Trả lời:

1. Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp

Theo nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp, các quốc gia có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình, không làm phương hại đến hòa bình, an ninh và công lý quốc tế (Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại Hội đồng UN ngày 24/10/1970. Tuyên bố về những nguyên tác của luật quốc tế điều chinh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiên chương Liên hợp quốc). Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc quy định:

“Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những điểu ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình”.

Ngay cả trong trường hợp không đạt được thỏa thuận lựa chọn các biện pháp được ghi nhận trên đây, các bên vẫn có nghĩa vụ tìm kiếm biện pháp hòa bình khác, không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp, ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh quốc tế.

Với tính chất là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế, trong đó có lĩnh vực luật biển. Khi đối diện với những tranh chấp trên biển, các quốc gia phải nỗ lực tìm kiếm biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp, tránh những xung đột và căng thẳng leo thang làm ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh quốc gia, khu vực cũng như trên toàn cầu.

2. Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp

Theo quy định tại Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc và thực tiễn quan hệ quốc tế, các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp chủ yếu bao gồm: đàm phán; thông qua bên thứ ba (trung gian, hòa giải...); giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế hoặc điều ước quốc tế khu vực và giải quyết tranh chấp tại các cơ quan tài phán quốc tế.

2.1 Đàm phán

Tranh chấp quốc tế trên biển là một trong những loại tranh chấp phức tạp, đòi hỏi các chủ thể có thiện chí trong việc lựa chọri biện pháp giải quyết tranh chấp phù họp, qua đó tránh đước những căng thẳng, xung đột ảnh hưởng đến quan hệ giữa các quốc gia cũng như hòa bình và an ninh khu vực. Trên thực tế, các bên có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó biện pháp đàm phán thường được ưu tiên áp dụng trước nhất.

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

Đàm phán là sự thỏa thuận, nhân nhượng về mặt lợi ích giữa các chủ thể. Hoạt động đàm phán phải được tiến hành dựa trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng thỏa thuận, đồng thời tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, tuân thủ các quy định trong pháp luật quốc gia về thẩm quyền tham gia đàm phán.

Đàm phán là biện pháp mang tính truyền thống và phổ biển nhất khi giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể. Các cuộc đàm phán có thể tiến hành theo phương thức đàm phán song phương, đa phương với các cấp đàm phán khác nhau. Mục đích của đàm phán là nhằm đạt được tiếng nói chung, bởi khi tham gia đàm phán, các bên đều mong muốn nhận được những lợi ích tối đa, tuy nhiên không phải lúc nào cũng có thể đạt được tất cả mục tiêu đề ra trước khi tiến hành đàm phán. Trong thực tiễn tranh chấp trên biển, các chủ thể cũng thường ưu tiên lựa chọn đàm phán là biện pháp đầu tiên để giải quyết xung đột, bất đồng.

Ví dụ: các cuộc đàm phán giữa Indonesia và Philippines tại khu vực chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước ở biển Minadao và biển Clebes. Các cuộc đàm phán được tiến hành từ năm 1994, sau đỏ gián đoạn một thời gian, đến năm 2010 tiến trình đàm phán được tiếp tục và đến ngày 23/5/2014, hai quốc gia đã ký Hiệp định phân định ranh giới biển.

Biện pháp đàm phán có thể được các bên sử dụng vào bất kì giai đoạn nào của quá trình giải quyết tranh chấp. Luật quốc tế không có quy định cấm sử dụng biện pháp đàm phán khi đang tiến hành các biện pháp giải quyết tranh chấp khác. Trên thực tế, các bên vẫn có thể tiến hành thỏa thuận, trao đổi các quan điểm khi áp dụng biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài, tòa án.

Trong biện pháp đàm phán, các bên tranh chấp hoàn toàn có thể chủ động lựa chọn cách thức đàm phán, linh hoạt về trình tự, thủ tục đàm phán (thời gian, địa điểm, soạn thảo tài liệu...). Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của biện pháp trên là đàm phán chỉ có thể thành công nếu các bên tranh chấp thực sự có thiện chí tham gia vào quá trình đàm phán. Trong một số trường hợp, lợi ích của các bên khó có thể dung hòa khi tranh chấp ngày càng gay gắt; các bên liên quan thậm chí đặt ra một số điều kiện trước khi ngồi vào bàn đàm phán và điều này có thể làm chậm quá trình giải quyết tranh chấp. Chính vì vậy, trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các quốc gia có thể áp dụng kết hợp biện pháp đàm phán với một số biện pháp hòa bình khác để giải quyết tranh chấp.

2.2 Giải quyết tranh chấp thông qua bên thứ ba

Các biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua bên thứ ba bao gồm môi giới, trung gian, hòa giải, ủy ban điều tra, ủy ban hòa giải. Những biện pháp trên được quy định trong các điều ước quốc tế như Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Lahaye 1899 và 1907 về hòa bình giải quyết tranh chấp quốc » tế, Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969.

