1. Khái quát về ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận.

Hệ thông ngân hàng thương mại được hình thành, thay đổi về tên gọi, loại hình và chức năng qua nhiều thời kỳ khác nhau.

Năm 1957, có thể coi là tiền thân của ngân hàng thương mại đầu tiên là Ngân hàng Kiến thiết, được thành lập trên cơ sở Vụ Cấp phát vốn kiến thiết cơ bản, thuộc Bộ Tài chính. Năm 1981, Ngân hàng này được đổi thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam, chuyển sang thuộc Ngân hàng Nhà nước . Năm 1987, Ngân hàng này được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và nay là Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV).

Năm 1962, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, được thành lập, nay là Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) . Tuy nhiên, trước đó một năm đã xuất hiện một đơn vị là “Cục ngoại hối, Ngân hàng Ngoại thương” (hay còn gọi là “Quỹ đặc biệt”) thuộc cơ cấu bộ máy của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Từ năm 1988, hệ thống ngân hàng được chuyển đổi từ ngân hàng một cấp (Ngân hàng Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước vừa trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh), thành ngân hàng hai cấp gồm Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh trực thuộc Ngân hàng Nhà nước. Ban đầu gồm có 4 ngân hàng là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam. Đến năm 2018, cụm từ “ngân hàng chuyên doanh” vẫn còn được sử dụng trong Quyết định của Thủ tướng.

Từ năm 1990 đến năm 1997, các ngân hàng được phân chia thành hai loại là ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư và phát triển. Ngân hàng thương mại được phân chia thành 4 loại là: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh. Thời kỳ này các ngân hàng thương mại quốc doanh đều do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thành lập và phê duyệt Điều lệ. Cũng trong giai đoạn trước ngày 18/4/1992 (ngày Hiến pháp năm 1992 có hiệu lực), việc cho phép thành lập ngân hàng cổ phần là trái với quy định Hiến pháp năm 1980, vì nhiều lĩnh vực, trong đó có ngân hàng “đều thuộc sở hữu toàn dân”.

Từ năm 1992 đến năm 1998, các ngân hàng thương mại cổ phần được phân chia thành hai loại là ngân hàng thương mại cổ phần đô thị và ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn.

Từ năm 1997 đến năm 2004, ngân hàng thương mại cổ phần được gọi là “Ngân hàng thương mại cổ phần của Nhà nước và nhân dân”; tổ chức tín dụng cổ phần được gọi là “tổ chức tín dụng cổ phần của Nhà nước và nhân dân

Từ năm 1997 đến năm 2010, các loại hình ngân hàng được phân thành 6 loại là ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.

Từ năm 2007, các ngân hàng thương mại nhà nước, đầu tiên là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), bắt đầu được cổ phần hóa để chuyển đổi sang ngân hàng thương mại cổ phần. Có một thời gian, ngân hàng thương mại nhà nước sau khi được cổ phần hoá xong vẫn được gọi là ngân hàng thương mại nhà nước do sự thay đổi kháĩ niệm doanh nghiệp nhà nước từ do “Nhà nước sở hữu 100% vốn nhà nước” sang “sở hữu trên 51% vốh nhà nước” và đến năm 2015 quay lại là “sở hữu 100% vốh nhà nước”.

Năm 2008, ngân hàng thương mại cổ phần cuối cùng được thành lập (tính đến năm 2020).

Từ năm 2011 trở đi, các loại hình ngân hàng chỉ còn được phân thành 3 loại là ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng phát triển không còn là một loại hình riêng mà thuộc loại ngân hàng chính sách.

Trên thực tế, cùng là ngân hàng thương mại, nhưng có các phần định danh thể hiện tính chất rất khác nhau như Công Thương (Vietinbank), Đầu tư và Phát triển (BIDV), Hàng hải (MSB), Ngoại thương (VCB), Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDB), Xuất nhập khẩu (Eximbank), V.V.. Các tên gọi này gắn liền chức năng, nhiệm vụ của một ngân hàng chuyên doanh vào thời điểm thành lập. Ví dụ, khi mới được thành lập, “nhiệm vụ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế, tín dụng quốc tế, cho vay ngoại thương, tham gia quản lý ngoại hối” .

Tên gọi của ngân hàng thương mại chủ yếu mang tính quy ước. Chẳng hạn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển cũng chỉ là ngân hàng thương mại, chứ không phải là loại ngân hàng đầu tư hay ngân hàng phát triển theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004).

Ngoài ra, còn các loại hình ngân hàng khác không phải là ngân hàng thương mại gồm có ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã. Năm 1995, thành lập ngân hàng chính sách đầu tiên, là Ngân hàng Phục vụ người nghèo, thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến năm 2002 được đổi tên thành Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP). Năm 2006, thành lập ngân hàng chính sách thứ hai là Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB), thuộc Bộ Tài chính, trên cơ sở hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển .

 

2. Đặc điểm của ngân hàng thương mại

Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển, được ví như mạch máu của nền kinh tế.

Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã .

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thương mại chỉ được thành lập dưới 01 trong 04 hình thức là: ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần; ngân hàng 100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ ;

Thứ hai, ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được thành lập, tổ chức dưói hình thức công ty cổ phần;

Thứ ba, ngân hàng 100% vôn nước ngoài là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng nước ngoài; là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có chủ sở hữu là một ngân hàng nưôc ngoài hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu 50% vốn điều lệ;

Thứ tư, ngân hàng liên doanh là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh; là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. Ngân hàng liên doanh được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trỏ lên nhưng không quá 05 thành viên, trong đó một thành viên và người có liên quan không được sở hữu vượt quá 50% vốn điều lệ.

Một trong các điều kiện đối với thành viên sáng lập ngân hàng liên doanh và chủ sở hữu là tổ chức tín dụng nước ngoài của ngân hàng 100% vốn nước ngoài phải có tổng tài sản ít nhất 10 tỷ đô la Mỹ.

Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép, các thành viên sáng lập phải cùng nhau sỗ hữu 100% vốh điều lệ của ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài.

Trước đó, từ năm 2001, ngân hàng thương mại cổ phần đô thị phải cổ ít nhất 35 cổ đông, ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn phải có ít nhất 25 cổ đông; trong đó phải có cổ đông là doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty cổ phần (có vốn góp của doanh nghiệp nhà nước trên 30% vốn điều lệ) tham gia.

Vì các ngân hàng thương mại cổ phần đều là công ty đại chúng, nên bắt buộc phải đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức, đó là sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường đăng ký giao dịch (UPCoM) .

Cuối năm 2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn về việc niêm yết của các ngân hàng. Theo đó, việc các ngân hàng cổ phần tham gia niêm yết tại sở giao dịch Chứng khoán hoặc thị trường UPCoM là do tổ chức tín dụng cổ phần tự quyết định, trên cơ sỗ tuân thủ các quy định có liên quan của pháp luật hiện hành.

Đầu năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các tổ chức tín dụng phải niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2011 - 20151.

Đầu năm 2015, Thông đốc Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các ngân hàng thương mại cổ phần hoàn thiện kế hoạch niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Chậm nhất là ngày 01/01/2017, các công ty đại chúng nói chung, ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng, "phải hoàn tất thủ tục đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch UPCoM”.

Tuy nhiên đến đầu năm 2020 vẫn còn nhiều ngân hàng chưa niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán và trên thị trưòng UPCoM. Vì việc niêm yết của ngân hàng, ngoài việc phải đáp ứng được các điều kiện nhất định, còn phải được Đại hội đồng cổ đông nhất trí thông qua. Hội đồng quản trị và những người quản lý khác của ngân hàng không quyết định thay nếu Đại hội đồng cổ đông không biểu quyết thông qua.

Thời kỳ năm 2012 trở về trước, một số ngân hàng đã thành lập Hội đồng sáng lập, có chức năng tư vấn cho Hội đồng quản trị và hưởng thù lao và các chi phí khác của ngân hàng. Các thành viên trong Hội đồng sáng lập có thể là hoặc không phải là thành viên Hội đồng quản trị hay Ban điều hành ngân hàng. Đó là một số ngân hàng như Á Châu (ACB), Hàng hải (MSB), Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank), Phương Nam (PNB).

Việc thành lập cơ cấu tổ chức này không dựa trên quy định cụ thể nào, nhưng cũng không có quy định nào cấm. Tuy nhiên, sau đó Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu bãi bỏ, với lý do “việc thành lập cơ quan này là không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành”

 

3. Mạng lưới hoạt động ngân hàng

Hoạt động của mỗi ngân hàng ngoài việc do trụ sở chính đảm nhiệm thì còn thường thông qua một mạng lưới là các đơn vị phụ thuộc, bao gồm chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp ở trong nước; chi nhánh, văn phòng đại diện, ngân hàng 100% vốn ở nước ngoài.

Lâu nay, cả trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng như trên thực tế, cụm từ “trụ sở chính” của ngân hàng thường được sử dụng với ý nghĩa như một tổ chức của ngân hàng để phân biệt vối các đơn vị còn lại. Điều này là không chính xác, vì pháp luật ngân hàng quy định, trụ sở chính của ngân hàng thương mại “là nơi làm việc của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban điều hành, được ghi trong Giấy phép và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật”.

Pháp luật doanh nghiệp quy định, trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc của doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, ngách, hẻm, ngõ phố, phố, đường hoặc thôn, xóm, ấp, xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có)

Như vậy theo quy định của pháp luật, trụ sở chính chỉ là khái niệm để chỉ trụ sở ngân hàng, tương tự với trụ sở chi nhánh, trụ sở phòng giao dịch, chứ không phải là một tổ chức.

Một số trường hợp, trụ sở chính của ngân hàng thương mại còn được gọi là cơ quan trung ương hay ngân hàng trung ương lại càng không chính xác vì gây nhầm lẫn với vai trò của một ngân hàng trung ương chỉ thuộc về Ngân hàng Nhà nước.

Ngoài ra, trụ sở chính còn được gọi với khá nhiều tên khác nhau như “hội sở chính”, “hội sở giao dịch” “hội sở”, trung tâm điều hành.

Từ năm 2001 đến 2005, mạng lưới chi nhánh ngân hàng thương mại còn được phân thành 3 cấp: chi nhánh cấp 1 là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng, chi nhánh cấp 2 là đơn vị phụ thuộc của chi nhánh cấp 1 và chi nhánh cấp 3 là đơn vị phụ thuộc của chi nhánh cấp 2.

Giai đoạn trước năm 2015, mạng lưới của ngân hàng thương mại còn có một số đơn vị khác là sở giao dịch, quỹ tiết kiệm và điểm giao dịch.

Sở giao dịch là đơn vị phụ thuộc, có con dấu, có nhiệm vụ thực hiện một phần các hoạt động của ngân hàng và một sô' chức năng có liên quan đến các chi nhánh theo ủy quyền của ngân hàng thương mại. Giai đoạn 1998-2013, pháp luật quy định, mỗi ngân hàng chỉ được mở một sở giao dịch nằm trong phạm vi địa bàn tỉnh, thành nơi ngân hàng thương mại đặt trụ sở chính.

Trong hai năm 2014-2015, các sở giao dịch ngân hàng đã được chuyển đổi thành chi nhánh hoặc chấm dứt hoạt động. Một số sở giao dịch được đổi tên thành “chi nhánh sở giao dịch” .

Từ năm 2016, chỉ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có sở giao dịch (đóng tại Trụ sở chính Ngân hàng Nhà nước, số 49 Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội).

Quỹ tiết kiệm là bộ phận phụ thuộc sở giao dịch, chi nhánh của ngân hàng, hạch toán báo sổ, có con dấu, được thực hiện một hoặc một số giao dịch.

Điểm giao dịch là bộ phận phụ thuộc sở giao dịch, chi nhánh của ngân hàng, không có con dấu. Điểm giao dịch thực hiện việc nghiên cứu, tìm hiểu, giới thiệu khách hàng, tiếp nhận hồ sơ vay vôn, giải ngân và thu nợ đốĩ với những hợp đồng tín dụng của sở giao dịch, chi nhánh đã ký với khách hàng.

Trong hai năm 2014-2015, các quỹ tiết kiệm, điểm giao dịch của các ngân hàng đã được chuyển thành phòng giao dịch hoặc chấm dứt hoạt động.

Sau khi chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, có thời kỳ phòng giao dịch của ngân hàng đã bị đặt dài dòng như sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng giao dịch Mạc Thị Bưởi.

Tổ chức tín dụng và chi nhánh của tổ chức tín dụng Việt Nam được thành lập và hoạt động ở nước ngoài chỉ tuân theo pháp luật Việt Nam đối với một số vấn đề có liên quan về phía ngân hàng mẹ, còn việc hoạt động như cho vay, thanh toán, dịch vụ khác thì chủ yếu phải thực hiện theo quy định của pháp luật nước sở tại.

Các tổ chức tín dụng được đặt các bộ phận nghiệp vụ không giao dịch trực tiếp với khách hàng ngoài địa điểm trụ sở của tổ chức tín dụng. Các bộ phận này không được giao dịch và thực hiện bất kỳ hoạt động kinh doanh nào, không được treo biển hiệu hoặc các hình thức quảng cáo gây hiểu lầm địa điểm giao dịch của ngân hàng.

 

4. Vốn của ngân hàng thương mại

Pháp luật quy định, ngân hàng thương mại có nhiều loại vốh như: vốn pháp định, vốn điều lệ (vốn điều lệ thực có), vốn tự có và vốn chủ sở hữu.

Mức vôn pháp định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng do Chính phủ quy định. Luật Doanh nghiệp và Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành không giải thích thế nào là vốn pháp định. Pháp luật trưốc kia đã từng giải thích, “vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp”.

Năm 2001, mức vôn pháp định đối với ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn là 5 tỷ đồng, ngân hàng thương mại cổ phần đô thị là 50 - 70 tỷ đồng.

Năm 2008, mức vốn pháp định đối với các ngân hàng thương mại cổ phần (không còn phân thành hai loại nông thôn và đô thị) là 1.000 tỷ đồng và cuối năm 2010 (sau gia hạn đến 2011) là 3.000 tỷ đồng.

Như vậy, trong 10 năm từ 2001 đến 2011, vốn pháp định của ngân hàng thương mại đã bị yêu cầu tăng lên 50 - 600 lần (từ mức 5,50 và 70 tỷ lên 3.000 tỷ), tỷ lệ tăng lên đến 70 - 80%/năm. Việc ép tăng vốn quá nhanh là một quyết định chưa thấu đáo, thiếu cơ sở khoa học, không phù hợp với quy luật phát triển của thị trường.

Yêu cầu tăng vốn quá nhanh đồng nghĩa với sức ép mở rộng quy mô, tăng nhanh dư nợ tín dụng, tăng trưởng nóng. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến khủng hoảng hệ thống ngân hàng giai đoạn 2008 - 2011.

Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng gọi số: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng giải đáp mọi vướng mắc pháp lý của Quý khách hàng