Trả lời:

1. Nguyên tắc và phạm vi giải quyết tranh chấp

1.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp

Công ước luật biển năm 1982 dành riêng Phần XV, bao gồm 21 điều quy định cụ thể về nguyên tắc, biện pháp, thiết chế và trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp. Phù hợp với nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp, Điều 279 Công ước luật biển năm 1982 quy định: “Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ giải quyết mọi tranh chấp (...) bằng các phương pháp hòa bình (...) và vì mục đích này, cần tìm ra các giải pháp bằng các biện pháp đã được nêu ở Điều 33 khoản 1 của Hiến chương Liên hợp quốc”. Đây là nguyên tắc cơ bản chi phối toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp của Công ước luật biển năm 1982.

Như vậy, trong trường hợp xảy ra tranh chấp, các bên liên quan có nghĩa vụ giải quyết bằng biện pháp hòa bình. Công ước luật biển năm 1982 không cho phép bảo lưu1 nên các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về giải quyết tranh chấp tại Phần XV của Công ước.

Công ước luật biển năm 1982 trao cho các thành viên quyền lựa chọn biện pháp hòa bình để giải quyết xung đột, mâu thuẫn phát sinh, dù đó là biện pháp ngoại giao hay tài phán, trao đổi quan điểm trực tiếp hay thông qua bên thứ ba (Điều 309 Công ước luật biển năm 1982; Điều 280 và Điều 284 Công ước luật biển năm 1982). Trong trường hợp tranh chấp vẫn chưa được giải quyết, mặc dù các bên đã tuân thủ các qui định của Công ước luật biển năm 1982, một trong các bên có thể đưa vụ việc ra trước Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của Công ước luật biển năm 1982 để có quyết định cuối cùng (Điều 287 Công ước luật biển năm 1982).

1.2 Phạm vi giải quyết tranh chấp

Theo quy định tại Điều 279, cơ chế giải quyết tranh chấp quy định tại Phần XV được áp dụng đối với các tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng các quy định của Công ước luật biển năm 1982. Như vậy, phạm vi giải quyết tranh chấp theo quy định của Công ước luật biển năm 1982 tương đối rộng, liên quan chủ yếu đến những nội dung như: i) việc xác định các vùng biển và phân định trong trường hợp tồn tại các vùng chồng lấn; ii) quy chế pháp lý của các cấu trúc địa chất trên biển; iii) việc thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia trên biển; iv) việc thực hiện quyền đi lại trên biển của các quốc gia (quyền tự do hàng hải, quyền đi qua không gây hại, quyền quá cảnh, quyền đi qua vùng nước quần đảo); v) việc khai thác, quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên biển; vi) các hoạt động nhằm bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; vii) các hoạt động nghiên cứu khoa học biển; viii) các hoạt động liên quan đến khai thác, sử dụng Vùng - di sản chung của nhân loại.

Tuy nhiên, Công ước luật biển năm 1982 quy định những ngoại lệ cho phép các bên hữu quan không áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước luật biển năm 1982. Những ngoại lệ này được quy định tại Điều 297, cụ thể:

- Tranh chấp liên quan đến việc thực thi quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển;

- Tranh chấp liên quan đến quyền tùy ý của quốc gia ven biển trong việc cho phép tiến hành nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó theo đúng quy định tại Điều 246 và quyền của quốc gia trong việc đình chỉ hoặc chấm dứt việc nghiên cứu khoa học biển theo đúng quy định tại Điều 253; và

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

- Tranh chấp liên quan đến việc thực hiện quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với nguồn tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế.

Công ước luật biển năm 1982 đồng thời cho phép các bên tranh chấp, trên cơ sở tuyên bố bằng văn bản vào thời điểm ký, phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước, không áp dụng cơ chế của Công ước luật biển năm 1982 để giải quyết một số tranh chấp cụ thể (Điều 298 Công ước luật biển năm 1982):

- Tranh chấp liên quan đến hoạch định ranh giới các vùng biển được quy định tại các Điều 15, 74 và 83;

- Tranh chấp liên quan đến xác lập chù quyền lãnh thổ, đến vịnh lịch sừ hoặc danh nghĩa lịch sử (historic titles');

- Tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự được thực hiện bởi các tàu thuyền và phương tiện bay nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại;

- Tranh chấp liên quan đến các hoạt động đảm bảo thực thi pháp luật (/đw enforcement activities) của quốc gia ven biển để thực hiện các quyền chủ quyền và quyền tài phán được nêu tại Điều 297 khoản 2 và 3 liên quan đến việc tiến hành nghiên cứu khoa học biển và khai thác tài nguyên sinh vật biển;

- Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc.

Bên cạnh việc giải quyết tranh chấp về giải thích, áp dụng Công ước luật biển năm 1982, các cơ quan tài phán được thành lập theo quy định của Công ước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về giải thích, áp dụng một điều ước quốc tế khác, với điều kiện: i) thỏa thuận này có liên quan đến mục đích của Công ước luật biển năm 1982 và ii) có quy định về việc trao quyền giải quyết tranh chấp cho cơ quan tài phán cụ thể.1 Những cơ quan tài phán nàỵ đồng thời có quyền áp dụng các biện pháp tạm thời và giải quyết vấn đề giải phóng tàu thuyền khi bị một quốc gia bắt giữ hay trả tự do cho thủy thủ đoàn của tàu đó (Điều 288 khoản 2 Công ước luật biển năm 1982 và Điều 290 và Điều 292 Công ước luật biển năm 1982).

2. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển của các quốc gia ?

2.1 Giải quyết theo thủ tục mà các bên tranh chấp lựa chọn

Mục 1 Phần XV của Công ước luật biển năm 1982 ghi nhận những biện pháp hòa bình mà các bên có thể lựa chọn để giải quyết tranh chấp như thương lượng, hòa giải hay thông qua thủ tục tố tụng trọng tài, tòa án. Điều 280 của Công ước luật biển năm 1982 quy định Không một quy định nào của phần này ảnh hưởng đến quyền của các quốc gia thành viên đi đến thỏa thuận giải quyết vào bất cứ lúc nào, bằng bất kì phương pháp hòa bình nào theo sự lựa chọn của mình một vụ tranh chấp xảy ra giữa họ và vấn đề giải thích hay áp dụng Công ước’’’. Như vậy, Công ước luật biển năm 1982 đặc biệt đề cao nguyên tắc thỏa thuận, theo đó các bên tự do thỏa thuận, lựa chọn biện pháp cũng như cách thức giải quyết tranh chấp.

Trong trường hợp, các bên có thỏa thuận về giải quyết tranh chấp, đồng thời loại trừ khả năng áp dụng một thủ tục khác (Điều 281) hoặc có thỏa thuận trong một điều ước quốc tế có quy định về thủ tục dẫn đến quyết định ràng buộc (Điều 282), việc giải quyết tranh chấp sẽ tuân theo sự thỏa thuận trên và loại trừ khả năng áp dụng các quy định tại Mục 2, Phần XV của Công ước luật biển năm 1982.

Theo quy định tại Điều 281 của Công ước luật biển năm 1982, nếu các bên có tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng Công ước luật biển năm 1982và đã thỏa thuận giải quyết bằng biện pháp riêng thì thủ tục bắt buộc dẫn đến quyết định ràng buộc quy định tại Mục 2, Phần XV của Công ước luật biển năm 1982chỉ được áp dụng khi: biện pháp theo thỏa thuận của các bên đã được thực hiện nhưng không đạt kết quả; các bên không thỏa thuận loại trừ khả năng áp dụng các thủ tục khác và thời hạn (nếu có thỏa thuận) để giải quyết tranh chấp đã kết thúc (Điều 281 không bắt buộc các bên phải áp dụng biện pháp đã thỏa thuận để giải quyết tranh chấp một cách vô thời hạn. Điều này đã được làm rõ trong quyết định của Tòa án Luật biển quốc tế (ITLOS) giải quyết tranh chấp giữa New Zealand, úc và Nhật Bản. Đối với yêu cầu tại Điều 281, Nhật Bản cho rằng New Zealand và úc chưa hoàn thành nghĩa vụ thực hiện đến cùng các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp được quy định tại Mục 1, Phan XV của Công ước luật biển. Tuy nhiên, Tòa kết luận nghĩa vụ trên được xác định là hoàn thành khi một bên tranh chấp khẳng định đã thực hiện trong phạm vi có thê biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quy định tại Mục 1, Phần XV của Công ước luật biển năm 1982).

Trong một số trường hợp, khi các bên tranh chấp, trong khuôn khổ của một điều ước quốc tế song phương, khu vực hay đa phương, đã thỏa thuận rằng một vụ tranh chấp liên quan đến giải thích,, áp dụng Công ước luật biển năm 1982, theo yêu cầu của một bên, sẽ được giải quyết theo thủ tục dẫn đến một quyết định ràng buộc, thì thủ tục này được áp dụng thay cho các thủ tục quy định tại Phan XV, trừ khi các bên tranh chấp có thỏa thuận khác (Điều 282 Công ước luật biển năm 1982). Như vậy, theo quy định tại Điều 282, các bên sẽ áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp theo thỏa thuận, không áp dụng các quy định tại Mục 2, Phần XV, khi thỏa mãn bốn điều kiện: thỏa thuận giữa các bên tranh chấp được ghi nhận trong một điều ước quốc tế; có yêu cầu của một bên tranh chấp; thủ tục giải quyết tranh chấp phải dẫn đến quyết định ràng buộc và các bên không có thỏa thuận quay trở lại áp dụng Mục 2, Phần XV của Công ước luật biển năm 1982.

2.2 Thủ tục bắt buộc dẫn đến những quyết định ràng buộc

Trong trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận, tranh chấp sẽ được giải quyết theo thủ tục bắt buộc dẫn đến những quyết định ràng buộc quy định tại Mục 2 Phan XV của Công ước luật biển năm 1982.1 Tuy nhiên, các bên liên quan có nghĩa vụ trao đổi quan điểm trước khi áp dụng thủ tục bắt buộc để giải quyết tranh chấp.

Theo quy định tại Điều 283, các bên có nghĩa vụ trao đổi, thảo luận để giải quyết tranh chấp. Nghĩa vụ trao đổi quan điểm được xác định là đã thực hiện và hoàn thành khi một trong các bên tranh chấp kết luận không có khả năng đạt được thỏa thuận (Điều 286 Công ước luật biển năm 1982).

Trong trường hợp áp dụng thủ tục bắt buộc dẫn đến những quyết định ràng buộc, các bên có thể lựa chọn, theo hình thức tuyên, bố bằng văn bản, một hay nhiều cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp: (i) Tòa án luật biển quốc tế; (iỉ) Tòa án Công lý quốc tế; (iii) Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII; (iv) Tòa trọng tài đặc biệt thành lập theo Phụ lục VIII. Nếu các bên không đưa ra tuyên bố lựa chọn thì được xác định là chấp nhận thẩm quyền của Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII. Quyết định của Tòa Trọng tài là chung thẩm và bắt buộc đối với các bên tranh chấp (Điều 287(1-3) Công ước luật biển năm 1982).

3. Các thiết chế giải quyết tranh chấp

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế

Công ước luật biển năm 1982 không quy định một cơ quan tài phán duy nhất mâ cho phép các quốc gia quyền lụa chọn trong số bốn thiết chế tài phán sau:

- Tòa án Công lý quốc tế;

- Tòa án Luật biển quốc tế;

- Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục vn của Công ước luật biển năm 1982; và

- Tòa trọng tài đặc biệt thành lập theo Phụ lục VIII của Công ước luật biển năm 1982.

Tòa án Công lý quốc tế là một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc, được thành lập vào năm 1945, với tiền thân là Toà án Thường trực Công lý Quốc tế (Permanent Court of International Justice). Tòa án Công lý quốc tế bao gồm 15 thẩm phán, có thẩm quyền giải quyết những xung đột, mâu thuẫn về một vấn đề pháp lý do các bên tranh chấp yêu cầu, được quy định trong Hiến chương UN hoặc trong các điều ước quốc tế khác, bao gồm cả Công ước luật biển năm 1982. Tuy nhiên, Tòa chỉ giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia và trên cơ sở có sự chấp nhận thẩm quyền từ phía các bên tranh chấp. Việc các quốc gia chấp nhận thẩm quyền của Tòa được thực hiện theo ba phương thức: chấp nhận thẩm quyền của Tòa theo từng vụ việc; chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa trong các điều ước quốc tế; đưa ra tuyên bố đơn phương chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa.

Tòa án Luật biển quốc tế là cơ quan tài phán được thành lập trên cơ sở Công ước luật biển năm 1982? Tòa chính thức bắt đầu hoạt (Điều 287 Công ước luật biển năm 1982 và Phụ lục VI Công ước luật biển năm 1982) động từ ngày 01/10/1996, đặt trụ sở chính thức tại Hamburg, Cộng hoà liên bang Đức.

Tòa án Luật biển quốc tế bao gồm 21 thẩm phán, có thẩm quyền chủ yếu trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các quy định của Công ước luật biển.1 Bên cạnh đó, Tòa có thẩm quyền giải quyết xung đột, mâu thuẫn về áp dụng một điều ước quốc tế khác nếu điều ước này có quy định trao quyền giải quyết tranh chấp cho Tòa (Điều 288, Công ước luật biển năm 1982; Điềụ 21 Quy chế Tòa án Luật biển quốc tế và Hiện nay có 11 điều ước quốc tế có quy định trao thẩm quyền giải quyết tranh chấp cho Tòa án luật biển quốc tế).

Cũng giống như Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án Luật biển quốc tế không có thẩm quyền đương nhiên trong giải quyết tranh chấp. Thẩm quyền của Tòa được thiết lập trên cơ sở lựa chọn và chấp nhận thẩm quyền của các bên liên quan. Tuy nhiên, khác với Tòa án Công lý quốc tế, không chỉ các quốc gia, các chủ thể khác cũng có quyền yêu cầu Tòa án Luật biển quốc tế giải quyết tranh chấp:

- Tất cả các thành viên của Công ước luật biển năm 1982, bao gồm quốc gia và tổ chức quốc tế liên chính phủ, có thể lựa chọn đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án Luật biển quốc tế (Tính đến tháng 4/2018, Công ước luật biển có 168 thành viên, bao gồm 167 quốc gia và 01 tổ chức quốc tế liên Chính phủ là Liên minh châu Âu).

>> Xem thêm:  Quần đảo là gì ? Quốc gia quần đảo là gì ? Vùng nước quần đảo được hiểu thế nào ?

- Các chủ thể khác có thể đưa vụ tranh chấp giải quyết tại Tòa án Luật biển quốc tế trong trường hợp tranh chấp liên quan đến khai thác Vùng quy định tại Phàn XI của Công ước luật biển 1 hoặc có điều ước quốc tế dẫn chiếu đến Tòa với tư cách là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (Điều 187 Công ước luật biển năm 1982 và Điều 291 Công ước luật biển năm 1982; Điều 20 (2) Quy chế Tòa án Luật biển quốc tế).

Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII bao gồm 5 thành viên, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng các quy định của Công ước luật biển năm 1982 (Điều 3(b) Phụ lục VII Công ước luật biển năm 1982). Điều 1 Phụ lục VII quy định: với điều kiện phải tuân thủ Phần XV, bất kì bên nào trong vụ ữanh chấp có quyền đưa vụ việc ra giải quyết theo thủ tục trọng tài bằng thông báo văn bản gửi tới bên kia trong vụ tranh chấp.

Trong trường hợp cả hai quốc gia liên quan tham gia vụ kiện, mỗi bên sẽ lựa chọn trọng tài viên và sau đó thỏa thuận lựa chọn 3 thành viên còn lại (Điều 3(b-d) Phụ lục VII Công ước luật biển năm 1982). Trong trường hợp một bên liên quan không tham gia vụ kiện, việc thành lập Tòa trọng tài được tiến hành như sau:

- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được Thông báo khởi kiện, bị đơn có nghĩa vụ chỉ định trọng tài viên; nếu điều này không được thực hiện, nguyên đơn có quyền yêu cầu Chánh án Tòa án Luật biển quốc tế chỉ định trọng tài viên (Điều 3(c-e) Phụ lục VII Công ước luật biển năm 1982).

- Trong trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận về việc lựa chọn một hoặc các thành viên còn lại của Tòa trọng tài, Chánh án Tòa án Luật biển quốc tế sẽ thực hiện việc lựa chọn 3 thành viên của Tòa trọng tài trên cơ sở trong danh sách trọng tài viên được thiết lập phù hợp với Điều 2 Phụ lục VII, trong thời hạn 30 ngày, trên cơ sở yêu cầu và tham vấn các bên tranh chấp.

Phán quyết của Tòa trọng tài có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với các bên tranh chấp.

Tòa trọng tài đặc biệt thành lập theo Phụ lục VIII của Công ước luật biển năm 1982có thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến giải thích, áp dụng các quy định của Công ước luật biển trong một số lĩnh vực cụ thể: i) đánh bắt hải sản; ii) bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; iii) nghiên cứu khoa học biển; iv) hoạt động hàng hải, kể cả ô nhiễm môi trường biển do tàu thuyền hoặc do nhận chìm (Điều 3(d,e) Phụ lục VII Công ước luật biển năm 1982 và Điều 1 Phụ lục vil Công ước luật biển năm 1982). Các quy định về thủ tục tố tụng, giá trị pháp lý phán quyết của Tòa trọng tài đặc biệt được áp dụng “mutatis mutadis” (với những sửa đổi cần thiết về chi tiết) như Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII. Đến thời điểm hiện tại, Tòa trọng tài đặc biệt chưa từng được thành lập theo yêu câu của các bên tranh chấp.

4. Thực tiễn áp dụng cơ chế của Công ước luật biển năm 1982

3.1 Khái quát thực tiễn giải quyết tranh chấp biển của các quốc gia Đông Nam Á

Cho đến thời điểm hiện tại, cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước luật biển năm 1982 chủ yếu được áp dụng tại hai thiết chế tài phán là Tòa án Luật biển quốc tế và Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VIL.

>> Xem thêm:  Vùng nước quần đảo là gì ? Chế độ pháp lý vùng nước quần đảo

Nhìn lại các tranh chấp về biển giới, lãnh thổ đã được giải quyết, có thể thấy rằng, biện pháp đàm phán trực tiếp luôn được các quốc gia ưu tiên áp dụng. Nếu đây là biện pháp gần như duy nhất được sử dụng trong suốt thời gian dài trong thực tiễri quan hệ quốc tế, thì những năm gần đây, một số quốc gia thành viên ASEAN đã lựa chọn hình thức tài phán quốc tế để giải quyết tranh chấp.

Ngày 02/11/1998, trên cơ sở thoả thuận ký ngày 31/5/1997 tại Kuala Lumpur, có hiệu lực ngày 14/5/1998, Malaysia và Indonesia đã yêu cầu Toà án Công lý quốc tế xác định chủ quyền của hai quốc gia trên các đảo Pulau Ligitan và Pulau Sipadan. Ngày 17/12/2002, Tòa ra phán quyết khẳng định chủ quyền của Malaysia đối với các đảo nói trên.

