Luật sư tư vấn:
Chào Bạn, vấn đề mà Bạn quan tâm - Luật Minh Khuê xin được trao đổi như sau:
1. Quyền của tác giả
Pháp luật của Việt Nam cũng như pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều có những quy định quyền tác giả trong lĩnh vực sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học. Quyền tác giả là quyền của người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, công trình. Chủ thể của quyền tác giả không phụ thuộc vào độ tuổi, trình độ học vấn và phương thức tạo ra tác phẩm, công trình thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học. Vậy quyền tác giả là quyền của người sáng tạo ra tác phẩm, công trình được hưởng các quyền nhân thân và quyền tài sản do pháp luật quy định. Thời điểm phát sinh quyền tác giả được xác định kể từ khi tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được tác giả sáng tạo ra (được thể hiện) dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt tác phẩm đã công bố hoặc chưa công bố, đăng ký bảo hộ hoặc chưa đăng ký bảo hộ. Pháp luật về quyền tác giả của các quốc gia đều có những điểm tương đồng do đặc điểm của các sản phẩm trí tuệ chi phối.
Ví dụ, pháp luật của Hoa Kỳ về quyền tác giả cũng có những điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam về cùng một lĩnh vực ở chỗ: Việc đăng ký quyền tác giả là vì lợi ích của tác giả với tư cách là người sở hữu tác phẩm nhưng pháp luật Hoa Kỳ không bắt buộc tác giả phải đăng ký tác phẩm của mình.
2. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả là gì ?
Điều kiện bảo hộ quyền tác giả gồm:
- Tác phẩm văn học, nghệ thuật tác giả sáng tạo được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định;
- Tác phẩm đó phải do chính tác giả tạo ra.
Như vậy, chừng nào chưa có tác phẩm được tác giả sáng tạo ra thuộc loại hình văn học, nghệ thuật nhất định thì chừng đó chưa có quyền tác giả được pháp luật bảo hộ. Tác phẩm được tác giả sáng tạo ra được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định: Một tiểu thuyết, một bản nhạc, một bài thơ, quyền tác giả được xác lập vào thời điểm các sản phẩm trí tuệ đó được hình thành.
Quyền tác giả bao gồm hai loại quyền hợp thành đó là quyền tài sản và quyền nhân thân của tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra. Căn cứ vào thời điểm tác phẩm được tác giả sáng tạo ra dưới hình thức vật chất nhất định, quyền tác giả đã phát sinh. Sự biểu hiện của quyền nhân thân được hình thành vào thời điểm tác phẩm được sáng tạo ra và theo đó quyền tài sản của tác giả cũng được xác lập đối với tác phẩm. Theo quan hệ phụ thuộc, quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả phát sinh từ thời điểm tác phẩm được hình thành nhưng trong đó quyền nhân thân là tiền đề của quyền tài sản. Một cầu hỏi được đặt ra là quyền tài sản của tác giả phát sinh từ thời điểm nào? Vào thời điểm tác phẩm được sáng tạo ra và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định hay chỉ trong trường hợp tác phẩm được tác giả công bố thì quyền tài sản mới phát sinh?
Từ căn cứ xác lập quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả thì quyền tài sản của tác giả cũng đồng thời phát sinh vào thời điểm tác phẩm được tác giả sáng tạo ra, mặc dù tác phẩm chưa được tác giả công bố nhưng quyền tài sản gắn liển với quyền nhân thân của tác giả đã được xác định và được bảo hộ bằng pháp luật. Tuy tác phẩm chưa được tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm công bố nhưng trong trường hợp tác phẩm bị người khác xâm phạm thì việc bồi thường thiệt hại vẫn xác định được. Có nhiều người cho rằng, khi tác phẩm chưa được công bố thì quyền tài sản có được từ tác phẩm chưa xác định.
Theo họ, tác phẩm đó phải được công bố dưới hình thức phát hành sách, ghi băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng từ hình, đĩa hình hoặc tác phẩm được chuyển giao cho người khác sử dụng thông qua một hợp đồng thì quyền tài sản của tác giả, của chủ sở hữu tác phẩm mới có thể xác định được. Hiểu quyền tài sản đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học như vậy là không đúng. Bởi vì, tác phẩm đang tồn tại dưới hình thức vật chất nhất định thi quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đã hình thành. Quyền tài sản song song tồn tại với quyền nhân thân của tác giả tác phẩm. Như vậy, cho dù tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học chưa công bố tác phẩm thì quyền tài sản đã xác định được vào thời điểm tác phẩm được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Nếu chỉ căn cứ vào mức nhuận bút cho tác phẩm sử dụng dưới hình thức xuất bản phẩm, nhuận bút cho tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác, nhuận bút cho các tác phẩm điện ảnh, video, nhuận bút cho các tác phẩm báo chí (báo in, báo điện tử) nhuận bút cho tác phẩm phát thanh, truyền hình (báo nói, báo hình), nhuận bút cho các tác phẩm tạo hình (mỹ thuật), mỹ thuật nhiếp ảnh để xác định giá trị tài sản của các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học là chưa thật sự toàn diện.
Biết rằng, khi tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được công bố thì lợi ích kinh tế của tác giả được hưởng theo mức tương ứng mà pháp luật đã quy định cho thể loại tác phẩm đó. Nhưng mức nhuận bút mà pháp luật quy định cho mỗi loại hình tác phẩm khi được sử dụng chưa thể coi là chuẩn mực bất biến trong việc trả thù lao cho tác giả mà lợi ích của tác giả còn căn cứ vào thỏa thuận. Hơn nữa, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học không phải là vật chất cụ thể mà nó là sản phẩm trí tuệ. Tuy nhiên, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học tồn tại thông qua những vật chất chứa nó, truyền tải nó. Quan hệ ngang giá là tiêu chí và cũng là nguyên tắc trong việc xác định mức thù lao trả cho tác giả hoặc bồi thường thiệt hại do tác phẩm, quyền tác giả bị xâm phạm không thể tính toán như đối với các loại tài sản là vật chất khác. Lợi ích tài sản của tác giả tác phẩm luôn được xác định ở trạng thái tương đối cho nên không phản ánh đúng với giá trị xã hội, giá trị văn hóa, giá trị thẩm mỹ của nội dung tác phẩm hoặc giá trị kinh tế được đánh giá cao hơn hoặc thấp hơn những giá trị thực tế mà tác phẩm đó mang đến cho đời sống tinh thần của con người không thể quy đổi được bằng tiền.
Qua cách đặt vấn đề và những phần tích ở trên, chúng tôi nhận định rằng quyền tài sản của tác giả phát sinh đồng thời với quyền nhân thân của người đó vào thời điểm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được tác giả trực tiếp sáng tạo ra và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc tác phẩm đã được công bố hoặc chưa được công bố, đã được đăng ký hoặc chưa được đăng ký bảo hộ.
Pháp luật Việt Nam quy định về quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra. Quyền tác giả được đặt trong các quan hệ pháp luật khác do tác giả là chủ thể của các quan hệ đó và do quan hệ đó chi phối theo quy định của pháp luật. Theo đó tác giả được phân loại theo các quan hệ pháp luật gồm tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm và tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm. Việc phân loại tác giả như vậy là cơ sở để quyền tác giả được bảo hộ đầy đủ nhất hoặc quyền tác giả bị hạn chế trong từng quan hệ cụ thể, liên quan đến việc sử dụng tác phẩm.
3. Các quyền của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm
Tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền nhân thân gắn liền với tác giả và không thể tách dời: Quyền đặt tên cho tác phẩm theo nghĩa đen hoặc nghĩa bóng hoặc vô để; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, quyền được nêu tên thật hoạc bút danh khi tác phẩm được công bố; quyền phổ biến, sử dụng, bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm; quyền cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung tác phẩm. Những quyền nhân thân trên của tác giả gắn liền với tác giả suốt cuộc đời và vĩnh viễn. Những quyền nhân thân khác của tác giả còn được thể hiện trong các quan hệ cụ thể như quyền công bố, phổ biến hoặc không cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình; cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm của mình. Đối với những quyền nhân thân trên, tác giả có thể chuyển giao cho người khác thông qua các giao dịch dân sự hoặc chuyển giao cho người thừa kế. Thực chất, những quyền nhân thân có mối liên hệ trực tiếp với tài sản, tác giả có quyền được chuyển giao. Việc công bố, phổ biến tác phẩm là sự thể hiện tác phẩm trước công chúng dưới dạng thuyết trình, trưng bày, xuất bản, biểu diễn, phát thanh, truyền hình và dưới các hình thức vật chất khác. Công bố tác phẩm dưới hình thức xuất bản phẩm: Sách, tài liệu, tranh, ảnh, áp phích, catalo, tờ rơi, tờ gấp, lịch, bản đồ, át lát, bản nhạc, cờ, truyền đơn, khẩu hiệu, cầu đối, cuốn thư, băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình thay sách hoặc kèm theo sách.
Như vậy, quyền nhân thân của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm xét theo đặc điểm của quan hệ nhân thân hoặc phân làm 2 nhóm sau đây:
+ Nhóm một:
Nhóm quan hệ nhân thân theo tính chất không thể chuyển giao được trong quan hệ về quyền tác giả là những quan hệ
nhân thân không có mối liên hệ trực tiếp với tài sản. Nhóm quan hệ này gắn với tác giả suốt cuộc đời và vĩnh viễn sau khi tác giả qua đời:
- Quyền đặt tên cho tác phẩm;
- Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, phổ biến, sử dụng;
- Quyền được bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, cho hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung tác phẩm.
+ Nhóm hai:
Nhóm quan hệ nhân thân của tác giả theo tính chất có thể chuyển dịch. Đó là nhóm quan hệ nhân thân có mối liên hệ trực tiếp với tài sản. Theo bản chất, nhóm quan hệ nhân thân này chuyển giao được, còn đối với những quyền nhân thân gắn với tác giả vĩnh viễn thuộc nhóm thứ nhất thì không thể chuyển giao. Những quyền chuyển giao được bao gồm: Quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình; cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm của mình.
Những quyền nhân thân của tác giả chuyển giao được và khi chúng được chuyển giao thì tác giả được đền bù một khoản lợi ích vật chất nhất định. Việc chuyển giao các quyền nhân thân thuộc nhóm thứ hai phải được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản. Quyền nhân thân của tác giả thuộc nhóm thứ hai được chính tác giả thực hiện hoặc cho người khác thực hiện trong trường hợp công bố, phổ biến tác phẩm dưới các hình thức xuất bản, tái bản, sao chép tác phẩm; biểu diễn hoặc trưng bày tác phẩm trước công chúng; truyền đạt tác phẩm tới công chúng bằng bất kỳ phương tiện hoặc cách thức nào; phân phối tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm bằng cách bán, cho thuê hoặc bằng cách khác; nhập khẩu các bản sao tác phẩm của minh từ nước ngoài và Việt Nam.
Tác giả có quyền cho hoặc không cho phép người khác sao chép lại tác phẩm của mình dưới bất kỳ hình thức nào. Việc dịch phóng tác, biên soạn, cải biên, chuyển thể tác phẩm của tác giả phải được tác giả cho phép. Tác giả có quyền cho hoặc không cho phép sử dụng tác phẩm dưới các hình thức như đã viện dẫn ở trên là đặc quyền của tác giả. Những quy định của pháp luật nước ta về vấn đề này cũng tương tự như pháp luật của các nước và điển hình là Luật Bản quyền của Australia. Tại phần thứ 31, Luật Bản quyền của Australia có quy định những quyền đặc biệt luôn thuộc về tác giả và khi tác giả chuyển quyền cho một người nào đó thì chỉ người đó là người duy nhất có quyền thực hiện những quyền sau đây đối với tác phẩm: Nhân bản, dịch thuật, phóng tác, biểu diễn trước công chúng, phát thanh, phần phát bản sao của tác phẩm, cho thuê bản sao của tác phẩm.
Tuy rằng pháp luật của các nước cũng như của Việt Nam về quyền tác giả đều có quy định tác giả có quyền cho phép hoặc không cho phép người khác sử dụng tác phẩm của mình nhưng quyền đặc biệt này của tác giả thường xuyên bị xâm phạm ở mức độ này hay mức độ khác do việc sử dụng tác phẩm thường vi lợi ích kinh tế. Vì vậy, việc sử dụng tác phẩm còn tồn tại những sức hấp dẫn riêng không hẳn về phía công chúng mà vì lợi ích của người sử dụng. Các hành vi xâm phạm quyền tác giả trong việc sử dụng tác phẩm của tác giả hoặc vì lý do kinh tế hoặc vì mục đích khác (theo chúng tôi lý do kinh tế là nổi trội hơn cả) đều bị coi là trái pháp luật. Tại Hoa Kỳ có khái niệm "Sử dụng hợp lý - Xem: Học thuyết sử dụng hợp lý đã được pháp điển hóa tại Mục 107 Luật Bản quyền Hoa Kỳ" và nguyên tắc sử dụng tác phẩm một cách hợp lý cũng được quy định trong pháp luật của Hoa Kỳ. Chủ sở hữu
bản quyền ở Hoa Kỳ có quyền sao chép hoặc cho phép người khác sao chép tác phẩm dưới hình thức các bản sao hoặc thu thanh. Việc sử dụng tác phẩm của tác giả một cách hợp lý trước đây chưa được quy định trong Luật bản quyền của Hoa Kỳ nhưng trên thực tế thì học thuyết "Sử dụng hợp lý" đã được xem như một biện pháp giới hạn việc sử dụng tác phẩm của tác giả, qua đó ngăn chặn có hiệu quả những hành vi xâm phạm bản quyền của tác giả.
Luật Bản quyền của Hoa Kỳ đã quy định những tiêu chí khác nhau, theo đó việc sao chép một tác phẩm có thể được coi là hợp lý, ví dụ, sử dụng tác phẩm trong lĩnh vực bình luận, phê bình, đưa tin, giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Luật bản quyền quy định bốn yếu tố để xác định việc sử dụng một tác phẩm cụ thể được coi là hợp lý hay bất hợp lý:
- Mục đích sử dụng tác phẩm vì thương mại hay vì đào tạo phi lợi nhuận;
- Mức độ nội dung của tác phẩm bị khai thác, sử dụng;
- Khối lượng và mức độ sử dụng liên quan đến tác phẩm nói chung;
- Ảnh hưởng của việc sử dụng đối với thị trường, tiềm năng của tác phẩm hoặc giá trị của tác phẩm.
Tuy nhiên, việc phân biệt giữa hành vi sử dụng hợp lý và hành vi vi phạm không phải bao giờ cũng được xác định rõ ràng. Các tòa án ở Hoa Kỳ đã coi những hành vi sau đây là hợp lý khi sử dụng tác phẩm:
- Trích dẫn một bài báo hoặc một lời phê bmh với mục đích minh họa hoặc để bình luận;
- Trích dẫn một đoạn ngắn của một tác phẩm khoa học hay kỹ thuật để minh họa hoặc làm sáng tỏ các nhận định của tác giả;
- Sử dụng lại một số nội dung của tác phẩm;
- Tóm tắt một bài phát biểu hoặc bài báo, với sự trích dẫn ngắn gọn, đưa tin;
- Tái bản một phần của tác phẩm để thay thế phần hư hại của tác phẩm;
- Sao chép một phần tác phẩm của giáo viên hoặc của sinh viên để minh họa cho bài giảng và sao chép một tác phẩm theo các thủ tục hay trong các báo cáo pháp lý hoặc tư pháp;
- Tình cờ hoặc ngẫu nhiên tái bản dưới hình thức phim thời sự, phát thanh về tác phẩm nằm trong bối cảnh một sự kiện đang được tường thuật.
Ngoài những trường hợp được coi là sử dụng hợp lý tác phẩm của tác giả đã đề cập ở trên, còn mọi việc sử dụng khác đều phải xin phép tác giả. Tại Hoa Kỳ, những thách thức khó khăn nhất do công nghệ mới gây ra do việc nó được sử dụng đã tạo ra những phương thức khai thác mới các tác phẩm đã được bảo hộ. Những thách thức khai thác mới này đã thường xuyên gây ra sự xáo trộn cho những thỏa thuận kinh doanh liên quan đến tác phẩm. Điều này phổ biến trong các trường hợp không xác định được giấy phép của tác giả hay giấy phép của người có quyền sở hữu tác phẩm có cho phép khai thác một sản phẩm theo những phương thức còn chưa có vào thời điểm cấp giấy phép. Vấn đề này đã được bàn cãi rất nhiều khi mà các máy thu thanh, vô tuyến truyền hình, máy vi tính, video - cassette và những phương tiện điện tử, bán dẫn tương tự được cho ra đời. Khi có sự xuất hiện các thiết bị thu âm thanh kỹ thuật số, các tác phẩm được lưu giữ trên đĩa compact là nguy cơ bị sao chép một cách không mấy phức tạp do công nghệ sao chụp nhiều lần hoàn hảo phục vụ cho nhu cầu cá nhân cũng như nhu cầu thương mại. Luật Bản quyền của Hoa Kỳ đã có những quy định về việc bảo vệ đặc quyền sao chép (bản quyền) của chủ sở hữu bản quyền bằng việc yêu cầu kiểm soát công nghệ đối với việc sao chép nhiều lần (hàng loạt) và đánh thuế các máy sao và băng trắng để bồi thường cho chủ sở hữu bản quyền đối với số lượng sao chép lậu.
Nhằm giải quyết thực trạng trên, xét ở phạm vi quốc tế thì giải pháp cho vấn để này được phản ánh trong nội dung của hiệp ước về bản quyền mới của WIPO (WCT). Nội dung của WCT quy định mở rộng quyền về truyền thông đã có trong Công ước Berne đối với một số loại tác phẩm thì nay đồng thời được áp dụng cho tất cả các tác phẩm. Những quy định của WCT là nguồn tác nhân kích thích cho sự phát triển hơn nữa các mạng kỹ thuật số để cho kỹ thuật này là một môi trường an toàn phục vụ cho việc khai thác các tác phẩm có bản quyền và tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi trong việc cấp giấy phép cho hoạt động khai thác đó. Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là các chủ sở hữu bản quyền không thể chỉ dựa vào các biện pháp công nghệ để bảo vệ tác phẩm của mình, một giải pháp hay công nghệ cho dù có hiện đại và phức tạp đến mức độ nào chăng nữa thì chúng đều có nguy cơ bị vô hiệu hóa bởi con người, đặc biệt là những người có chủ tầm truy cập tác phẩm.
Một số nước châu Âu không liệt kê chi tiết các quyền cụ thể như Luật bản quyền của Hoa Kỳ mà chỉ quy định có tính nguyên tắc chung. Điển hình là Luật Bản quyền của Cộng hòa Pháp, Điều 21 quy định: "Khai thác tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào được hưởng lợi ích kinh tế từ những hoạt động đó". Quyền khai thác này bao gồm nhân bản và biểu diễn.
+ Các quyền tài sản của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm.
Như ở phần trên chúng tôi đã nhận định quyền nhân thân của tác giả các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học là tiền đề của quyền tài sản. Quyền tài sản của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm phát sinh trongtrường hợp tác giả công bố tác phẩm, từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm.
Khi tác phẩm của tác giả được công bố, tác giả được hưởng tiền nhuận bút, được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử đụng. Lợi ích vật chất của tác giả còn được xác định từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức tác phẩm xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh, dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, cho thuê, nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả, trừ trường hợp tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ.
4. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả
Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Văn bản hợp nhất luật sở hữu trí tuệ số 07/VBHN-VPQH năm 2019) :
1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:
a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
c) Tác phẩm báo chí;
d) Tác phẩm âm nhạc;
đ) Tác phẩm sân khấu;
e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;
h) Tác phẩm nhiếp ảnh;
ĩ) Tác phẩm kiến trúc;
k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đổ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.
2. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.
3. Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
4. Chính phủ hưóng dẫn cụ thể về các loại hình tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này.
Theo quy định trên, chế độ nhuận bút được áp dụng cho tác giả, đồng tác giả đã lao động sáng tạo ra tác phẩm, công trình với việc tác giả được hưởng một khoản tiền nhuận bút khi tác phẩm của tác giả được sử dụng. Ngoài tác giả, những người được xác định là chủ sở hữu của tác phẩm cũng được hưởng tiền nhuận bút (chủ sở hữu tác phẩm là người thừa kế quyền tác giả).
Hai loại chủ thể trên là những người được hưởng tiền nhuận bút khi tác phẩm của tác giả được sử dụng. Những người được hưởng một khoản tiền thù lao do đã thực hiện các công việc có liên quan đến tác phẩm không phải là người hưởng tiền nhuận bút.
Những tác giả đã sáng tạo ra một trong các loại hình tác phẩm là những người được hưởng nhuận bút. Khoản nhuận bút mà tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm được hưởng được xác định theo 6 nhóm nhuận bút và tùy thuộc vào loại hình tác phẩm đó được xác định thuộc nhóm nào. Nhóm nhuận bút của loại hình tác phẩm được xác định:
- Nhuận bút cho tác phẩm sử dụng dưới hình thức xuất bản phẩm;
- Nhuận bút cho tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác;
- Nhuận bút cho tác phẩm điện ảnh, video;
- Nhuận bút cho tác phẩm báo chí (báo in, báo điện tử);
- Nhuận bút cho tác phẩm phát thanh, truyền hình (báo nói, báo hình);
- Nhuận bút cho tác phẩm tạo hình (mỹ thuật), mỹ thuật ứng dụng và nhiếp ảnh.
Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vự sở hữu trí tuệ bạn có thể sử dụng: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật qua email hay Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162, hoặc có thể Đặt lịch để gặp luật sư tư vấn trực tiếp tại văn phòng. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng phục vụ bạn./.