1. Một vài nét về biển Đông.

Biển Đông là một biển nửa kín được bao bọc bởi 9 quốc gia đó là Việt Nam, Trung Quốc bao gồm cả Đài Loan, Philippins, Malaysia, Brunay, Indonesia, Campuchia, Singapore. Biển Đông rộng khoảng 3.4 triệu km2

Biển Đông có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng bởi là cầu nối giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông-  châu Á. Là cầu nối giao lưu thương mại giữa các nước với nhau, không chỉ thế biển Đông còn là khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản các loại như dầu,khí đốt,và các khoáng sản như sắt,cát thủy tinh, titan... và nguồn thủy sản với trữ lượng vô cùng lớn. Bên cạnh đó biển Đông là tuyến vận tải nhộn nhịp lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau tuyến Địa Trung Hải, mỗi ngày có từ 150 đến 200 tàu thuyền các loại qua biển Đông và có đến hơn 90% thương mại vận chuyển qua biển thì có đến 45% là vận chuyển qua biển Đông. Bởi vậy, biển Đông có thể được xem là tài sản vô giá đối với các quốc gia. 

Eo biển Ma - lắc- ca là eo biển nằm giữa bán đảo Malay và đảo Sumatra, nối biển Đông và Ấn Độ Dương, eo biển này dài khoảng 805km. Cho nên eo biển này có vài trò hết sức quan trọng đối với  an ninh,giao thông hàng hải và kinh tế.

Các đảo trên biển Đông có ý nghĩa quan trọng đối với nhiều quốc gia ven biển bởi đó là nơi thuận tiện để xây dựng các trạm dừng chân, trạm thông tin và khu tiếp nhận nhiên liệu cho tàu thuyền, phục vụ cho tuyến hàng hải trên biển Đông. 

2. Các tranh chấp ở biển Đông hiện nay?

2.1. Tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

- Tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa

 Chủ quyền Hoàng Sa là nơi tranh chấp của 3 quốc gia đó là Việt Nam, Trung Quốc và  Đài Loan. Cả Việt Nam và Trung Quốc đều công bố chủ quyền đối với Hoàng Sa. Năm 2007 đã có vài cuộc biểu tình diễn ra nhằm phản đối chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và việc Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa, Trường Sa cũng như thành lập thành phố Tam Sa. Việt Nam truyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên quy định của công ước Luật Biển 1982.

Trước đây chính quyền Pháp ở Đông Dương chiếm giữ quần đảo này sau đó là Việt Nam nắm giữ chủ quyền trừ hai đảo đó là Phú Lâm và Linh Côn do Trung Quốc nắm giữ từ năm 1956. Năm 1974, Trung Quốc đem quân tấn công căn cứ quân sự của Việt Nam Cộng Hòa chiếm giữ Hoàng Sa. Việt Nam và Đài Loan cũng đang tuyên bố chủ quyền với vùng biển này.

- Tranh chấp chủ quyền Trường Sa.

Đây là nơi tranh chấp của 6 quốc gia và lãnh thổ trong đó Việt Nam kiểm soát 21 vị trí trong quần đảo , Trung Quốc kiểm soát 7 vị trí, Đài Loan kiểm soát 2 vị trí, Philippin kiểm soát 10 vị trí, Malaysia kiểm soát 7 vị trí và Brunei chưa chiếm đóng vị trí nào nhưng nhưng Brunei cho rằng ranh giới vùng biển và thềm lục địa thể hiện trên biển đồ có phần chồng lấn lên khu vực phía nam Trường  Sa.

Thực chất đây là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ được tạo nên bởi một số nước trong khu vực đã sử dụng vũ lực hoặc một số biện pháp khác để chiếm đống một phần hay toàn bộ  chủ quyền của toàn bộ chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông. Để chứng minh, bảo vệ hay giải quyết tranh chấp liên quan đến biển đông hoặc liên quan đến các cơ quan tài phán quốc tế đã lựa chọn thì dựa vào nguyên tắc chiếm hữu thật sự , một nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ hiện đang được vận dụng trong xem xét giải quyết tranh chấp một cách thông dụng nhất trong hiện nay. Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982 lại không có điều khoản nào quy định về các nguyên tắc này. Nói cách khác công ước liên hợp quốc về luật biên năm 1982 không phải là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và  Trường sa . 

 

2.2. Tranh chấp trong phân định biển và thềm lục địa chồng lấn.

Các tranh chấp này xuất hiện khi các quốc gia áp dụng quy tắc trong xác các vùng biển mà công ước luật biển 1982 đưa ra. Theo đó sẽ có những vùng chồng lấn nhất định giữa các quốc gia có vùng biển gần nhau.  Khi đó việc xảy ra tranh chấp giữa các quốc gia là không thể không có. Hiện nay, các tranh chấp trong phân định biển và thềm lục địa đã và đang được các quốc gia liên quan nổ lực đàm phán và giải quyết.  Và sau đây là một số tranh chấp về phân định biển và thềm lục địa giữa Việt Nam và một số nưóc trong khu vực biển Đông 

- Với Trung Quốc đó là phần phân định biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ vẫn đang được tiếp tục đàm phán khi hai nước kí hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ. 

- Với Malaysia hiện nay đang tồn tại vùng biển chồng lấn trên vịnh Thái Lan. Năm 1992 hai bên đã kí bản ghi nhớ thỏa thuận hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn và phối hợp trình báo chung về khu vực thềm lục địa kéo dài liên quan đến hai nước Liên Hợp Quốc năm 2009.

- Với Campuchia tranh chấp trên vùng vịnh Thái Lan, hai bên mới kí hiệp định về vùng nước lịch sử năm 1982, trong đó chỉ khẳng định hai nước xem vùng nước trên vịnh Thái Lan vùng nước lịch sử chung và sẽ thực hiện đàm phán phân định sau.

- Với Thái Lan hai bên có vùng chồng lấn trên Vịnh Thái Lan và kí hiệp định phân định thềm lục địa, đang tiếp tục đàm phán về vùng đặc quyền kinh tế năm 1997

- Với Indonesia hai bên đã ký kết phân định biển và thềm lục địa và đang tiếp tục đàm phán giải quyết ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

3. Đánh giá khả năng sử dụng tòa ACJ trong giải quyết tranh chấp? 4

3.1. Đánh giá.

Nếu được sử dụng ICJ  nhằm bảo vệ chủ quyền, các quyền,lợi ích hợp pháp của Việt Nam tại biển Đông thì đây sẽ là một lợi thế lớn vì phán quyết của ICJ có giá trị chung thẩm và bắt buộc đối với các bên trong tranh chấp . Tuy nhiên việc Việt Nam sử dụng tòa ICJ trong giải quyết tranh chấp còn gặp một số vướng mắc như'

-  Đài Loan chưa được công nhận là quốc gia độc lập, điều này khiến cho ICJ không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến 02 vị trí mà Đài Loan đang kiểm soát trên  Trường Sa một cách bất hợp pháp căn cứ theo điều kiện áp dụng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của ICJ. 

-  Ngoại trừ Philippin và Campuchia tuyên bố đơn phương chấp nhận thẩm quyền của tòa thì hiện nay chưa có quốc gia nào bao gồm cả Việt Nam chấp nhận thẩm quyền của tòa theo 03 phương thức đây là khó khăn rất lớn đối với Việt Nam nếu muốn sử dụng ICJ bởi tòa không được các quốc gia tranh chấp giao thẩm quyền giải quyết. 

- Việc sử dụng chức năng tư vấn gặp nhiều khó khăn, Trung Quốc là ủy viên thường trực hội đồng bảo an , vì thế nếu thông qua hội đồng bảo an thực hiện chức năng tư vẫn sẽ rất khó khăn cho Việt Nam và khó có thể thu được kết quả thuận lợi bởi Trung Quốc sẽ phủ nhận quyền phủ quyết của chính mình. vì thế Việt Nam chỉ có thể thông qua đại hội đồng để xin ý kiến tư vấn của ICJ. Tuy nhiên đại hội đồng thông qua cần có sự đồng ý của 2/3 thành viên, đây cũng là thách thức không nhỏ. Bên cạnh đó nếu Việt Nam sử dụng chức năng tư vấn thì cũng có thể không nhận được câu trả lời bởi vì Đại Hội Đồng có quyền không đưa ra câu trả lời. 

3.2. một số giải pháp

- Với chức năng giải quyết tranh chấp

Việt Nam nên giới hạn chủ quyền đối với những đảo , đá và những vùng biển được chứng minh bằng luận cứ khoa học tự nhiên và lịch sử. Đây là cách gián tiếp đòi hỏi các nước liên quan tham gia giải quyết tranh chấp trên biển Đông. Cần tính toán cân nhắc lựa chọn phương án chấp nhận thẩm quyền của ICJ  trong giải quyết tranh chấp ở Hoàng Sa và Trường Sa cũng như liên quan đến phân định biển trong đó các tuyên bố liên quan đến đơn phương  chấp nhận thẩm quyền của tòa hoặc là chấp nhận thẩm quyền theo vụ việc là phù hợp bởi việc kí kết điều ước quốc tế liên quan đến chấp nhận thẩm quyền của tòa mất rất nhiều thời gian và tốn kém. Trên cơ sở đã chấp nhận thẩm quyền của ICJ ,Việt Nam có thể sử dụng chức năng để giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo Trường Sa giữa Việt Nam và Philippin nhằm để bên có liên quan như Trung Quốc không thể đứng ngoài cuộc được. 

- Với chức năng tư vấn

Tranh chấp trên Hoàng Sa và Trường Sa , Việt Nam nên thực hiện chức năng tư vấn bởi Đài Loan không được công nhận là quốc gia nên ICJ không thể thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp vì thế chức năng tư vấn chiếm ưu thế hơn, với chức năng tư vấn Việt Nam có lẽ sẽ chiếm ưu thế hơn so với Đài Loan trong việc khẳng định chủ quyền với quần đảo Trường Sa . Liên quan đến chức năng tư vấn thì Việt Nam thông qua hội đồng bảo an là không khả quan và chỉ có thể thông qua đại hội đồng , Việt Nam có vận dụng thành công hay không phụ thuộc vào 02 yếu tố vấn đề pháp lý mà Việt Nam đưa ra và sự vận động ngoại giao  các quốc gia thành viên của Đại Hội Đồng. Vì thế Việt Nam cần được sự ủng hộ của cộng đồng  quốc tế và đặt ra những vấn đề pháp lý có lợi cho chính mình. 

Muốn sử dụng được ICJ để bảo vệ quyền  và lợi ích hơp pháp chính đáng cho chính quốc gia mình thì Việt Nam phải đối mặt với những thách thức không hề nhỏ như là nhiều nước tranh chấp chưa chấp nhận thẩm quyền của tòa ICJ hay là  việc Trung Quốc có thẩm quyền lớn trong Hội Đồng Bảo An là một trong những thành viên của hội đồng thường trực .... Cho nên để bảo vệ quyền lợi của mình , Việt Nam cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau bên cạnh sử dụng chức năng của ICJ.

Nhìn chung, để giải quyết tranh chấp pháp lý liên quan đến biển Đông , Việt Nam sử dụng tòa ICJ là có lợi thế vô cùng lớn. cả về trong giải quyết tranh chấp liên quan đến Hoàng Sa và Trường sa hay là tranh chấp liên quan đến phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn tại biển Đông hiện nay.  Cơ chế giải quyết này được đánh giá khá là cao trong giải quyết tranh chấp.