Ngày 24/7/2003, trên cơ sở thoả thuận ký ngày 06/02/2003 tại Putrajaya, có hiệu lực ngày 09/5/2003, Malaysia và Singapore đã yêu cầu Tòa án Công lý quốc tế xác định chủ quyền quốc gia đối với các đào Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge. Ngày 23/5/2008, Tòa ra phán quyết khẳng định Singapore có chủ quyền đối với Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Malaysia có chủ quyền đối với Middle Rocks; địa vị pháp lý của South Ledge sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận phân định lãnh hải giữa hai quốc gia.

Bên cạnh giải quyết tranh chấp tại Tòa án Công lý quốc tế, các quốc gia Đông Nam Ấ đồng thời áp dụng cơ chế Công ước luật biển năm 1982 để giải quyết xung đột, mâu thuẫn phát sinh. Ngày 04/9/2003, trên cơ sở Điều 290 khoản 5 Công ước luật biển năm 1982, Malaysia yêu cầu Tòa án Luật biển quốc tế áp dụng các biện pháp tạm thời nhằm buộc Singapore dừng việc xây dựng công trình lấn biển ven eo biển Johor. Ngày 08/11/2003, Tòa ra quyết định yêu cầu hai nước thành lập nhóm nghiên cứu độc lập để xem xét hệ quả của công trình lấn biển; đồng thời yêu cầu Singapore không được tiếp tục các công trình có khả năng gây thiệt hại cho Malaysia và gây ô nhiễm môi trường biển.

Ngày 08/10/2009, Bangladesh yêu cầu Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII giải quyết tranh chấp với Án Độ và Myanmar về hoạch định đường ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bengal. Tuy nhiên, trên cơ sở yêu cầu của Myanmar ngày 04/11/2009, Bangladesh đồng ý chuyển vụ tranh chấp giải quyết tại Tòa án Luật biển quốc tế (ngày 12/12/2009), phù hợp với quy định tại Điều 287 khoản 4 của Công ước luật biển năm 1982. Như vậy, vụ tranh chấp Bangladesh - Ấn Độ được giải quyết theo thủ tục trọng tài quy định tại Phụ lục VII1; trong khi đó vụ tranh chấp Bangladesh - Myanmar được giải quyết tại Tòa án Luật biển quốc tế.

Việc giải quyết tranh chấp về biển giới, lãnh thổ thông qua con đường tài phán quốc tế là sự lựa chọn tưong đối “mới” của các quốc gia ASEAN. Điều này cho thấy ý chí, nguyện vọng của một số quốc gia mong muốn áp dụng biện pháp này khi không thể đạt được thoả thuận trên bàn đàm phán. Trong chừng mực nhất định, có thể đánh giá đây là bước đi mang tính tích cực của các quốc gia Đông Nam Á.

4.2 Vụ kiện Philippines - Trung Quốc tại Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của Công ước luật biển năm 1982

Khái quát vụ việc: Ngày 22/01/2013, Philippines chính thức triệu tập và gửi Thông báo và Tuyên bố khởi kiện cho Đại sứ quán Trung Quốc về quyết định đưa tranh chấp trên biển với Trung Quốc ra giải quyết tại Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước luật biển năm 1982. Trên cơ sở những cố gắng không thành về chính trị, ngoại giao, Philippines mong muốn tìm kiếm một giải pháp pháp lý bền vững nhằm giải quyết tranh chấp theo quy định của Công ước luật biển năm 1982 mà cả Philippines và Trung Quốc đều là thành viên. Tuy nhiên, Trung Quốc khẳng định không chấp nhận thẩm quyền của các cơ quan tài phán quốc tế và quyết định không tham gia vụ kiện.

Nội dung Thông báo và tuyên bố khởi kiện của Philippines. Trong Thông báo và Tuyên bố khởi kiện, Philippines đã nêu cụ thể những vấn đề yêu cầu Tòa trọng tài xem xét giải quyết, tập trung chủ yếu vào một sổ nội dung:

- Việc Trung Quốc tuyên bố thiết lập đường “đứt khúc 9 đoạn” là hành vi vi phạm Công ước luật biển năm 1982 và Trung Quốc không có quyền yêu sách “quyền lịch sử” vượt qua giới hạn do Công ước luật biển quy định.

>> Xem thêm:  Vùng biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý tại khu vực biển quốc tế

- Các cấu trúc địa chất trên biển Đông mà Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp không có quy chế pháp lý của đảo (Điều 121 khoản 1 Công ước luật biển năm 1982), mà chỉ được xác định là đảo đá (Điều 121 khoản 3 Công ước luật biển năm 1982) và bãi cạn lúc chìm lúc nổi, cụ thể: Các bãi cạn lúc chìm lúc nổi bao gồm: bãi Vành khăn, bãi Me Kennan, đá Gaven, bãi cỏ mây và đá Subi. Các đảo đá bao gồm: đá Gạc Ma, đá Châu Viên, đá Chữ Thập và bãi cạn Scarborough. Philippines cho rằng những đảo đá này chỉ có lãnh hải rộng không quá 12 hải lý bao quanh, không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng.

- Trung Quốc xâm phạm quyền của Philippines trong các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Philippines.

- Trung Quốc vi phạm Công ước luật biển năm 1982 khi thực hiện các hoạt động gây ô nhiễm môi trường biển.

Quan điểm của Trung Quốc: Trước yêu cầu khởi kiện của Philippines, ngày 19/02/2013 Trung Quốc gửi thông báo (Note Verbale) cho Bộ Ngoại giao Philippines, khẳng định quan điểm cho rằng: tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines biển Đông là tranh chấp về chủ quyền đối với các đảo; hai quốc gia đồng thời có các vùng biển chồng lấn cần phân định và đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, đàm phán.

Ngày 07/12/2014, Trung Quốc cho xuất bản tài liệu về lập trường của Trung Quốc đối với thẩm quyền của Tòa trọng tài, trong đó khẳng định ba luận điểm cơ bản: thứ nhất, Trung Quốc cho rằng nội dung vụ kiện liên quan đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ nên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước luật biển năm 1982; thứ hai, Trung Quốc và Philippines, thông qua các văn kiện song phương và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông, đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, đàm phán. Do đó, việc Philippines đơn phương khởi kiện là hành vi vi phạm Luật quốc tế; thứ ba, giả sử trong trường hợp tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng Công ước luật biển năm 1982, nội dung vụ việc là về phân định biển thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 298 Công ước luật biển cho phép loại trừ thẩm quyền của Tòa trọng tài.

Trên thực tế, ngày 25/8/2006, Trung Quốc đưa ra tuyên bố về việc áp dụng các ngoại lệ quy định trong Công ước luật biển năm 1982, với nội dung cụ thể như sau: “Trung Quốc không chấp nhận bất kì thủ tục nào quy định tại Mục 2, Phan XV của Công ước liên quan đến các tranh chấp được nêu tại khoản 1 (a) (b) (c), Điều 298 của Công ước”. Như vậy, đối với những tranh chấp quy định tại khoản 1 (a) (b) (c) Điều 298 Công ước luật biển năm 1982, Trung Quốc không bắt buộc phải áp dụng thủ tục bắt buộc trong cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước luật biển năm 1982.

Với những lập luận trên, Trung Quốc giữ quan điểm cho rằng Tòa trọng tài không có thẩm quyền và Trung Quốc không tham gia vụ kiện.

Trình tự, thủ tục: Trong Thông báo và Tuyên bố khởi kiện Trung Quốc, Philippines đã lựa chọn Rudiger Wolfrum (Đức) là thành viên của Tòa trọng tài.

Ngày 22/02/2013, Philippines yêu cầu Chánh án Tòa án Luật biển quốc tế chỉ định trọng tài viên. Trên cơ sở tham vấn ý kiến của các bên liên quan, phù họp với Điều 3 (c-e) Phụ lục VII, Chánh án Tòa án Luật biển quốc tế đã chỉ định Stanislaw Pawlak (Ba Lan) là thành viên của Tòa trọng tài.

Ngày 25/3/2013, trên cơ sở Điều 3(d-e) Phụ lục VII, Philippines yêu cầu Chánh án Tòa án Luật biển quốc tế lựa chọn 3 thành viên còn Ịại của Tòa trọng tài, đồng thời chỉ định Chánh tòâ của Tòa trọng tài trong số những thành viên này. Trên cơ sở tham vấn các bên tranh chấp, Chánh án Tòa án Luật biển quốc tế chỉ định Thomas A. Ménah (Ghana) là Chánh Tòa của Tòa trọng tài và hai thành viên khác của Tòa trọng tài là Jean-Pierre Cot (Pháp) và Alfred Soons (Hà Lan). Như vậy, Tòa trọng tài gồm 5 thành viên đã được thành lập.

>> Xem thêm:  Thềm lục địa là gì ? Quy định về thềm lục địa địa chất và thềm lục địa pháp lý

Ngày 30/3/2014, Philippines nộp bản lập luận cho Tòa trọng tài. Tòa đồng thời ấn định ngày 15/12/2014 là thời hạn cuối cùng để Trung Quốc nộp bản luận phản biện lại Philippines.

Ngày 17/12/2014, Tòa trọng tài ra thông báo về trình tự, thủ tục vụ việc theo quy định tại Điều 9 Phụ lục VII và Điều 25 (2) của Quy chế Tòa trọng tài, theo đó Philippines có thêm một khoảng thời gian đến ngày 15/3/2015 để nộp bản lập luận bổ sung và Trung Quốc có thời gian trả lời đến ngày 16/6/2015.

Phiên tòa về thẩm quyền của Tòa trọng tài diễn ra trong các ngày 7, 8 và 13/7/2015. Tòa cho phép một số quốc gia tham dự phiên tòa với tư cách quan sát viên, bao gồm: Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Nhật Bản, Singapore và Australia.

Phiên tòa về xét xử nội dung và các vấn đề về thẩm quyền còn tồn tại diễn ra trong các ngày từ 24/11/2015 đến 30/11/2015, với sự tham gia của các nước (quan sát viên): Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Nhật Bản.

Ngày 12/7/2016, Tòa trọng tài ra phán quyết cuối cùng giải quyết vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc.

Các quyết định của Tòa trọng tài'. Ngày 29/10/2015, Tòa trọng tài ra quyết định về thẩm quyền giải quyết vụ việc, trong đó khẳng định:

- Tòa có thẩm quyền để xem xét các yêu cầu của Philippines liên quan đến quy chế pháp lý của các cấu trúc địa chất theo quy định Công ước luật biển năm 1982.

- Đối với yêu cầu của Philippines về đường “đứt khúc chín đoạn” và về yêu sách “quyền lịch sử” của Trung Quốc, Tòa cho rằng cần làm rõ bản chất yêu sách của Trung Quốc; do đó Tòa sẽ giải quyết vấn đề trên trong phiên tòa xét xử về nội dung vụ việc.

- Đối với yêu cầu của Philippines về các hành vi vi phạm của Trung Quốc trong các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Philippines, Tòa cho rằng cần xác định quy chế pháp lý của các cấu trúc địa chất, từ đó xem xét 'nếu xuất hiện các vùng biển chồng lẩn; do đó Tòa sẽ giải quyết vấn đề trên trong phiên tòa xét xử về nội dung vụ việc.

Ngày 12/7/2016, Tòa trọng tài ra phán quyết bác bỏ yêu sách đường “đứt khúc chín đoạn”, đồng thời bác bỏ yêu sách “quyền lịch sử” của Trung Quốc trong phạm vi đường “đứt khúc chín đoạn” ở biển Đông. Theo quan điểm của Tòa, tất cả các tuyên bố xác định vùng biển cần tuân thủ nguyên tắc đất thống trị biển và không được vượt quá giới hạn do Công ước luật biển năm 1982quy định. Vì vậy, yêu sách trên của Trung Quốc là vi phạm Công ước luật biển năm 1982 và không có hiệu lực pháp lý khi vượt quá các giới hạn về vùng biển mà Công ước luật biển năm 1982 cho phép thiết lập.

>> Xem thêm:  Vùng đặc quyền kinh tế là gì ? Chế độ pháp lý đối với vùng đặc quyền kinh tế

Trong phán quyết, Tòa xác định cụ thể quy chế pháp lý của các cấu trúc trên biển, phân biệt đảo, đảo đá và bãi cạn lúc chìm lúc nổi. Đây là lần đầu tiên Tòa có những giải thích cụ thể Điều 121 khoản 3 của Công ước luật biển năm 1982, từ đó đưa ra các tiêu chí để xác định đảo và đảo đá.

Tòa cũng khẳng định Trung Quốc đã vi phạm các quy định của Công ước luật biển năm 1982 khi thực hiện nhiều hoạt động xâm phạm quyền chủ quyền của Philippines và tiến hành xây dựng, cải tạo các cấu trúc thuộc Trường Sa trên quy mô lớn, phá hủy môi trường, làm tổn hại nghiêm trọng hệ sinh thái biển.

4.3 Áp dụng cơ chế của Công ước luật biển năm 1982 trong giải quyết tranh chấp giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực

Theo quy định tại Điều 287 Phần XV Công ước luật biển năm 1982, các thiết chế tài phán có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước luật biển năm 1982. Tuy nhiên, Công ước đồng thời quy định một số trường hợp ngoại lệ, cho phép các quốc gia không áp dụng thủ tục trên. Vì vậy, khi áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước luật biển năm 1982, cần lưu ý hai nội dung quan trọng: i) vấn đề phải liền quan trực tiếp đến việc giải thích và áp dụng các quy định của Công ước luật biển năm 1982 và ii) không thuộc các trường hợp ngoại lệ được quy định tại Điều 297, 298.

Tuyên bố của các quốc gia trong khu vực về áp dụng Công ước luật biển năm 1982

Các quốc gia thành viên có quyền lựa chọn cơ quan tài phán và tuyên bố về các trường hợp ngoại lệ để từ chối áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước luật biển năm 1982 đối với một số tranh chấp cụ thể.

Trong số các quốc gia Đông Nam Á, Đông Timo là quốc gia duy nhất đưa ra tuyên bố lựa chọn cả 4 thiết chế tài phán quy định tại Điều 287. Thái Lan đưa ra tuyên bố về áp dụng các trường hợp ngoại lệ quy định tại Điều 298. Các quốc gia Đông Nam Á khác không đưa ra bất kì tuyên bố nào. Có nghĩa rằng, những quốc gia này chấp nhận thẩm quyền của Tòa trọng tại thành lập theo Phụ lục VII và chấp nhận giải quyết tất cả tranh chấp liên quan đến giải thích, áp dụng các quy định của Công ước luật biển năm 1982.

