mình khi tài sản bảo hiểm bị tổn thất. Vậy pháp luật hiện hành quy định về giải quyết bồi thường trong bảo hiểm tài sản như thế nào?

1. Căn cứ bồi thường khi cho người mua bảo hiểm

Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm trừu tượng nên không dễ nhìn thấy được và không dễ nhận biết được lợi ích cơ bản, công dụng của sản phẩm. Sản phẩm bảo hiểm nói chung và Bảo hiểm tài sản nói riêng là lời hứa, sự cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho khách hàng khi tổn thất xảy ra đối với tài sản bảo hiểm. Vì vậy, việc duy trì uy tín của doanh nghiệp đối với sản phẩm này là rất quan trọng. Bồi thường là nghĩa vụ quan trọng nhất của doanh nghiệp bảo hiểm. Khi một sự kiện bảo hiểm xảy ra, căn cứ để xác định xem bên mua bảo hiểm có được bồi thường hay không là dựa vào các nội dung thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và các quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, nghĩa vụ bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm như sau: Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; Được quyền từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm nhưng phải giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường; Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

2. Thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường

Về thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường thì tại Điều 15 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 có quy định: “Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hoặc khi có bằng chứng Doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Đến Luật kinh doanh bảo hiểm 2010 đã sửa đổi như sau:

1. Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm; 2. Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết, trong đó có thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm về việc bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm; 3. Có bằng chứng về việc hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm.”

Đối với trường hợp bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm (Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000) thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời hạn ra hạn đóng phí. Sau đó, bên mua bảo hiểm vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ đóng đầy đủ phí bảo hiểm trong thời hạn gia hạn theo thỏa thuận của các bên.

3. Thời hạn bồi thường

Để bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm, Điều 29 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, Doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong trường hợp không có thoả thuận về thời hạn thì Doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường. Đây là thời gian ấn định để Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ bồi thường của mình.

4. Giới hạn bồi thường

Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm theo nguyên tắc:

Số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm” (Khoản 2 Điều 46 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000).

Số tiền bảo hiểm là số tiền mà bên mua bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm cho tài sản là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm. Mức bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm chi trả dựa trên cơ sở mức phí mà người tham gia bảo hiểm đóng, thiệt hại đến đâu bồi thường đến đó. Hiện nay, pháp luật có quy định về ba loại mức phí bồi thường trong ba loại hợp đồng bảo hiểm tương ứng:

- Hợp đồng bảo hiểm tài sản đúng giá trị: Trong hợp đồng này, bên mua bảo hiểm mua bảo hiểm cho toàn bộ giá trị của bảo hiểm. Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, Doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường theo đúng giá trị thực tế của tài sản tại thơi điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, thiệt hại tới đâu, bồi thường tới đó.

- Hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị: Trong hợp đồng này, số tiền bảo hiểm sẽ thấp hơn giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng.

- Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị: Đây là trường hợp trong hợp đồng, mức bồi thường cao hơn giá trị của tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng. Pháp luật không cho phép các bên giao kết loại hợp đồng bảo hiểm tài sản này vì để đảm bảo khả năng chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm đối với các trường hợp khác đồng thời cũng để hạn chế, ngăn chặn hành vi trục lợi bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm cố ý yêu cầu một số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị thực của tài sản được bảo hiểm.

5. Các trường hợp bồi thường

- Trường hợp giao kết hợp đồng bảo hiểm trên giá trị thực của tài sản do lỗi vô ý của bên mua bảo hiểm thì Doanh nghiệp bảo hiểm hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với số tiền bảo hiểm vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm sau khi trừ đi các chi phí có liên quan. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 40, trong trường hợp này, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng chỉ phải bồi thường thiệt hại không vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm.

- Khi giao kết hợp đồng dưới giá trị, bên bảo hiểm chỉ mua bảo hiểm cho một phần giá trị của tài sản. Vì vậy, khi thiệt hại xảy ra, thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị thực của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng.

- Trường hợp bảo hiểm trùng. Trong thực tế, do người tham gia bảo hiểm nhiều trường hợp không tin tưởng và khả năng chi trả của Doanh nghiệp bảo hiểm hoặc vì mục đích cá nhân nào đó đã mua bảo hiểm ở nhiều Doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau cho cùng một tài sản. Trường hợp này gọi là bảo hiểm trùng. Khi tổn thất xảy ra, mỗi Doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm theo tỷ lệ số tiền bảo hiểm và không vượt quá thiệt hại thực tế.

Ví dụ: Anh Nguyễn Thanh A mua bảo hiểm cho xe máy Vespa LX có giá 80.000.000 VNĐ tại hai Doanh nghiệp bảo hiểm là B và C với số tiền bảo hiểm lần lượt là 80.000.000 VNĐ và 40.000.000 VNĐ. Sau đó, chiếc xe của anh A bị thiệt hại 30.000.000 VNĐ do tai nạn. Anh A đã yêu cầu cả hai doanh nghiệp bồi thường. Trong trường hợp này, việc giải quyết bồi thường cho anh A như sau:

Doanh nghiệp B: 30 x 80/(80 + 40) = 20 (triệu đồng)

Doanh nghiệp C: 30 x 40/(80 + 40) = 10 (triệu đồng)

Suy ra, số tiền bồi thường mà anh A nhận được là 30 triệu đồng, không vượt quá thiệt hại thực tế xảy ra.

6. Căn cứ xác định tổn thất khi giải quyết bồi thường

Theo quy định tại Điều 46 Luật kinh doanh bảo hiểm thì để xác định số tiền bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm khi giải quyết bồi thường trong bảo hiểm tài sản, dựa vào các căn cứ sau:

Thứ nhất, căn cứ vào giá thị trường của tài sản tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất. Do những biến động về giá cả, lạm phát, thị hiếu của người tiêu dùng mà giá trị của tài sản thường thay đổi theo thời gian. Ví dụ: giá cả đồ điện tử, hay bất động sản thường có xu hướng tăng theo thời gian. Do vậy tại thời điểm sự kiện bảo hiểm xảy ra, giá cả của tài sản được bảo hiểm có thể đã tăng giá hoặc giảm giá do vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cả Doanh nghiệp bảo hiểm và người được bảo hiểm, cần xác định giá trị của tài sản tại thời điểm ký hợp đồng bảo hiểm làm căn cứ để xác định mức bồi thường hợp lý. Và mức bồi thường không được vượt quá số tiền bảo hiểm đã tỏng hợp đồng bảo hiểm.

Thứ hai, căn cứ vào mức độ thiệt hại thực tế xảy ra và thời điêm sự kiện bảo hiểm diễn ra. Mức độ thiệt hại được dùng để làm căn cứ xác định tổn thất khi bồi thường là mức độ thiệt hại tại nơi xảy ra và thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Thứ ba, những chi phí để đề phòng, hạn chế thiệ hại theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 46 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000:

Ngoài số tiền bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm còn phải trả cho người được bảo hiểm những chi phí cần thiết, hợp lý để đề phòng, hạn chế tổn thất và những chi phí phát sinh mà người được bảo hiểm phải chịu để thực hiện chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm

Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm thường yêu cầu người được bảo hiểm thực hiện các biện pháp cần thiết và hợp lý để đề phòng tổn thất xảy ra với tài sản. Vì vậy, doanh nghiệp cần tính tới những khoản chi phí mà người mua bảo hiểm phải bỏ ra theo chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm để hạn chế tổn thất ở mức thấp nhất.

7. Các hình thức bồi thường

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 47 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận để lựa chọn một trong ba hình thức bồi thường sau:

- Sửa chữa tài sản bị thiệt hại: Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ lo việc sửa chữa hoặc thanh toán chi phí mà người được bảo hiểm bỏ ra để sửa chữa tài sản bị thiệt hại. Hình thức bồi thường này thường được áp dụng đối với các tài sản mà doanh nghiệp bảo hiểm có dịch vụ sửa chữa hiện đại, đảm bảo khôi phục được công dụng của tài sản như hiện trạng ban đầu. Hình thức bồi thường này được đánh giá khá tốt, đơn giản và thuận tiện do bên mua bảo hiểm không cần phải có các chứng từ, không cần thiết lập các chứng từ trong sửa chữa do việc sửa chữa hoàn toàn do các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng có chuyên môn cao trong sửa chữa, khôi phục tài sản như ban đầu. Do vậy, việc sau khi sửa chữa, giá trị, công dụng của tài sản bị giảm đi là trường hợp không hiếm gặp.

- Thay thế tài sản thiệt hại bằng tài sản khác: Doanh nghiệp bảo hiểm có thể chủ động hoặc ủy quyền cho người được bảo hiểm thay thế tài sản bị hư hỏng hoặc bị mất bằng một tài ản khác cùng loại, cùng tính năng sử dụng. Hình thức này thường được doanh nghiệp bảo hiểm lựa chọn áp dụng đối với các tài sản bị tổn thất có giá trị không cao hoặc chi phí để thay thế tài sản nhỏ.

- Trả tiền bồi thường: Hợp đồng bảo hiểm thực chất là các cam kết chi trả tài chính từ phía doanh nghiệp bảo hiểm. Do vậy, hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng chi trả, thanh toán tiền khi xảy ra những rủi ro cho tài sản là đối tượng bảo hiểm. Theo hình thức này, doanh nghiệp sẽ trả tiền cho người được bảo hiểm một số tiền bằng với giá trị tổn thất của tài sản bảo hiểm và tỷ lệ với giá trị được bảo hiểm. Hiện nay, hình thức này thường được các bên lựa chọn bới nó đơn giản và tiện lợi hơn cho các bên. Nên ngày trong quy định tại Khoản 2 Điều 47 Luật kinh doanh bảo hiểm đã thể hiện tính phổ biến của hình thức này:

Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không thỏa thuận được về hình thức bồi thường thì việc bồi thường sẽ được thực hiện bằng tiền

8. Trường hợp chuyển yêu cầu bồi hoàn

Theo Khoản 1 Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định:

Trong trường hợp người thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm thì người được bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm

Nguyên tắc này còn được gọi là nguyên tắc thế quyền. Nói một cách đơn giản thì, khi thiệt hại xảy ra do lỗi của người thứ ba, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đứng ra chi trả cho người mua bảo hiểm theo đúng hợp đồng bảo hiểm sau đó sẽ được quyền thay thế người mua bảo hiểm yêu cầu người thứ ba gây thiệt hại bồi hoàn lại cho doanh nghiệp bảo hiểm. Cơ chế này giống như việc chuyển quyền đòi nợ từ người mua bảo hiểm sang doanh nghiệp bảo hiểm. Về nguyên tắc, người thứ ba có lỗi, gây thiệt hại sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa người mua bảo hiểm và người thứ ba tuy nhiên, vì người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đã ký hợp đồng bảo hiểm cho tài sản đó nên chắc chắn, theo hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thực hiện nghĩa vụ với người được bảo hiểm nên người mua bảo hiểm không được tiếp tục đòi người thứ ba bồi thường cho mình mà phải chuyển quyền đòi bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm. Quy định này nhằm đảm bảo cho nguyên tắc không được hưởng lợi bất hợp pháp vượt quá phần giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu của bên mua bảo hiểm. Khoản 2 Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm cũng quy định về trường hợp chuyển yêu cầu bồi hoàn như sau:

Trong trường hợp người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền cho doanh nghiệp bảo hiểm, không bảo lưu hoặc từ bỏ quyền yêu cầu người thứ ba bồi thường thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tùy theo mức độ có lỗi của người được bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm cũng không được yêu cầu cha mẹ, vợ chồng, con, anh, chị, em ruột của người được bảo hiểm bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo hiểm trừ trường hợp những người thân này cố ý gây thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm (Khoản 3 Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000).

Trân trọng!