Trả lời:

1. Khái niệm tranh chấp trên biển

Sự hình thành và phát triển của các quan hệ quốc tế ngày càng đa dạng thì những tranh chấp gần như là điều tất yếu phải xảy ra giữa các chủ thể của Luật quốc tế. Bên cạnh những tranh chấp phổ biển như kinh tế, thương mại... thì tranh chấp trên biển đã, đang và sẽ là vấn đề phức tạp mà các chủ thể của Luật quốc tế phải đoi diện giải quyết nhằm duy trì trật tự, ổn định và hòa bình trong đời sống quốc tế.

Theo từ điển Black’s Law, tranh chấp dưới góc độ pháp lý là “sự tranh cãi, xung đột, bất đồng liên quan đến quyền và nghĩa vụ; một bên viện dẫn quyền hay yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ, và bên liên quan đưa ra lập luận phản bác yêu cầu trên”. Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (1992) đưa ra định nghĩa tranh chấp là: “Sự đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên”.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án thường trực công lý quốc tế (PCIJ) và Tòa án công lý quốc tế (ICJ) cũng góp phần làm rõ khái niệm tranh chấp. Trong phán quyết ngày 30/8/1924 giải quyết tranh chấp giữa Hy Lạp và Vương quốc Anh về vụ Chuyển nhượng Mavromatis Palestine, PCIJ xác định tranh chấp “là một bất đồng về một vấn đề của luật pháp hoặc của thực tiễn, hay là một xung đột về quan điểm pháp lý hoặc về lợi ích của hai chủ thể”. ICJ cũng có quan điểm tương tự khi đưa ý kiến tư vấn giải thích Hiệp ước về hòa bình giữa Bungari, Hungary và Romania (30/3/1950), theo đó tranh chấp được hiểu là “tình huống mà trong đó hai bên đã bày tỏ rõ quan điểm trái ngược liên quan đến yêu cầu của việc thực hiện hay không thực hiện nghĩa vụ của điều ước nào đó”.

Từ những quan điểm trên, có thể xác định tranh chấp quốc tế trên biển là những hoàn cảnh thực tế, tại đó các chủ thể Luật quốc tế có sự mâu thuẫn, xung đột về lợi ích hay có quan điểm trái ngược nhau về một vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động trên biển, như xác định vùng biển, phân định biển, thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển và các hoạt động khai thác, sử dụng biển khác.

Thực tiễn cho thấy, những tranh chấp quốc tế trên biển diễn ra chủ yếu giữa các quốc gia, bởi chỉ quốc gia trên cơ sở chủ quyền mới có thể đưa ra các tuyên bố liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển và thực hiện các quyền, nghĩa vụ liên quan tại các vùng biển đó. Các chủ thể khác (như dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết...) tham gia rất hạn chế vào quan hệ pháp luật là đối tượng điều chỉnh của luật biển.

Cá nhân và pháp nhân tham gia trực tiếp vào hoạt động khai thác và sử dụng biển nhung không có thẩm quyền đưong nhiên trong việc thực hiện những quyền đó và không trở thành chủ thể tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật biển quốc tế. Điều 87 khoản 1 Công ước luật biển năm 1982quy định: “Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển". Như vậy, các cá nhân và pháp nhân, khi tiến hành các hoạt động trên biển, được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ, tôn trọng những quy tắc của trật tự pháp lý quốc tế trên cơ sở quyền và nghĩa vụ pháp lý mà các quốc gia thỏa thuận dành cho nhau. Trong một số trường hợp đặc biệt, Công ước luật biển năm 1982cho phép các cá nhân, pháp nhân, có tranh chấp trong quá trình khai thác Vùng - di sản chung của nhân loại, được giải quyết tranh chấp tại Tòa trọng tài thương mại hoặc Viện giải quyết tranh chấp đáy biển thành lập theo quy định của Công ước luật biển năm 1982 (Điều 187 (c) và Điều 188 (2,a) Công ước luật biển năm 1982).