Về phần mình, Trung Quốc không đưa ra tuyên bố lựa chọn cơ quan tài phán. Vì vậy, các quốc gia khác có thể khởi kiện Trung Quốc theo thủ tục trọng tài quy định tại Phụ lục VII của Công ước luật biển năm 1982. Tuy nhiên, ngày 25/8/2006, Trung Quốc đưa ra tuyên bố về việc áp dụng các ngoại lệ nêu trên, với nội dung cụ thể như sau “Trung Quốc không chấp nhận bất kì thù tục nào quy định tại Mục 2, Phan XV của Cồng ước liên quan đến các tranh chấp được nêu tại khoản 1 (a) (b) (c), Điều 298 của Công ước”. Như vậy, đối với những tranh chấp quy định tại khoản 1 (a) (b) (c) Điều 298 của Công ước luật biển năm 1982, Trung Quốc không bắt buộc phải giải quyết theo cơ chế của Công ước luật biển năm 1982.

Khả năng Việt Nam áp dụng Công ước luật biển để giải quyết tranh chấp

- Khả năng giải quyết tranh chấp tại tòa án quốc tế: Tranh chấp được giải quyết tại Tòa án Luật biển quốc tế và Tòa án Công lý quốc tế khi được các bên liên quan chấp nhận thẩm quyền của Tòa.

>> Xem thêm:  Vùng tiếp giáp lãnh hải là gì ? Quy định về vùng tiếp giáp lãnh hải

+ Trong số các quốc gia Đông Nam Á, Malaysia, Indonesia và Philippines đã và đang sử dụng biện pháp tài phán để giãi quyết tranh chấp. Vì vậy, bên cạnh biện pháp ngoại giao, việc Việt Nam và các bên liên quan thỏa thuận để giải quyết theo con đường tài phán là có tính khả thi trên thực tế.

+ Trong quan hệ với Trung Quốc, khả năng giải quyết tranh chấp tại Tòa án Luật biển quốc tế và Tòa án Công lý quốc tế không có tính khả thi cao vì Trung Quốc không chấp nhận giải quyết tranh chấp bằng biện pháp tài phán.

- Khả năng giải quyết tranh chấp tại Tòa trọng tài theb Phụ lục VII: Các bên tranh chấp có thể đưa vụ việc ra Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII trong trường hợp nội dung khởi kiện liên quan đến giải thích, áp dụng các quy định của Công ước luật biển.

Trong quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam có tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Trường Sa (Malaysia, Philippines, Brunei) và tranh chấp về phân định biển với Thái Lan, Malaysia, Indonesia.

+ Các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ không thuộc phạm vi giải quyết tranh chấp của Công ước luật biển năm 1982 nên chỉ có thể đưa ra Tòa trọng tài nếu được các bên thỏa thuận giải quyết theo trình tự trọng tài.

+ Đối với các tranh chấp về phân định biển, Thái Lan có tuyên bố áp dụng ngoại lệ tại Điều 298 nên chỉ có thể giải quyết tại Tòa trọng tài trên cơ sở thỏa thuận của các bên hữu quan. Malaysia và Indonesia không có tuyên bố về lựa chọn cơ quan tài phán và áp dụng ngoại lệ. Vì vậy, tranh chấp có thể được giải quyết tại Tòa trọng tấi theo yêu cầu của một bên tranh chấp.

Đối với Trung Quốc, quốc gia này không có tuyên bố lựa chọn cơ quan tài phán nên tranh chấp có thể giải quyết tại Tòa trọng tài. Tuy nhiên, Trung Quốc tuyên bố áp dụng các ngoại lệ. Vì vậy, trong trường hợp giải quyết tranh chấp với Trung Quốc theo quy định tại Phụ lục VII, cần lưu ý tránh các trường hợp ngoại lệ mà Trung Quốc đã đưa ra tuyên bo. Trong trường hợp áp dụng Phụ lục VII để giải quyết tranh chấp, cần đặc biệt lưu ý hai nội dung: i) Yêu cầu Tòa tuyên bố các quyền Trung Quốc yêu sách thiết lập ở biển Đông phải tuân thủ Công ước luật biển năm 1982; vì vậy yêu sách “đường lưỡi bò” là vi phạm các quy định của Công ước (Phần III, V, VI về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa); ii) Yêu cầu Tòa xác định quy chế pháp lý của các cấu trúc địa chất thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đã vi phạm khi đon phương thực hiện các hành vi thay đổi hiện trạng những cấu trúc địa chất này. Những yêu cầu trên không thuộc các trường hợp ngoại lệ trong tuyên bố của Trung Quốc và liên quan trực tiếp đến giải thích, áp dụng các quy định của Công ước luật biển.

Tóm lại, mặc dù không là công cụ giúp các quốc gia có được kết luận cuối cùng trong giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, Công ước luật biển năm 1982 là cơ sở pháp lý quan trọng để các bên làm rõ các tuyên bố và yêu sách của mình tại Biển Đông. Cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước đã được nhiều quốc gia vận dụng, là cơ sở để Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp với các nước trong khu vực.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia của Việt Nam theo luật biển quốc tế ?