Bên thứ ba tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp có thể là cá nhân, quốc gia, tổ chức quốc tế liên chính phủ... Việc lựa chọn chủ thể là bên thứ ba có ý nghĩa quan trọng bởi khi thực hiện vai trò khách quan của mình, bên thứ ba đồng thời đưa ra ý kiến khuyến nghị, giúp các bên dung hòa quan điểm hoặc soạn thảo vãn bản cho các bên giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, ở mỗi biện pháp giải quyết tranh chấp, vai trò của bên thứ ba được thể hiện ở những mức độ khác nhau. Trong biện pháp môi giới, nhiệm vụ của bên môi giới là thông qua con đường ngoại giao, sử dụng uy tín của mình để thuyết phục các bên tiến hành đàm phán; vai trò của bên môi giới sẽ kết thúc khi các bên chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán để giải quyết tranh chấp. Bên trung gian tham gia ở mức độ sâu rộng hơn môi giới, họ sẽ tham gia vào toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp, với vai trò dung hòa lợi ích, quan điểm, giữ bầu không khí hợp tác của các bên. vái trò của bên thứ ba thể hiện sâu rộng nhất ở biện pháp hòa giải, với sự tham gia giải quyết tranh chấp của ủy ban hòa giải được thành lập mang tính ad hoc hoặc thường trực. Bên hòa giải sẽ tiến hành xem xét một cách khách quan vụ tranh chấp và nồ lực xây dựng các điều khoản trên cơ sở yêu cầu của các bên. Như vậy, bên hòa giải không những tham gia cả quá trình giải quyết tranh chấp mà còn có thể đề xuất các giải pháp, hỗ trợ các bên tìm kiếm tiếng nói chung, thậm chí soạn thảo các điều khoản giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các bên.

Các biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua bên thứ ba cũng có những nhược điểm trong quá trình áp dụng, thể hiện ở việc ý kiến của bên thứ ba chỉ mang tính chất khuyến nghị, không có giá trị pháp lý ràng buộc các bên tranh chấp. Chính vì vậy, việc giải quyết tranh chấp có thể thành công hay không vẫn phụ thuộc vào ý chí của các bên tranh chấp. Cũng không loại trừ trường hợp bên thứ ba tham gia quá sâu vào việc giải quyết tranh chấp hoặc lợi dụng tình thế để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia liên quan.

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển của các quốc gia ?

2.3 Giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán quốc tế

Cơ quan tài phán quốc tế là thiết chế được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận của các chủ thể Luật quốc tế, thực hiện chức năng giải quyết bằng trình tự, thủ tục tư pháp các tranh chấp phát sinh trong quan hệ hợp tác giữa các chủ thể nhằm củng cố và duy trì trật tự pháp lý quốc tế.

So với các biện pháp khác, giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán quốc tế có các quy định chặt chẽ về hình thức, trình tự và thủ tục.‘Các cá nhân trực tiếp giải quyết vụ việc là các thẩm phán, trọng tài viên, hội thẩm... có năng lực và trình độ chuyên môn cao, được lựa chọn để đảm bảo tính khách quan, công tâm trong quá trình giải quyết tranh chấp. Cùng với đó, phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế có giá trị chung thẩm và bắt buộc đối với các bên tranh chấp. Kết quả giải quyết tranh chấp này sẽ được các bên đảm bảo tự nguyện thực hiện, trong một sổ trường hợp, cơ quan tài phán quốc tế có thể yêu cầu các thiết chế khác hỗ trợ việc đảm bảo thực thi phán quyết. Ví dụ: Điều 94 khoản 2 Hiến chương UN quy định:

“Nếu một bên đương sự trong một vụ tranh chấp không thi hành những nghĩa vụ mà họ phải chấp hành theo phản quyết của Tòa án, thì bên kia có thể khiếu nại với Hội đồng bảo an. Hội đồng bảo an nếu thay cần thiết có thể kiến nghị hoặc quyết định những biện pháp để làm cho phán quyết này được chấp hành".

Có thể thấy rõ hai lợi ích cơ bản của việc giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán quốc tế: mâu thuẫn, xung đột giữa các bên được giải quyết dứt điểm; tranh chấp được giải quyết trong một khoảng thời gian xác định, theo qui định về thủ tục giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán đó. Những lợi ích này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc duy trì quan hệ hòa bình, ổn định giữa các quốc gia liên quan, tránh được sự leo thang tranh chấp thành xung đột vũ trang.

Tuy nhiên, các cơ quan tài phán quốc tế chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên cơ sở chấp nhận thẩm quyền của tất cả các bên tranh chấp thông qua tuyên bố đơn phương của từng bên hoặc thông qua thỏa thuận giữa các bên ký kết trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh. Trong trường hợp tranh chấp được giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế, các bên tranh chấp sẽ phải tập trung xây dựng hồ sơ pháp lý và tranh tụng trước cơ quan tài phán. Vì vậy, khác với biện pháp ngoại giao, khi đã trao quyền phán quyết cho cơ quan tài phán quốc tế, các bên tranh chấp không còn hoàn toàn chủ động trong kết quả giải quyết tranh chấp. Sẽ có thể có bên thắng và bên thua kiện. Phán quyết cuối cùng thuộc về cơ quan tài phán quốc tế.

Một số cơ quan tài phán quốc tế thường được các quốc gia lựa chọn để giải quyết các tranh chấp về biển như Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án Luật biển quốc tế, Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của Công ước Luật biển năm 1982. Tòa án Công lý quốc tế là một trong 6 cơ quan chính của UN với thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp được các quốc gia đưa ra trước tòa, trong đó một số lượng lớn các vụ tranh chấp liên quan đến biển.1 Bên cạnh đó phải kể đến vai trò quan trọng của Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII và Tòa án Luật biển quốc tế. Đây là những thiết chế thành lập trong khuôn khổ của Công ước luật biển năm 1982 với tư cách là thiết chế độc lập, thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp về biển. Các vụ việc được giải quyết tại những thiết chế trên có nội dung đa dạng, liên quan đến nhiều vấn đề như tranh chấp về phân định biển, tranh chấp về thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển. Trong một số trường hợp các chủ thể tham gia vào các vụ giải quyết tranh chấp không chỉ bao gồm các quốc gia mà còn có tổ chức quốc tế liên chính phủ.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế