mục tiêu và bản chất của qui tắc cạnh tranh

Cạnh tranh có thể xem như là động lực của hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Nó cho phép cơ chế thị trường vận hành, nhất là về mặt cung đáp ứng cầu và hoạt động hữu hiệu của cơ chế giá. Các qui tắc cạnh tranh là công cụ để nhận ra sự thâm nhập qua lại của các thị trường quốc gia, liên kết chúng lại, che chắn cho những rào cản tư nhân không bị thay thế bằng những rào cản Nhà nước.

Như đã nói ở trên, theo nghĩa rộng nhất, thuật ngữ “qui tắc cạnh tranh” bao gồm những qui tắc chống độc quyền (anti-trust), viện trợ của Nhà nước, độc quyền Nhà nước và các doanh nghiệp quốc doanh.

Như vậy, qui tắc chống độc quyền và doanh nghiệp quốc doanh như thế nào?

- Các qui tắc về chống độc quyền tập trung vào những hành vi giành lấy thị trường. Mục đích là ngăn cản các cácten, các thoả thuận tương tự khác hay những tập quán làm biến dạng cạnh tranh, hoặc xoá bỏ những tác động tiêu cực của những thoả thuận hoặc tập quán đó. Những qui tắc ấy cũng nhằm ngăn cấm sự lạm dụng vị trí thống trị, cũng như cấm việc lập ra hay tăng cường vị trí thống trị bằng cách tập trung, tác động đáng kể đến cơ cấu thị trường.

Những qui tắc có thể có nhiều chức năng, có thể kể đến các chức năng như: ngăn cản việc thiết lập những rào cản thương mại được tạo nên bởi những thoả thuận giữa các bên có trách nhiệm, thiết lập hoặc lạm dụng sự độc quyền hoặc trợ cấp của Nhà nước.

Mục đích của những qui tắc cũng nhằm khuyến khích tính hiệu quả và giá thấp, dẫn tới việc phân bố tối ưu nguồn lực và tăng mức sống. Cùng với các qui tắc cạnh tranh có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường, các nhà sản xuất có khả năng duy trì giâ thành thấp và hấp dẫn, cung cấp hàng hoá và dịch vụ với giá thấp nhất có thể được.

Trong hệ thống pháp lý, nơi áp dụng nguyên tắc ngăn cấm, những tập quán hạn chế nhất, được ban hành trước khi có thực tệ, trong khi nguyên tắc lạm dụng dựa trên khả năng dành cho các tổ chức thực thi quyền lực can thiệp vào các tập quán này khi coi chúng có thể gây tổn hại cho cạnh tranh. Nguyên tắc ngăn cấm thường được áp dụng trong luật Hoa Kỳ, Cộng đồng châu Âu (EC), Khu vực Kinh tế châu Âu (EEA). Nguyên tắc lạm dụng thường được các nước nhỏ ở Tây Âu làm theo, lấy một ví dụ về hiệp định quốc tế là Công ước Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA). Không nên đánh giá quá cao tầm quan trọng có tính thực tế trong sự phân biệt nguyên tắc ngăn cấm và lạm dụng, vì kết quả cuối cùng của chúng cũng giống nhau.

Nguyên tắc ngăn cấm thường được giảm nhẹ bằng khả năng đưa ra những ngoại lệ, còn nguyên tắc lạm dụng thường được nhấn mạnh thêm bằng việc cấm những hạn chế căn bản.

Lấy ví dụ: nguyên tắc cấm ở EEA được giảm nhẹ, mặt khác, bằng khả năng giám sát của các tổ chức có thẩm quyền lại cho phép những ngoại lệ riêng biệt, hơn nữa bằng cả sự tồn tại của cái gọi là các qui định miễn trừ cả khối. Nhờ các qui định miễn trừ cả khối, một số phạm trù của các thoả thuận giữa các các nhà hoạt động kinh tế không bị cấm, miễn là các thoả thuận đáp ứng một số điều kiện.

 

4. Vai trò cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

Ta có thể kể đến vai trò cạnh tranh trong một số lĩnh vực sau:

 

4.1 Vai trò cạnh tranh đối với Doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, đối với doanh nghiệp mà nói cạnh tranh có thể được xem như là một cuộc chạy đua không có đích đến. Cạnh tranh quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nói cách khác, cạnh tranh thúc đẩy và tạo động lực phát triển cho doanh nghiệp. Để có thể cạnh tranh được với các đối thủ của mình, doanh nghiệp buộc phải tìm mọi cách để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Kể đến như: Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vào cải thiện quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng... Từ đó doanh nghiệp sẽ có khả năng nâng cao giá trị, độ uy tín và vị thế của mình trong thị trường.

 

4.2 Vai trò cạnh tranh đối với người tiêu dùng

Về mặt tích cực, cạnh tranh tạo ra nhiều quyền lợi đối với người tiêu dùng. Nhờ có cạnh tranh, người tiêu dùng có thể lựa chọn và sở hữu các sản phẩm, dịch vụ đa dạng hơn với chất lượng cao hơn, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của họ. 

Bên cạnh những lợi ích, không thể phủ nhận rằng cạnh tranh vẫn còn tồn tại những mảng bất cập gây bất lợi đối với người tiêu dùng, phổ biến nhất là cạnh tranh không lành mạnh: Tình trạng “cá lớn nuốt cá bé” làm gia tăng các thủ đoạn làm hàng giả, hàng kém chất lượng, lừa đảo, trốn thuế, hối lộ, ăn cắp bản quyền, tung tin thất thiệt nhằm phá hoại uy tín của đối thủ, vi phạm pháp luật...; Cạnh tranh chạy theo lợi nhuận, lợi ích cá nhân bất chấp gây ảnh hưởng đến môi trường, cạn kiệt tài nguyên, gia tăng sự phân hóa giàu nghèo; gây bất ổn định về kinh tế… Chính vì vậy, điều đặt ra là cần phải có những biện pháp triệt để nhằm giữ gìn bản chất tốt đẹp của cạnh tranh là bình đẳng  và minh bạch.

 

4.3 Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế

Đối với nền kinh tế nói chung, cạnh tranh là môi trường hoàn hảo thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của mọi thành phần kinh tế. Cạnh tranh góp phần xóa bỏ những “trở ngại” cho sự phát triển kinh tế như độc quyền, bất bình đẳng, bất hợp lý trong kinh doanh. Cùng với đó, nó còn giúp đẩy nhanh sự phát triển, tiến bộ của khoa học kỹ thuật - công nghệ và sự phân công lao động xã hội. Cạnh tranh giúp nâng cao chất lượng đời sống thông qua việc đa dạng hóa sản phẩm, không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa, sản phẩm, kích thích nhu cầu phát triển. Ngoài ra, một vai trò vô cùng quan trọng của cạnh tranh là làm cho nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho doanh nghiệp trong nước vươn ra thị trường quốc tế.

 

5. Các loại hình hành vi chống cạnh tranh

Nói chung các tổ chức thực thi quyền cạnh tranh bị thu hút bởi bốn loại hình hành vi chống cạnh tranh sau đây:

- Các thoả thuận theo chiều ngang, tức là các thoả thuận tác động giữa các bên hoạt động kinh tế ở cùng một cấp độ sản xuất hay phân phối.

Các tổ chức thục thi quyền này thường có thái độ thù địch với việc cố định giá, chia phần thị trường, tẩy chay V.V.. (những hạn chế cơ bản), nhưng chấp thuận một thái độ nới lỏng đối với các thoả thuận hợp tác. nhất là giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Các thoả thuận theo chiều dọc, tức là những thoả thuận giữa cắc nhà hoạt động kinh tế ở các cấp độ khác nhau trong một chuỗi sản xuất, chẳng hạn giữa nhà sản xuất và nhà phân phối.

Nói chung, thoả thuận chiều dọc không được xem là xâm hại đến cạnh tranh như là thoả thuận chiều ngang. Một số nhà kinh tế học Hoa Kỳ bày tỏ quan điểm rằng, bản thân các các tổ chức thực thi cạnh tranh không lo ngại những thoả thuận theo chiều dọc, vì những tích cực của chúng vượt lên trên những tác động tiêu cực tiềm ẩn. Những thoả thuận như vậy ở châu Âu, trong khi không bị coi là nghiêm trọng như những thoả thuận theo chiều ngang, song vẫn được xem xét tỷ mỷ, chủ yếu vì những mục đích cân nhắc trong khi hợp nhất thị trường ở EC.

- Lạm dụng vị trí thống trị. Đối với loại hạn chế này, thường được thừa nhận là phải giám sát kỹ lưỡng, mặc dù có những sự khác nhau về cách tiếp cận.

Các tổ chức thực thi ở Hoa Kỳ chủ yếu quan tâm đến việc bảo hộ những người đang đối phó với doanh nghiệp thống trị khỏi bị bóc lột. Nhưng ở EC, người ta lo ngại là các doanh nghiệp lớn gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ trong cạnh tranh.

- Việc kiểm soát của các tập đoàn lớn hoặc các tổ hợp doanh nghiệp có thể tạo nên hoặc tăng cường vị trí thống trị, do đó ngăn trở cạnh tranh có hiệu quả. Loại hành vi chống cạnh tranh tiềm ẩn này không được giám sát có hiệu quả tại Hoa Kỳ cho tới những năm 1950 và tại châu Âu sau năm 1970.

Có những cách khác nhau thực hiện qui tắc cạnh tranh, nghĩa là ở cấp độ quốc gia, cấp độ liên chính phủ hoặc cấp độ siêu quốc gia. Hầu hết các tổ chức thực thi quốc gia tự coi mình đủ năng lực trong lĩnh vực này chỉ khi nào các tập quán chống cạnh tranh đã và đang có chiều hướng có hiệu lực trong lãnh thổ của họ. Một khi các tập quán tác động giữa các Nhà nước, thì các hiệp định song phương hay đa phương mới có hiệu lực. Trong các hiệp định cổ điển liên chính phủ, tình hình đó đòi hỏi sự tham khảo giữa các chính phủ (các Bên Ký kết) và dẫn đến sự thoả hiệp về chính trị. Trong các hiệp ước có yếu tố siêu quốc gia, các tổ chức giám sát độc lập được thành lập và được giao quyền để xử lý những xâm hại các qui tắc kể cả giữa các bên tư nhân và chính phủ. Tình hình đó dẫn đến việc áp đặt xử phạt và những biện pháp khác. Thông thường các quyết định của các tổ chức giám sát ấy đều phụ thuộc vào các quan điểm phâp lý của cắc toà án quốc tế.

 

6. Một số câu hỏi thường gặp liên quan đến quy tắc cạnh tranh

6.1 Hãy cho biết có bao nhiêu loại hình hành vi chống cạnh tranh?

Về loại hình hành vi chống cạnh tranh có thể chia thành các loại sau: thoả thuận theo chiều ngang;  thoả thuận theo chiều dọc; Lạm dụng vị trí thống trị và kiểm soát của tập đoàn lớn (hoặc các tổ hợp doanh nghiệp) có thể tạo nên hoặc tăng cường vị trí thống trị.

 

6.2 Quy tắc cạnh tranh có thể dựa vào những cách tiếp cận nào?

Quy tắc cạnh tranh có thể dựa vào những cách tiếp cận sau: Nguyên tắc ngăn cấm và nguyên tắc lạm dụng. 

 

6.3 Hãy cho biết mục đích cơ bản của quy tắc cạnh tranh là gì?

 Mục đích cơ bản của quy tắc cạnh tranh là cung cấp những điều kiện bình đẳng của cạnh tranh cho các nhà điều hành kinh tế trong phạm vi một thị trường nhất định để tạo ra sự cạnh tranh có hiệu lực. 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng!