1. Khái niệm về Biển kín và nửa kín:

Biển kín và nửa kín là một vịnh, một vũng hoặc một vùng biển do nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hay với đại dương qua một cửa hẹp, hoặc là hoàn toàn hay chủ yếu do các lãnh hải và các vùng đặc quyền kinh tế của nhiều quốc gia tạo thành.

Biển kín và nửa kín nếu nằm trọn trong lãnh thổ của một quốc gia (Ví dụ: Biển Aral của Uzơbêkixtan, Biển Trắng thuộc Liên bang Nga...) thì biển đó cấu thành bộ phận của lãnh thổ quốc gia đó. Nhưng nếu bờ biển kín và nửa kín này lại thuộc hai hoặc nhiều quốc gia khác nhau và nếu giữa các quốc gia này không có một điều ước quốc tế đặc biệt về quản lí và sử dụng biển đó, thì có thể phát sinh nhiều tranh chấp pháp lí quốc tế giữa các quốc gia có cùng bờ biển. Lịch sử luật biển quốc tế cho thấy không ít giải pháp pháp lí quốc tế trong lĩnh vực này. Ví dụ, biển Caxpi, trước đây thuộc Nga và Iran, năm 1813 giữa hai nước này đã kí Hiệp định Hulistan, sau đó vào 4828 kí Hiệp định Turemanche cho phép Nga vĩnh viễn có quyển đặc biệt duy trì hạm đội của mình tại đó và chịu quyển tài phán của Nga, cho đến khi biển này vẫn thuộc hai nước. Đến năm 1935 Liên Xô và lran đã kí lại Hiệp định Matxcơva, theo đó hai _ có “UIT quyền hàng hải bình đẳng trong biển Caxpi với những hạn chế nhất định cho tàu chiến. Sau khi Liên Xô tan rã, biển Caxpi lại thuộc Nga, Tuôcmênixtan, Kazăcxtan. Azecbaijan. Biển Đen (Hắc Hải) là một trường hợp khá đặc biệt. Do biển này có ý nghĩa kinh tế, chính trị, quân sự quan trọng đối với nhiều nước nên từ lâu nó đã trở thành đối tượng tranh chấp giữa các quốc gia ven bờ. Trước khi kí hiệp định Kuchuc - Kinargin 1774, biển Đen hoàn toàn thuộc lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, Rumani và Bungari. Ngày nay, biển Đen thuộc Nga, Ucraina, Rumani, Bungari, Thổ Nhĩ Kỳ và Gruzia. Theo Hiệp định Pari 1856, Biển Đen được tuyên bố là biển mở và tự do hàng hải cho mọi thương thuyền. Chỉ có Nga và Thổ Nhĩ Kỳ được duy trì một số tàu chiến loại nhỏ ở đây. Theo Hiệp định Berlin 1878 biển Đen được mở cho giao lưu hàng hải thương thuyền của tất cả các nước với điều kiện Thổ Nhĩ Kỳ có quyền cấm hoặc cho phép tàu chiến nước khác qua lại vô hại qua cửa hẹp Bôxpho và Dardanelbé. Trong giai đoạn hiện nay, chế độ pháp lí của Biển Đen được khẳng định trong công ước Montrial 1936, theo đó Biển Đen được mở cho giao lưu hàng hải thương thuyền của tất cả các nước với điều kiện hạn chế qua lại vô hại của tàu chiến các nước không có chung Biển Đen.

Đối với biển Bantich, theo "điều mật" của Thoả thuận năm 1800 giữa Đan Mạch, Na Uy và Nga thì biển Bantích bị tuyên bố là “biển đóng vĩnh viễn", tuy vậy, trong thời bình tất cả các nước có quyền hàng hải thương thuyền. Đến năm 1857 các nước đã kí với nhau thoả ước về biển Bantích (Thoả ước Pari), theo đó Đan Mạch buộc phải không được gây cản trở hoặc bắt giữ tàu thuyền các nước dưới bất cứ lí do nào khi các tàu thuyển đó qua lại cửa Gunede và Belta, biển Bantích được mở tự do cho mọi tàu thuyền các nước.

2.Sự hợp tác giữa các quốc gia ven biển kín và nửa kín :

Vấn đề biển kín và nửa kín đã được thảo luận tại các hội nghị quốc tế của Liên hợp quốc về luật biển. Tại hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc về luật biển (1973 - 1982), vấn để biển kín và nửa kín đã được thảo luận sôi nổi xoay quanh hai nhóm vấn đề: đó là định nghĩa và sự hợp tác giữa các quốc gia ven biển kín và nửa kín. Thông qua nhiều cuộc thương lượng, Hội nghị đã đạt được thoả hiệp về định nghĩa biển kín và nửa kín tại Điều 122 Công ước năm 1982 về luật biển như sau: “đó là một vịnh, một vũng hoặc một vùng biển do nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hoặc với đại dương qua một cửa hẹp, hoặc là hoàn toàn hay chủ yếu do các lãnh hải và các vùng đặc quyền về kinh tế của nhiều quốc gia tạo thành". Như vậy, định nghĩa này của Công ước năm 1982 về luật biển vừa dựa trên tiêu chuẩn địa lí, vừa kết hợp với tiêu chuẩn pháp lí về lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế để định nghĩa các loại biển đó. Rõ ràng, định nghĩa này rất rộng, người ta có thể đưa vào đó nhiều biển khác nhau, như biển Bantích, Địa Trung Hải, Biển Đen... và cả Biển Đông của các nước Đông Nam Á chúng ta.

Sự hợp tác giữa các quốc gia ven biển kín và nửa kín, hội nghị đã đạt được thoả hiệp như sau:

" Các quốc gia ven bờ biển kín và nửa kín cần hợp tác với nhau trong việc sử dụng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ của họ theo Công ước năm 1982 về luật biển. Vì mục đích đó, các quốc gia này cố gắng phối hợp trực tiếp hoặc qua trung gian của một tổ chức khu vực thích hợp để quản tí, bảo tồn, thăm dò và khai thác các tài nguyên sinh vật biển.

Sử dụng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ của họ liên quan đến việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển.Thực hiện chính sách nghiên cứu khoa học của họ, và nếu có thể thì thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học chung trong khu vực được xem xét. Mời các quốc gia khác hoặc các tổ chức quốc tế hữu quan hợp tác với họ trong việc thực hiện điều khoản này nếu có thể làm được như vậy”. Ở Việt Nam, thuật ngữ "Biển kín và nữa kín' được thể hiện trong các sách, báo khoa học pháp lí dưới các tên gọi rất khác nhau như có thể được gọi là “Biển nội địa" hay “Biển đóng và nửa đóng”, đặc biệt, trong bản dịch “Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982" của tập thể tác giả Lê Minh Nghĩa, Vũ Phi Hoàng, Viễn Đông và Trần Công Trục đã thống nhất gọi là “biển kín hay nửa kín".

3. Giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình:

- Các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp xảy ra giữa họ về việc giải thích hay áp dụng Công ước bằng các phương pháp hòa bình theo đúng Điều 2, khoản 3 của Hiến chương liên hợp quốc (Tất cả các thành viên của Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hoà bình, sao cho không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lý) và, vì mục đích này, cần phải tìm ra giải pháp bằng các phương pháp đã được nêu ở Điều 33, khoản 1 của Hiến chương các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc trnah chấp ấy có thể đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế, trước hết phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo lựa chọn của mình.

- Không một quy định nào của phần này ảnh hưởng đến quyền của các quốc gia thành viên đi đến thỏa thuận giải quyết vào bất cứ lúc nào, bằng bất kỳ phương pháp hòa bình nào theo sự lựa chọn của mình một vụ tranh chấp xảy ra giữa họ và vấn đề giải thích hay áp dụng Công ước.

- Khi các quốc gia thành viên tham gia và một vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước đã thỏa thuận tìm cách giải quyết tranh chấp này bằng một phương pháp hòa bình theo sự lựa chọn của mình, thì các thủ tục được trù định trong phần này chỉ được áp dụng nếu người ta không đạt được một cách giải quyết bằng phương pháp này và nếu sự thỏa thuận giữa các bên không loại trừ khả năng tiến hành một thủ tục khác. Nếu các bên cùng thỏa thuận về một thời hạn, thì khoản một chỉ được áp dụng kể từ khi kết thúc thời hạn này.

- Khi có tranh chấp xảy ra giữa các quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước, các bên tranh chấp tiến hành ngay một cuộc trao đổi quan điểm về cách giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hay bằng các phương pháp hòa bình khác. Cũng như vậy, các bên tiến hành ngay một cuộc trao đổi quan điểm mỗi khi kết thúc một thủ tục giải quyết đối với một vụ tranh chấp như vậy mà không giải quyết được, hay mỗi khi đã có một giải pháp và các hoàn cảnh đòi hỏi các cuộc tham khảo ý kiến liên quan đến việc thi hành giải pháp đó.

4. Thủ tục bắt buộc dẫn đến quyết định bắt buộc:

4.1. Việc lựa chọn thủ tục:

- Khi ký hay phê chuẩn Công ước hoặc tham gia Công ước, hay ở bất kỳ thời điểm nào sau đó, một quốc gia được quyền tự do lựa chọn, hình thức tuyên bố bằng văn bản, một hay nhiều biện pháp sau đây để giải quyết các tranh chấp có liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước: Tòa án quốc tế về Luật biển được thành lập theo đúng Phụ lục VII; Toà án quốc tế. Một tòa trọng tài được thành lập theo đúng Phụ lục VII. Một tòa trọng tài đặc biệt được thành lập theo đúng Phụ lục VIII để giải quyết một hay nhiều loại tranh chấp đã được qui định rõ trong đó.

- Một bản tuyên bố theo khoản 1 không ảnh hưởng đến nghĩa vụ của một quốc gia thành viên phải chấp nhận, trong phạm vi và theo các thể thức được trù định ở Mục 5 của phần XI, thẩm quyền của Viện giải quyết các tranh chấp có liên quan đến đáy biển thuộc Toàn án quốc tế về luật biển và tuyên bố đó cũng không bị nghĩa vụ này tác động đến.

- Một quốc gia thành viên tham gia vào một vụ tranh chấp mà không được một tuyên bố còn có hiệu lực bảo vệ, thì được xem là đã chấp nhận thủ tục trọng tài đã trù định ở Phụ lục VII.

- Nếu các bên tranh chấp đã chấp nhận cùng một thủ tục để giải quyết tranh chấp, thì vụ tranh chấp đó chỉ có thể được đưa ra giải quyết theo thủ tục đó, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

- Nếu các bên tranh chấp không chấp nhận cùng một thủ tục để giải quyết tranh chấp, thì vụ tranh chấp đó chỉ có thể được đưa ra giải quyết theo thủ tục trọng tài đã được trù định ở Phụ lục VII, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

- Một bản tuyên bố theo đúng khoản 1 vẫn còn hiệu lực trong vòng 3 tháng sau khi đã gửi một thông báo hủy bỏ cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.

- Một tuyên bố mới, một thông báo hủy nbỏ hay việc một tuyên bố hết hạn không hề ảnh hưởng đến thủ tục đang tiến hành trước một toàn án có thẩm quyền theo điều này, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

- Các tuyên bố và thông báo đã nêu ở điều này được gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc để lưu chuyển và Tổng thư ký Liên hợp quốc chuyển các bản sao cho các quốc gia thành viên.

4.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

- Một tòa án đã nêu ở Điều 287 của Công ước Liên hợp quốc Luật biển 1982 có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước đã được đưa ra cho mình theo đúng phần này.

- Một tòa án nói ở Điều 287 của Công ước Liên hợp quốc Luật biển 1982 cũng có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng một điều ước quốc tế có liên quan đến các mục đích của Công ước và đã được đưa ra cho mình theo đúng điều ước này.

- Viện giải quyết tranh chấp liên quan đến đáy biển được lập nên theo đúng phụ lục VI và bất kỳ viện nào khác, hay tòa trọng tài nào khác, đã nêu ở Mục 5 của Phần XI, đều có thẩm quyền xét xử mọi vấn đề đã được đưa ra cho mình theo đúng mục đó.

-Trong trường hợp có sự tranh cãi về vấn đề một tòa án có thẩm quyền hay không, thì vấn đề này do tòa án đó quyết định.

Trên đây là bài viết của công ty Luật Minh Khuê về biển kín và nửa kín và một số quy định về giải quyết tranh chấp trên biển theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982. Trân trọng.