Hoạt động trên biển ngày càng phát triển tất yếu dẫn đến các tranh chấp phong phú, đa dạng cả về hình thức và nội dung. Có thể nêu ra một sổ loại tranh chấp chủ yếu sau:

- Tranh chấp liên quan đến xác định các vùng biển: nội thủy, lãnh hải, đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của quốc gia ven biển và các thực thể địa lý trên biển;

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

- Tranh chấp liên quan đến phân định, các vùng biển chồng lấn;

- Tranh chấp liên quan đến việc thực hiện chủ quyền của quốc gia đối với các vùng biển thuộc chủ quyền (nội thủy, lãnh hải) và các đảo;

- Tranh chấp liên quan đến việc thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển (đặc quyền kinh tế và thềm lục địa). Tại các khu vực này, quốc gia ven biển không có chủ quyền mà có quyền chủ quyền, chủ yếu liên quan đến các hoạt động khai thác, sử dụng và bảo tồn các loại tài nguyên thiên nhiên sinh vật và không sinh vật. Trong khi đó, các quốc gia khác có các quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm.

- Tranh chấp liên quan đển các hoạt động trên các vùng biển ngoài phạm vi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia (biển quốc tế, Vùng - di sản chung của loài người).

- Để giải quyết những tranh chấp phát sinh, các quốc gia có nghĩa vụ áp dụng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tuân thủ các quy định của Luật biển quốc tế. Với tính chất là điều ước quốc tế đa phương toàn cầu lớn nhất trong lĩnh vực Luật biển, Công ước luật biển năm 1982 được coi là cơ sở pháp lý quan trọng để các quốc gia cũng như các cơ quan tài phán quốc tế áp dụng trong giải quyết các tranh chấp trên biển.

2. Phân loại tranh chấp trên biển

Trên phương diện lý luận, tranh chấp quốc tế trên biển có thể được phân loại theo nhiều cách dựa trên các tiêu chí khác nhau.

Căn cứ vào đối tượng tranh chấp, có thể chia làm mấy nhóm chính sau:

- Tranh chấp về xác định các vùng biển và phân định biển (các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia);

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển của các quốc gia ?

- Tranh chấp về chủ quyền đối với các thực thể trên biển: các tranh chấp này liên quan đến việc xác lập chủ quyền quốc gia đối với các đảo ở trên biển như: Tranh chấp giữa Indonesia và Malaysia về chủ quyền đối với các đảo Pulau Ligitan và Pulau Sipadan; tranh chấp giữa Singapore và Malaysia liên quan đến chủ quyền đối với các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge...

- Tranh chấp liên quan đến việc thực hiện hoạt động trên các vùng biển: Những tranh chấp này chủ yếu liên quan đến khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên trên các vùng biển như: Tranh chấp giữa Tây Ban Nha và Canada năm 1995 về hoạt động đánh bắt cá; các tranh chấp tương tự cũng diễn ra giữa Anh và Bắc Alien với Ai len vào năm 1972; tranh chấp giữa Cộng hòa dân chủ Đức và Alien năm 1972...

Căn cứ vào số lượng chủ thể là bên tranh chấp, bao gồm:

- Tranh chấp song phương, đây là tranh chấp diễn ra giữa hai quốc gia trong quá trình xác lập, khai thác và sử dụng biển.

Ví dụ: tranh chấp giữa Mỹ và Norway về hoạt động đánh bắt cá; Tranh chấp về thềm lục địa trên biển Aegean giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ.

- Tranh chấp đa phương, đây là những tranh chấp diễn ra giữa nhiều quốc gia, chủ yếu liên quan đến tranh chấp về chủ quyền đổi với các đảo.

Ví dụ như tranh chấp giữa các quốc gia trên biển Đông (Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Indonesia, Malaysia...).

Căn cứ vào lĩnh vực tranh chấp, có tranh chấp trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học biển, môi trường biển...

Luật Minh KHuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế