1. Quy định về góp vốn của Ngân hàng thương mại vào doanh nghiệp bảo hiểm

Luật Các tổ chức tín dụng 2024:

- Quy định hoạt động góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại (NHTM). Bao gồm các hình thức góp vốn, tỷ lệ sở hữu, giới hạn đầu tư,...

- Nêu rõ điều kiện NHTM được phép góp vốn, mua cổ phần vào doanh nghiệp (DN) khác, trong đó có DN bảo hiểm.

Thông tư 20/2024/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN):

- Giới hạn mức góp vốn, mua cổ phần của NHTM vào DN bảo hiểm. Tỷ lệ tối đa, điều kiện áp dụng cho từng loại hình DN bảo hiểm.

- Chi tiết hóa quy trình, thủ tục NHTM thực hiện góp vốn, mua cổ phần vào DN bảo hiểm. Bao gồm hồ sơ xin phép, trình tự thẩm duyệt, cấp phép,...

Ngoài ra, còn có các văn bản pháp luật khác liên quan đến hoạt động góp vốn của NHTM vào DN bảo hiểm như:

- Luật Doanh nghiệp 2020: Quy định chung về thành lập, hoạt động của DN, bao gồm DN bảo hiểm.

- Luật Chứng khoán 2019: Quy định về hoạt động thị trường chứng khoán, áp dụng cho việc NHTM mua cổ phần DN bảo hiểm thông qua giao dịch trên sàn.

Các văn bản hướng dẫn của NHNN, Bộ Tài chính liên quan đến hoạt động bảo hiểm, hoạt động của NHTM,...

 

2. Giới hạn mức góp vốn của Ngân hàng thương mại vào doanh nghiệp bảo hiểm?

Căn cứ theo Điều 137 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 quy định về giới hạn góp vốn, mua cổ phần như sau:

- Mức góp vốn, mua cổ phần của một ngân hàng thương mại và công ty con, công ty liên kết của ngân hàng thương mại đó vào một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quy định tại khoản 4 Điều 111 của Luật này không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhận vốn góp.

Có thể hiểu một ngân hàng thương mại, cùng với các công ty con và công ty liên kết của nó, không thể sở hữu quá 11% vốn điều lệ của bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong các lĩnh vực như bảo hiểm, nếu ngân hàng này quyết định đầu tư vào lĩnh vực đó.

- Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của một ngân hàng thương mại vào các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, kể cả công ty con, công ty liên kết của ngân hàng thương mại đó theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 8 Điều 111 của Luật này không được vượt quá 40% vốn điều lệ và các quỹ dự trữ của ngân hàng thương mại.

Điều này có nghĩa là ngân hàng thương mại và các công ty liên kết của nó không được đầu tư quá 40% tổng vốn điều lệ và quỹ dự trữ của chính ngân hàng thương mại vào các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác. Mức trần này nhằm hạn chế rủi ro và đảm bảo tính an toàn trong hoạt động tài chính của ngân hàng.

Như vậy, giới hạn mức góp vốn, mua cổ phần của Ngân hàng thương mại vào doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm bao gồm:

- Mức góp vốn, mua cổ phần của một ngân hàng thương mại và công ty con, công ty liên kết của ngân hàng thương mại đó vào một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhận vốn góp.

- Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của một ngân hàng thương mại vào các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, kể cả công ty con, công ty liên kết của ngân hàng thương mại đó theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 8 Điều 111 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 không được vượt quá 40% vốn điều lệ và các quỹ dự trữ của ngân hàng thương mại.

Lưu ý:

- Luật Các tổ chức tín dụng 2024 sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2024, ngoại trừ khoản 3 Điều 200 và khoản 15 Điều 210 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.

- Tuy nhiên, gần đây đã có một dự thảo đề xuất rằng khoản 3 Điều 200 và khoản 15 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 sẽ được áp dụng sớm hơn, cụ thể là từ ngày 01 tháng 8 năm 2024.

 

3. Ý nghĩa của việc quy định giới hạn mức góp vốn, mua cổ phần

Việc quy định giới hạn mức góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại (NHTM) vào doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn, ổn định cho hệ thống tài chính và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng và ngành bảo hiểm.

Bảo đảm an toàn, ổn định cho hệ thống tài chính:

- Hạn chế rủi ro cho NHTM: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm tiềm ẩn nhiều rủi ro như rủi ro thanh toán, rủi ro bảo hiểm, rủi ro thị trường,... Việc quy định giới hạn mức góp vốn, mua cổ phần giúp hạn chế khả năng NHTM rót quá nhiều vốn vào DNBH, từ đó giảm thiểu nguy cơ thua lỗ và ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của NHTM.

- Giảm nguy cơ xung đột lợi ích: NHTM có thể sử dụng vị thế và nguồn lực tài chính để trục lợi cho DNBH mà họ đầu tư, dẫn đến xung đột lợi ích giữa hoạt động ngân hàng và bảo hiểm. Việc quy định giới hạn góp vốn giúp giảm thiểu nguy cơ này, đảm bảo NHTM hoạt động một cách công bằng, minh bạch và tuân thủ các quy định pháp luật.

Thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của ngành ngân hàng và ngành bảo hiểm:

- Khuyến khích sự hợp tác hiệu quả: Giới hạn góp vốn hợp lý khuyến khích NHTM hợp tác với DNBH dựa trên lợi ích chung, thay vì tập trung vào việc kiểm soát DNBH. Điều này thúc đẩy sự hợp tác hiệu quả giữa hai lĩnh vực, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm sáng tạo và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.

- Góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng: Sự hợp tác hiệu quả giữa NHTM và DNBH giúp nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm đa dạng thông qua hệ thống phân phối rộng khắp của NHTM. Đồng thời, DNBH có thể tận dụng nguồn lực tài chính và công nghệ tiên tiến của NHTM để nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ.

Việc quy định giới hạn mức góp vốn, mua cổ phần của NHTM vào DNBH là một giải pháp hiệu quả để đảm bảo an toàn, ổn định cho hệ thống tài chính và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng và ngành bảo hiểm. Việc áp dụng linh hoạt và hợp lý giới hạn góp vốn sẽ góp phần tạo điều kiện cho sự hợp tác hiệu quả giữa NHTM và DNBH, mang lại lợi ích cho cả hai ngành và cho người tiêu dùng. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường giám sát sẽ góp phần thúc đẩy NHTM tham gia vào lĩnh vực bảo hiểm một cách hiệu quả, góp phần phát triển thị trường tài chính an toàn, lành mạnh và bền vững.

Xem thêm: Ngân hàng thương mại mua cổ phần theo Luật Các tổ chức tín dụng 2024?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Giới hạn mức góp vốn của Ngân hàng thương mại vào doanh nghiệp bảo hiểm? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách!